TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
DI SẢN THỪA KẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN HÀNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. LÊ MINH HÙNG – GV TRƯỜNG ĐH LUẬT TP. HCM
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
NHÓM TÁC GIẢ:
TRẦN HOÀNG NAM
LÊ THỊ KHÁNH LINH
2
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
LỜI MỞ ĐẦU
Di sản thừa kế là một phần rất quan trọng trong BLDS cũng như trong đời sống kinh
tế xã hội nước ta. Đây là yếu tố chính làm phát sinh và thực hiện các quan hệ dân sự
về thừa kế. Bài tiểu luận này nhằm mục đích nêu ra cái nhìn cơ bản về di sản thừa kế,
đồng thời cũng nhằm nêu ra những quan điểm của tác giả về loại tài sản đặc biệt này
và thực tiễn áp dụng của nó.
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS. Lê Minh Hùng,
GV bộ môn Luật Dân sự, đồng thời là trưởng bộ môn Luật Dân sự trường ĐH
Luật TP. HCM đã giúp cho nhóm tác giả hoàn thành bài luận này.
Nội dung bài luận được khái quát bao gồm:
I, Khái niệm di sản thừa kế: nêu lên các khái niệm về di sản thừa kế theo
7, Chương II. Về thừa kế, Nghị Quyết 02/2004/NQ – HĐTP ngày 10/8/2004.
8, Một số vấn đề trong thực tiễn xét xử cách tranh chấp về thừa kế (sách tham
khảo), Tưởng Duy Lượng, NXB Chính trị - Quốc gia.
4
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT:
BLDS – Bộ luật Dân sự Việt Nam
5
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
DI SẢN THỪA KẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
I. KHÁI NIỆM DI SẢN THỪA KẾ
1. Khái niệm về di sản
Theo Điều 634, BLDS 2005, “Di sản1 bao gồm tài sản riêng của người chết,
phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Ta thấy phần khái niệm di sản có đề cập về tài sản, vậy tài sản là gì?
Theo Điều 163, BLDS 2005, tài sản được quy định là “Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Các loại tài sản được quy định từ Điều 174 đến Điều 181, Chương XI, BLDS
2005 bao gồm: động sản và bất động sản; hoa lợi, lợi tức; vật chính và vật phụ.. và các
quyền tài sản.
Trong đó, về quyền tài sản, đặc biệt, về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
- Trong đó, tài sản ở đây bao gồm cả các quyền tài sản của người chết để lại.
2. Khái niệm di sản thừa kế
Thừa kế là việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của người chết cho người
thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Như vậy, di sản thừa kế là những di sản mà
người chết để lại cho những người thừa kế, có thể bao gồm một phần hay toàn bộ di
sản của họ.
2
Trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, khái niệm di sản được định nghĩa như sau:
Di sản là "Tài sản (tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các thu nhập hợp pháp khác) của người chết để lại, gồm:
những tài sản thuộc sở hữu của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác,
quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Người chết không những để lại các quyền về tài sản (như
quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ...) mà còn có thể để lại cả những
nghĩa vụ về tài sản (như phải trả nợ, phải trả công lao động hoặc bồi thường thiệt hại). Tuy nhiên, người thừa
kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi DS mà mình đã nhận được. Trong trường hợp vợ hoặc chồng chết
thì một nửa tài sản chung của vợ chồng thuộc về DS của người chết (được quy định tại điều 637 Bộ luật dân
sự)".
7
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Chúng ta đã xác định được thế nào là di sản, tuy nhiên, không nên đồng nhất hai khái
niệm di sản và di sản thừa kế với nhau bởi lẽ: Thứ nhất, không phải tất cả di sản của
người chết đều có thể được thừa kế. Vì lý do khách quan hay theo ý chí của người
chết khi để lại di sản mà trong một số trường hợp ta có thể thấy là không có di sản
thừa kế. Thứ hai, di sản thừa kế là một phần của di sản, nằm trong di sản chứ không
phải toàn bộ di sản đó. Vì thế nếu đồng nhất hai khái niệm với nhau sẽ dẫn đến sai
sản người chết để lại, nói cách khác, sau khi sử dụng hết tài sản để thực hiện nghĩa vụ
tài sản của người chết, ta coi như người chết không để lại di sản thừa kế (không có di
sản thừa kế).
3, Những người hưởng thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản của
người chết để lại4, qua đó sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để
lại, trừ trường hợp người nhận thừa kế tự nguyện.
4, Quan hệ thừa kế chỉ phát sinh khi người để lại di sản bị chết. Nói cách khác, di
sản xuất hiện khi người chủ sở hữu di sản của nó chết. Cái chết ở đây không chỉ là cái
chết về mặt sinh học mà còn có thể là cái chết về mặt pháp lý được quy định theo
pháp luật5.
