Vai trò của hệ thống chính trị cấp xã trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Pdf 37

Chuyên đề 3:
VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Hệ thống chính trị xã có vị trí vô cùng quan trọng, là nòng cốt trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp và nông thôn. Vai trò của hệ thống chính
trị ở xã bao gồm:
I. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở xã trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn
Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng của Đảng ở xã. Với vị trí là hạt nhân lãnh đạo hệ
thống chính ở xã, trong những năm qua, tổ chức cơ sở Đảng ở xã luôn khẳng định được vai trò
quan trọng của mình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp,
nông thôn. Tại Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương lần thứ 5 khóa IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã,
phường, thị trấn” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 17) đã đưa ra phương hướng về tiếp tục tăng
cường hệ thống chính trị ở nông thôn, trên cơ sở xác định rõ, rành mạch về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị trên địa bàn nông thôn, đồng thời xây
dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ tập
trung cho nhiệm vụ phát triển toàn diện nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Theo
tinh thần của Nghị quyết số 17, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng ở xã thể hiện cụ thể :
- Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, cần
nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm lo xây
dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các
tổ chức trong hệ thống chính trị hướng vào phục vụ nhân dân, đưa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến mọi người dân và tổ chức thực hiện tốt ở cơ sở,
phản ánh và giải đáp mọi tâm tư nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy trí tuệ và nguồn lực của
dân, không ngừng nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở cơ sở.
- Công tác phát triển đảng viên mới nhằm vào những người có lý tưởng cách mạng, lao
động giỏi (nhất là nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi), có đạo đức, lối sống lành mạnh, có uy
tín trong quần chúng và tích cực hoạt động trong hệ thống chính trị, có vai trò nòng cốt trong

đảng viên, cán bộ, công chức cơ sở, tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn, đi đôi với đổi mới nội
dung và phương thức hoạt động của chi bộ, đảng bộ và chính quyền cơ sở, Mặt trận tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân ở nông thôn hướng vào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy, thực
sự là hạt nhân lãnh đạo và toàn diện trên địa bàn nông thôn. Tập trung chỉ đạo thực hiện các
mặt công việc chính như:


+ Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, khơi dậy quyết tâm vượt qua khó khăn
vươn lên xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn ở mỗi địa phương.
+ Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn và thể hiện thành kế hoạch, chương trình hoạt động cụ thể của từng cấp ủy,
chính quyền cơ sở.
Qua khảo sát tại các địa bàn dân tộc miền núi, đa số những người được hỏi của các dân tộc
thiểu số đều chưa biết nhiều về các chủ trương, chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước đối với
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà hằng ngày liên quan đến gia đình và bản thân họ. Một trong
những nguyên nhân quan trọng của thực trạng này là cách thức tuyên truyền, phổ biến chủ trương,
chính sách của địa phương còn chưa hiệu quả. Vì vậy, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng trong việc tuyên
truyền, giáo dục và triển khai chủ trương, chính sách càng đặc biệt quan trọng:
+ Tổ chức xây dựng và thực hiện có chất lượng quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng, dịch
vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn.
+ Tổ chức công tác quản lý nhà nước về các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển
nông thôn, quản lý lao động, dân cư, thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đời
sống của nhân dân.
+ Tổ chức phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, xây dựng nếp sống mới, phòng chống tệ
nạn và gìn giữ trật tự xã hội.
+ Bảo đảm ổn định chính trị trên địa bàn nông thôn.
2. Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là chiến lược lâu dài. Để đạt được các mục
tiêu đã được đề ra nhằm tạo sự thay đổi mạnh mẽ ở khu vực này là nhiệm vụ rất lớn, tác động

Trưởng thôn) và công bố công khai kết quả bỏ phiếu tín nhiệm, kiến nghị miễn nhiệm những
người không đủ 50% số phiếu tín nhiệm, đã có tác dụng tốt đối với việc phát huy dân chủ, xây
dựng chính quyền cơ sở.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã đã phối hợp với chính quyền cải tiến nội dung và quy trình
tiếp dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo và bước đầu phối hợp với chính quyền triển khai xây
dựng và thực hiện Pháp lệnh dân chủ xã, phường và thị trấn nhằm thực hiện quyền dân chủ trực
tiếp của dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho công
cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
b) Hội Nông dân
Hội Nông dân là tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi của giai cấp nông dân của cả nước,
được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Hội Nông dân Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước
quan tâm lãnh đạo và tạo điều kiện để không ngừng lớn mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ
chức. Đặc biệt từ khi có chỉ thị số 59-CT/TW ngày 15 tháng 2 năm 2000 của Bộ Chính trị về
”Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” và Chỉ thị số 26-CT/TTg ngày 9/10/2001 của Thủ


