MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT: Bảo vệ môi trường
CTNH: Chất thải nguy hại
CTR: Chất thải rắn
ĐDSH: Đa dạng sinh học
HST: Hệ sinh thái
KCN: Khu công nghiệp
KCX: Khu chế xuất
LVS: Lưu vực sông
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI
ĐƠN VỊ : Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế
Mã hoá: HS/7.5.1/01/08/KH-QT
Ban hành lần:
Hiệu lực từ ngày: / /2012
Trang / Tổng số trang: 5/38
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN &
MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
ĐƠN VỊ : Phòng Khoa học Công nghệ và
Hợp tác Quốc tế
Mã hoá: HS/7.5.1/01/04/KHQT
Ban hành lần:
Hiệu lực từ ngày: / /2012
Trang / Tổng số trang: 6/38
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Ảnh
Họ và tên: Bùi Ngọc Trâm
4x6
Sinh ngày:
20
tháng 9
năm
1994
Nơi sinh: Đoàn Đào - Phù Cừ - Hưng Yên
Lớp: ĐH2QM2
Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Môi trường
Địa chỉ liên hệ: Thôn Đoàn Đào – xã Đoàn Đào – huyện Phù Cừ - tỉnh Hưng
Yên.
Điện thoại: 0904 299 107
Email:
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến
nhiều tư tưởng thân thiện với môi trường, các tín đổ hay nhà sư trong xã hội hiện đại
cũng tỏ ra rất thức thời với các hoạt động bảo vệ môi trường.
Ở phạm vi rộng lớn hơn, các tổ chức Phật giáo trên khắp thế giới thể hiện sự
đóng góp đối với bảo vệ môi trường bằng những hành động thiết thực như bảo tồn
môi trường của các nhà sư ở Mông Cổ, điển hình là hoạt động bảo tổn loài báo tuyết
của các tu viện Phật giáo trên cao nguyên Tây Tạng, hay hoạt động tài trợ của Hiệp
hội bảo tồn truyến thống Phật giáo đại thừa (FPMT) cho các phong trào bảo vệ môi
trường dành cho trẻ em và thanh thiếu niên...; Phong trào sinh thái của đạo Phật ở
Thái Lan trong bảo tồn các khu rừng, lưu vực sông và động vật hoang dã cũng như
khắc phục hậu quả từ ô nhiễm môi trường đối với đời sống con người.
Thiên Chúa giáo có hệ thống giáo lý và kinh sách đồ sộ, trong đó bao hàm nhiều
tư tưởng gần gũi với môi trường. Các tổ chức Thiên Chúa giáo cũng tham gia hoạt
động bảo tổn thiên nhiên và đa dạng sinh học trên toàn cầu như tổ chức ROCHA với
các dự án nghiên cứu vẽ động vật hoang dã và giáo dục nâng cao nhận thức con người
về bảo tồn thiên nhiên; Tổ chức Mạng lưới về môi trường đạo Tin lành (HEN) vận
động tín đồ Thiên Chúa giáo Hoa Kỳ quan tâm đến bảo tổn thiên nhiên dựa trên
những lời răn dạy của Kinh thánh về vấn đề này...
Hiện nay trên thế giới có nhiều nghiên cứu, tài liệu về vai trò của tôn giáo trong
truyền thông môi trường. Một số nghien cứu tổng quan tiêu biểu như:
1. “Thế giới quan, Tông Giáo và Môi trường: Tuyển tập thế giới”
Tổng hợp bởi Foltz, Richard do Nhà xuất bản Wadswoth xuất bản năm 2003;
2. Các tác giả Tucker, Mary Evelyn và John Berthrong năm 1998 đã hoàn thành
nghiên cứu “Ngo giáo và Sinh thái học: mối tương giữa Đất, Trời và con người” xuất
bản bởi Nhà xuất bản Đại học Harvard;
3. “Tôn giáo và trật tự của thiên nhiên” do Nasr, Seyyed Hossein biên soạn năm
1996 xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Oxford với nội dung chính so sánh mối quan
1
liệu “Môi Trường và Phật giáo” trong Bộ Bách Khoa Tự Điển về Sinh Thái, Môi
Trường và Ô Nhiễm Môi Trường, tập 3, M.C.Chitakara (ed.), APH Publishing
Corporation, 1998; ( />
2
3. Hồng y Phạm Minh Mẫn với Trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường sống – Lá
thư Mục tử Tổng giáo phận Sài gòn, 28/5/2009;
( )
4. Tác giả Đàn Quang Tâm với bản dịch Mười điều răn về môi trường của Giám mục
Giampaolo Crepaldi; ( )
Lí do lựa chọn đề tài
• Hiện nay, Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế cũng như
văn hóa của ta phát triển muộn hơn so với các nước bạn, để bắt kịp tốc độ của các
nước khác trên thế giới, chúng ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước giúp cải thiện đời sống người dân lên rất nhiều; ngược lại với sự phát
triển kinh tế nâng cao mức sống của người dân trong những năm qua là thực trạng suy
thoái và ô nhiễm môi trường ở cả khu vực thành thị cũng như nông thôn ngày một
trầm trọng. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta quá dễ dàng để thấy
được hàng loạt những tin bài về vấn nạn này. Môi trường đất, nước, không khí đều
đang bị đe dọa nặng nề bởi chất thải sinh hoạt, chất thải từ quá trình sản xuất, chất thải
từ giao thông vận tải, từ xây dựng... hầu hết không qua hệ thống xử lí đảm bảo tiêu
chuẩn mà trực tiếp thải ra môi trường. Một nguyên nhân quan trọng của thực trạng này
là do ý thức môi trường còn yếu kém của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam,
cũng là kết quả sự thiếu hụt trong việc sử dụng các công cụ bảo vệ môi trường mà đặc
biệt là truyền thông môi trường. Để hoạt động truyền thông môi trường này đạt được
hiệu quả cao nhất, cần nắm được rõ đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội của đất nước.