5, Người hưởng thừa kế có quyền thừa kế tài sản do người chết để lại, theo di
chúc hoặc theo pháp luật. Mối liên hệ phụ thuộc giữa sở hữu và thừa kế, trong đó tài
sản được coi là di sản thừa kế khi nó thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp
pháp của người để lại di sản.
4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài
sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
4
Điều 642, BLDS 2005: Từ chối nhận di sản.
5
Điều 81, BLDS 2005: Tuyên bố một người là đã chết.
Khoản 2 Điều 82 BLDS 2005: Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã
chết. “Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài
sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.”
9
riêng của người chết, tr.157) cho rằng, tài sản riêng của người chết bao gồm:
10
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
-
Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất,không
hạn chế về số lượng và giá trị (trừ những tài sản pháp luật quy định không thể thuộc
-
sở hữu tư nhân).
Tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định căn cứ vào các quy định của pháp luật
hôn nhân và gia đình (Điều 32, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).
2, Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
-
Trong trường hợp nhiều người được thừa kế, được tặng cho một tài sản hay nhiều
người cùng nhau góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh ,... được xác định là sở hữu
chung đối với tài sản. Khi một người trong các chủ sở hữu đó đối với tài sản chung
này chết, thì phần tài sản của người đó trong tài sản chung này được coi là di sản thừa
-
kế.
Việc xác định phần của người chết trong tài sản chung với người khác dựa vào tỉ lệ
phần trăm góp vốn, vào sự thỏa thuận giữa các chủ thể,... cũng như hoa lợi, lợi tức thu
3, Các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
-
Đối với các quyền tài sản do người chết để lại, Bộ luật dân sự quy định những người
-
thừa kế có các quyền tài sản do người chết để lại kể từ thời điểm mở thừa kế.
Quyền tài sản do người chết để lại đó là các quyền dân sự phát sinh từ quan hệ hợp
đồng dân sự hoặc được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà trước thời điểm mở
11
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
thừa kế họ đã tham gia vào quan hệ này : quyền đòi nợ theo hợp đồng vay tài
-
sản,quyền yêu cầu bồi thường...
Đối với những quyền tài sản mà gắn liền với nhân thân của người chết chấm dứt kể từ
thời điểm mở thừa kế (tiền được cấp dưỡng, được trợ cấp).
Bên cạnh việc hưởng quyền tài sản pháp luật quy định người hưởng thừa kế có trách
nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản như nghĩa
vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,...
Trong trường hợp di sản chưa chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được
người quản lý thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế. Nếu di sản đã được
chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần tài sản mà
mình đã nhận.
Theo Điều 683, BLDS 2005, “Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên
quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
Phần di sản dành cho di tặng.
Phần di sản dành cho người hưởng di sản không phụ thuộc nội dung di chúc.
6
Điều 684, BLDS 2005. Phân chia di sản theo di chúc.
7
Điều 685, BLDS 2005. Phân chia di sản theo pháp luật.
8
Điều 670, BLDS 2005 quy định:
“1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó
không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc
thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người
thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để
thờ cúng. Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người
thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng. Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã
chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người
thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2.Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì
không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”
13
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
-
Phần di sản chia thừa kế.
Những thành phần trên cùng với phần di sản mà những người thừa kế nhận được như
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
tặng không nhất thiết phải là người thừa kế, hay nói cách khác, không cần phải là
người thừa kế (Ví dụ: bạn bè, ân nhân... của người chết..)
c, Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Được quy định tại Điều 669, BLDS 2005, đây là phần thừa kế dành cho những
người không thuộc nội dung di chúc của người chết, và những người này, dựa trên
một số tiêu chí đã được quy định tại Điều 669, BLDS 2005, được pháp luật bảo vệ.
Những người được hưởng di sản này sẽ được nhận suất thừa kế bằng hai phần ba suất
thừa kế của 01 người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp di sản phân chia theo
pháp luật, trừ trường hợp đã được ghi trong di chúc của người chết hoặc từ chối nhận
di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều
643, BLDS 2005).
Trong trường hợp có di chúc do người chết để lại, thì phần thừa kế dành cho
những người sẽ được tính dựa trên giả định chia di sản do người chết để lại cho những
người thừa kế theo pháp luật, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc sẽ
được hưởng hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật.
d, Phần di sản chia thừa kế
Về phần di sản chia thừa kế, có thể nói đây là phần di sản có thể nói là nhận
được sự quan tâm hàng đầu của những người thừa kế, bởi đây là phần di sản của
người chết mà họ được thụ hưởng (theo di chúc hoặc theo pháp luật). Đây là phần di
sản mà sau khi thanh toán xong tất cả nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại thì
những người thừa kế có quyền thụ hưởng.