tướng Chính phủ về ” Tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố
cáo của Hội Nông dân”, phong trào của Hội ở xã đã phát triển mạnh mẽ và có ý nghĩa thiết
thực. Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Hội Nông dân ở xã đã kịp thời có
những hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp, thể hiện là lực lượng hùng hậu không chỉ trong
đấu tranh giải phóng dân tộc mà cả trong đấu tranh chống đói, nghèo, lạc hậu. Hội đã thực sự
trở thành “chỗ dựa” của bà con nông dân và chính quyền cơ sở, đã làm tốt chức năng đại diện
hợp pháp của nông dân. Hội Nông dân đã phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn tín chấp cho nông dân vay vốn phát triển kinh tế; vận động nông dân đoàn kết, tương
trợ giúp nhau sản xuất kinh doanh; tham gia phong trào thi đua xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn và đã đạt được kết quả to lớn. Hội đã phối hợp với các cơ quan nhà nước mở cơ sở đào
tạo, bồi dưỡng giúp nông dân học nghề với nhiều phương thức khác nhau, dạy nghề tập trung
tại địa phương, làng, xã... cho nông dân, nhất là đối với Hội Nông dân ở vùng sâu vùng xa dân
tộc thiểu số để họ có thể phát triển mở mang sản xuất nông nghiệp, tham gia các hoạt động kinh

- Chính phủ cần có thể chế để Hội Nông dân Việt Nam có cơ sở pháp lý tham gia nhiệm
vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trực tiếp thực hiện các chương trình, dự án, tổ
chức các hoạt động khuyến nông. Khuyến nông, dạy nghề và hỗ trợ việc làm, chuyển giao các
tiến bộ khoa học kỹ thuật, tư vấn và hỗ trợ pháp lý, thông tin thị trường, tổ chức các dịch vụ về
vốn, giống vật tư nông nghiệp, tiêu thụ nông sản, tham gia công tác hòa giải, giải quyết khiếu
nại, tố cáo... giúp nông dân phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực
hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
c) Hội Phụ nữ
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức lớn mạnh nhất của phụ nữ Việt Nam với mục
đích hoạt động vì sự bình đẳng và phát triển của phụ nữ, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng, hợp pháp của phụ nữ. Hội được tổ chức thành bốn cấp: cấp xã; cấp huyện, cấp tỉnh; cấp
trung ương. Hội phụ nữ ở cấp xã được tổ chức theo hai mô hình: Ban chấp hành - Chi hội phụ
nữ - Tổ phụ nữ (mô hình này phù hợp với mô hình tổ chức của Đảng và các đoàn thể ở cấp cơ
sở) và Ban chấp hành - Tổ phụ nữ (mô hình này phù hợp với địa bàn hẹp, ít hội viên).
Trong quá trình CNH. HĐH nông nghiệp, nông thôn, Ban chấp hành - Chi hội phụ nữ ở
xã đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn các tổ chức, địa phương thực hiện Luật bình
đẳng giới, lồng ghép các yêu cầu bình đẳng giới trong mọi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội;
tăng cường sự tham gia và hưởng lợi của phụ nữ trong quá trình bàn bạc, quyết định, thực hiện
và giám sát các kế hoạch phát triển cộng đồng, địa phương. Đảng ủy chính quyền các cấp phải
khởi nguồn và hậu thuẫn vững chắc cho các đoàn thể thực hiện các đề án của họ, tham gia giải
quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn.


Bên cạnh đó, vai trò của Ban chấp hành - Chi hội phụ nữ ở xã còn thể hiện trong việc
vận động và phát huy các quan hệ truyền thống xây dựng cộng đồng nông thôn đoàn kết, gắn
bó. Tăng cường và phát huy các mối quan hệ, mối liên kết mang tính gia đình, dòng họ, làng xã
vốn có truyền thống lâu đời.
d) Hội Cựu chiến binh
Hội Cựu chiến binh ở xã có chức năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi
chính đáng của cựu chiến binh ở địa phương. Hội có vai trò tham mưu giúp cấp ủy Đảng và là