• Năm 2009, tại Việt Nam có 15.651.467 người (chiếm 18,31% dân số cả nước)
xác nhận mình theo một tôn giáo nào đó, nhiều nhất là Phật giáo với 6.812.318 người
(chiếm 7,93% dân số cả nước), Công giáo với 5.677.086 người (chiếm 6,62% dân số
nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường thông qua tôn giáo.
•
Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu mức độ phổ biến của vấn đề môi trường được đưa vào nội dung thuyết
giảng tại một số chùa và nhà thờ trên địa bàn Hà Nội.
- Tìm hiểu mức quan tâm của cộng đồng tôn giáo (Phật giáo, Công giáo) đến vấn
đề môi trường, nhu cầu được tiếp cận với vấn đề này trong các bài thuyết giảng của Sư
thầy, Sư cô và Cha xứ.
- Tìm hiểu các phương thức, hình thức truyền đạt các vấn đề môi trường đến tín
đồ trong các tôn giáo, từ đó có tiền đề để đưa ra các giải pháp hợp lý trong truyền
thông môi trường.
Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
• Địa điểm
- Nhà thờ:
+ Nhà thờ Hàm Long (Hai Bà Trưng, Hà Nội)
+ Nhà thờ Thái Hà (Đống Đa, Hà Nội);
4
+ Nhà thờ Thụy Ứng (Đan Phượng, Hà Nội)
- Chùa:
+ Chùa Pháp Vân (Hoàng Mai, Hà Nội)
+ Quẩn thể Chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội)
Chùa Cả
Chùa Long Đẩu
• Thời gian: Từ 10/2014 đến 03/2015
• Đối tượng nghiên cứu:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ VAI TRÒ CỦA TÔN GIÁO TRONG HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG
1.1. Cơ sở lý luận
Khoản 1, Điều 3, Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu
tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con
người và sinh vật”
Như vậy có thể nói, con người từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành và khi về
cõi vĩnh hằng đều liên quan mật thiết, hữu cơ với môi trường sinh thái xung quanh (từ
đất, nước, không khí, ánh sáng, động vật... cho đến các điều kiện và cơ sở sản xuất,
hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội...)
Do đó mọi sự thay đổi, sự cố của môi trường đều liên quan trực tiếp hoặc gián
tiếp đến con người và sinh vật, ngược lại mọi haotj động, hành vi của con người đều
trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến môi trường.
Hoạt động BVMT tác động toàn diện đến tự nhiên, xã hội trong đó con người chi
phối, quyết định chất lượng môi trường. Tham gia BVMT là trách nhiệm, đạo lý và
tình cảm tự nhiên cần có của mỗi con người, vì đó chính là bảo vệ cuộc sống, môi
trường sống và không gian sinh tồn của mỗi con người, mỗi cộng đồng và môi quốc
gia, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội, thành phần dân tộc, tôn giáo.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt
của con người gây ra vẫn luôn là một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã
hội cả nước hàng ngày hàng giờ. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự
phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và
tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các
doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của toàn xã hội, không phân biệt địa vị xã hội,
thành phân dân tộc, tôn giáo.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển
kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo
vực khác. Ô nhiễm không khí còn gây những thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh
hưởng xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên và là một trong những nguyên nhân sâu xa của
vấn đề biến đổi khí hậu, gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, nước biển dâng, gia tăng các
hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt
Nam.