Ở đây, trong trường hợp có di chúc hợp pháp do người chết để lại thì sẽ tiến
hành phân chia di sản dựa theo nội dung của di chúc, phần di sản dùng để phân chia
này chính là di sản chia thừa kế (sau khi thực hiện hoàn tất các nghĩa vụ về tài sản của
người chết để lại).
Trong trường hợp không có di chúc để lại hoặc di chúc không đúng theo quy định của
pháp luật thì sẽ tiến hành phân chia di sản theo quy định của pháp luật.
VI. THỰC TIỄN VỀ DI SẢN THỪA KẾ - THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN
chất vô cùng phức tạp. Trên thực tế, “việc xác định di sản thừa kế gặp rất nhiều khó
16
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
khăn và có không ít vướng mắc”9. Các tranh chấp về di sản thừa kế thường tập trung
vào các vấn đề sau:
-
Tranh chấp trong việc xác định di sản dành cho thờ cúng:
Tranh chấp về quyền sử dụng đất
Tranh chấp về phần tài sản được tặng cho
Tranh chấp do hiểu sai nội dung di chúc, xác định không đúng thời điểm di
-
chúc có hiệu lực
Tranh chấp giữa những người thừa kế với người quản lý di sản về thù lao quản
lý di sản
a, Tranh chấp trong việc xác định di sản thờ cúng
Dạng tranh chấp về di sản thờ cúng chủ yếu về người quản lý di sản thờ cúng,
nghĩa vụ của người quản lý di sản thờ cúng đó, liệu người quản lý phần di sản này có
quyền sở hữu đối với phần di sản mình nhận được nhằm phục vụ mục đích thờ cúng
hay không.. Trong BLDS 2005 hiện nay, ta chỉ quy định về phần di sản dành cho thờ
cúng tại Điều 670 mà chưa có những quy định cụ thể hơn để giải quyết những vướng
mắc có thể phát sinh dẫn đến tranh chấp của những người thừa kế đối với người quản
lý di sản cũng như việc xử lý người quản lý di sản thờ cúng vào mục đích khác.
Kiến nghị: nhằm đảm bảo quyền lợi cho những chủ thể liên quan, đặc biệt là
những người thừa kế. Trong trường hợp người chết bị lừa dối hay do nhầm lẫn, cần có
sự chứng minh cho điều đó và tiến hành theo quy định của pháp luật.
d, Tranh chấp do hiểu sai nội dung di chúc, xác định không đúng thời điểm di
chúc có hiệu lực
Thời điểm di chúc có hiệu lực theo quy định tại Khoản 1, Điều 667, BLDS
2005 là vào thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm mà người chết
để lại di sản. Tuy vậy, trong một số trường hợp đặc biệt, như mất tích hoặc không có
ai bên cạnh người đó lúc chết để chứng thực.. nên việc xác định thời điểm mở thừa kế
dễ dẫn đến những nhầm lẫn. Không chỉ thế, có thể còn có trường hợp cố ý làm sai
lệch thời điểm mở thừa kế nhằm trục lợi từ những người thừa kế hoặc các chủ thể liên
quan. Ngoài ra, việc không hiểu hoặc cố ý không hiểu đúng nội dung di chúc cũng dẫn
đến tranh chấp giữa những người thừa kế với nhau.
Kiến nghị: về việc xác định thời điểm di chúc có hiệu lực, trong trường hợp
không xác định được thì có thể dựa vào quyết định của Tòa án căn cứ theo Điều 81,
BLDS 2005 về việc Tuyên bố một người là đã chết. Ngoài ra, về việc hiểu sai nội
18
Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
dung của di chúc, những người thừa kế có thể tiến hành họp mặt thỏa thuận với nhau
để thống nhất về việc hiểu rõ nội dung di chúc. Trong trường hợp không thể thỏa
thuận thì hay không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì coi như không có di
chúc và việc chia di sản được áp dụng theo quy định về thừa kế theo pháp luật, tuy
nhiên, nếu chỉ có một phần nội dung không giải thích được mà không ảnh hưởng đến
các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực
(theo Điều 673, BLDS 2005).
e, Tranh chấp giữa những người thừa kế với người quản lý di sản
Tranh chấp giữa những người thừa kế với người quản lý di sản thường là về thù
lao cho người quản lý di sản, hoặc tính hợp pháp của người được giao nghĩa vụ quản
lý di sản. Mặt khác, tranh chấp có thể là về việc người quản lý di sản trên thực tế là