xây dựng Đảng thông qua việc tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về Đảng cho
Đoàn viên thanh niên; tham gia xây dựng chính quyền thông qua việc tham mưu, góp ý xây
dựng các chương trình, dự án phát triển, các dự án luật...
Trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, Đoàn đã phát động các chương
trình: Thanh niên giúp nhau lập nghiệp, tham gia phát triển kinh tế xã hội; Thanh niên ứng
dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thanh
niên nông thôn... Các hoạt động xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ vốn, ứng dụng công nghệ vào nông
nghiệp đã có nhiều chuyển biến tích cực. Thông qua các hoạt động này thanh niên gắn bó với
quê hương, lập nghiệp và làm giàu trên mảnh đất của mình, có trách nhiệm hơn với tổ chức
Đoàn, Hội, Đội, ý thức chính trị của Đoàn viên thanh niên được nâng cao.
II. Vai trò của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã trong quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn
1. Vai trò của Hội đồng nhân dân xã trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn
Hội đồng nhân dân xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là cơ quan
đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương.
Hội đồng nhân dân xã quyết định các biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, an toàn xã hội tại địa phương; quyết định các biện pháp phát triển
hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế; quyết định các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc và tôn
giáo, quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành pháp luật ở địa phương, quyết định những
vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân xã trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa
phương và quản lý địa giới hành chính.
Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, vai trò của Hội đồng nhân dân
được tăng cường đổi mới nhằm đáp ứng điều kiện thực tiễn, thể hiện cụ thể trong các hoạt động
sau:
- Giám sát hoạt động của cơ quan hành chính và những công việc do cấp trên thực hiện
trên địa bàn, nhất là việc sử dụng đất đai, quỹ công, tài sản công, kể cả các quỹ do dân đóng
góp; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.


- Các đại biểu Hội đồng nhân dân, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong các

ra nguy cơ làm cho nông thôn tụt hậu. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển khoa học công
nghệ, khủng hoảng lương thực và năng lượng toàn cầu tuy đem lại cơ hội để nông nghiệp nước ta


tiếp cận với thị trường, nguồn vốn, công nghệ mới nhưng cũng làm gia tăng áp lực cạnh tranh, biến
động thị trường.
Thời cơ và thách thức trên đặt ra vấn đề phải giải quyết đồng bộ có hiệu quả các vấn đề
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, củng cố phát triển hệ thống chính trị ở nông thôn tạo cơ
sở để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, thực hiện thành công mục tiêu
đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Tình huống 1:
Thôn A gồm 50 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số với khoảng 300 nhân khẩu sống gần khu rừng
tự nhiên. Do đất đai sản xuất nông nghiệp bạc màu, xói mòn; khu rừng trước đây họ được quyền khai
thác lâm sản đã bị Ban quản lý rừng phòng hộ cấm khai thác do đó là rừng đặc dụng được bảo vệ
nghiêm ngặt. Hậu quả là cuộc sống của 2/3 hộ dân đang lâm vào cảnh thiếu ăn, họ phải vào rừng khai
thác gỗ trái phép. Việc bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng gặp rất nhiều khó khăn. Vậy với vai trò là
những người làm công tác lãnh đạo ở xã, anh chị hãy vận dụng những kiến thức về quản lý kinh tế và
kiến thức về quản lý lâm sản ngoài gỗ ở xã xây dựng phương án thuyết phục cơ quan cấp trên chấp
thuận và được người dân ủng hộ đạt được mục tiêu đảm bảo đời sống cho cộng đồng và quản lí tài
nguyên rừng.
Tình huống 2:
Một dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo làm kinh tế gia đình bằng việc chăn nuôi dê đã tài trợ cho Hội Phụ
nữ xã X 20 con dê và tiền đầu tư chuồng trại (tổng số vốn được quy thành tiền là trên 50 triệu đồng).
Được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân xã, Hội Phụ nữ xã đã thành lập một Ban Quản lý dự án để triển
khai công việc này. Tuy nhiên, không hiểu Ban Quản lý dự án bàn bạc thế nào mà sau đó phần lớn số dê
và kinh phí được chia “nội bộ”: Bí thư Đảng uỷ xã, Xã Đội trưởng, Phó Chủ tịch xã và Chủ tịch Hội Phụ
nữ xã mỗi người 4 con, tiền chuồng trại chia nhau mỗi người 300.000 đồng. Bức xúc về sự việc trên, ông
Thanh, một hội viên của Chi hội Nông dân thôn 3 thuộc xã X tại cuộc họp Chi hội Nông dân đã đề nghị
Chi hội Nông dân thôn 3 đứng ra yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã làm rõ các vấn đề khuất tất của dự án do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status