Trong những năm qua, công tác bảo vệ môi trường không khí tiếp tục được đẩy
mạnh và thu được những kết quả khá tốt. Hành lang pháp lý về bảo vệ môi trường
7
không khí đã và đang tiếp tục được hoàn thiện. Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về
môi trường không khí cũng đã đi vào hoạt động ổn định. Các ngành, lĩnh vực cũng đã
có những hoạt động cụ thể, đem lại những kết quả tích cực trong kiểm soát và bảo vệ
môi trường không khí. Đó là việc tăng cường quản lý hoạt động giao thông nhằm kiểm
soát và giảm thiểu các chất ô nhiễm phát thải vào không khí; từng bước kiểm soát và
khắc phục ô nhiễm từ hoạt động làng nghề, sản xuất công nghiệp; tiếp tục duy trì và
đẩy mạnh hệ thống quan trắc không khí tự động. Cũng trong giai đoạn này, việc triển
khai nhóm các giải pháp xanh (chi trả dịch vụ môi trường rừng, tăng trưởng xanh và
phát triển phát thải các bon thấp) cũng đã góp phần giảm thiểu lượng khí thải hiệu ứng
nhà kính, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập trong công tác quản lý đã tồn tại từ nhiều năm
nay nhưng chưa được giải quyết triệt để: vẫn thiếu các quy định đặc thù cho môi
trường không khí; tính hiệu quả, hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật chưa cao và
thiếu tính gắn kết. Đặc biệt, chưa thực hiện được việc kiểm soát khí thải tại nguồn,
cùng với đó là ý thức tuân thủ các quy định về BVMT của các chủ nguồn thải còn
kém. Các hạn chế này cũng là nguyên nhân khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường
không khí chưa có nhiều cải thiện trong thời gian qua.
1.2.2. Ô nhiễm môi trường nước
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội cùng với những ảnh hưởng của biến đổi khí
chế: thiếu thống nhất trong tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT nước; quản lý môi
trường nước theo LVS còn nhiều yếu kém; các Ủy ban bảo vệ môi trường LVS và
Văn phòng LVS chưa phát huy được vai trò; triển khai các quy hoạch BVMT LVS
còn chậm, thiếu quy hoạch phân vùng sử dụng nước, quy hoạch sử dụng nước của
các ngành còn chồng chéo; các công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ thông tin
chưa hiệu quả; xử lý nước thải chưa được quan tâm đúng mức cả về kinh phí đầu tư
và công nghệ, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Các hạn chế này cần được nghiên
cứu và khắc phục trong thời gian tới.
1.2.3. Vấn đề chất thải rắn và chất thải nguy hại
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, lượng chất thải rắn phát sinh tại
các đô thị, khu công nghiệp và cả ở các vùng nông thôn ngày càng gia tăng với thành
phần ngày càng phức tạp. Lượng chất thải rắn phát sinh tăng trung bình khoảng 10%
mỗi năm.
Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh từ các đô thị, 17% CTR
từ hoạt động sản xuất công nghiệp; CTR nông thôn, làng nghề và y tế chiếm phần
còn lại. Dự báo đến năm
9
2015, tỷ trọng này cho CTR đô thị và CTR công nghiệp sẽ còn tiếp tục tăng lên
tương ứng với các con số 51% và 22%. Theo mức độ độc hại, lượng CTNH chiếm từ
18-25% lượng CTR phát sinh của mỗi lĩnh vực.
Tỷ lệ thu gom CTR hiện nay đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu và mong muốn thực tế. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt, công nghiệp và
dịch vụ các khu đô thị, các KCN, KCX khoảng 80-82% (tỷ lệ này là 83-85% ở khu
vực đô thị và khoảng 40-55% ở khu vực nông thôn). Phần lớn CTR chưa được phân
loại tại nguồn, mà thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp. Công tác tái chế,
xử lý CTR nói chung và quản lý, xử lý CTNH nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu. Nhiều công trình xử lý CTR đã được xây dựng và vận hành, nhưng cơ sở vật
loài thực vật và lưỡng cư. Các loài sinh vật hoang dã của Việt Nam trong giai đoạn
vừa qua không chỉ tăng về số lượng loài bị đe dọa mà còn tăng cả về số lượng loài có
nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
• Nguy cơ biến mất những nguồn gen quý hiếm do không được bảo tồn hợp lý
Nhiều nguồn gen quý hiếm chưa được bảo tồn hợp lý, đặc biệt đối với các nguồn
gen vật nuôi, cây trồng truyền thống của địa phương. Một số loài vật nuôi hiện nay bị
lai tạp hoặc đã giảm đáng kể thậm chí mất hoàn toàn về số lượng. Một số loài cây
trồng biến mất do khả năng cạnh tranh kém hơn so với các loài ngoại lai.
1.2.5. Cạn kiệt các nguồn TNTN
Việc khai thác ồ át thiếu kiểm soát, không theo một quy hoạch nào đã dẫn đến
việc cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo cũng như vượt quá khả năng phục hồi của
các nguồn tài nguyên tái tạo. Hơn nữa việc BVMT trong quá trình khai thác TNTN
cũng chưa nhận được sự quan tâm thích đáng từ các cấp chính quyền, chủ đầu tư khai
thác cũng như những người trực tiếp thực hiện.
1.3. Cơ sở pháp lý
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến công tác BVMT, đã có nhiều
chủ trương, chính sách về công tác BVMT, đồng thời chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa
công tác BVMT.
+ Nghị quyết 41 của Bộ Chính trị ngày 15/11/2004 về “BVMT trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Nghị quyết đã đề ra những quan điểm chỉ đạo sâu sắc và toàn diện, trong đó nhấn
mạnh : “BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi
người, là biểu hiện của nếp sống văn hóa, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội
văn minh và là sự tiếp nối truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hòa với tự nhiên của
cha ông ta”.
11
Nghị quyết đánh giá tình hình, phân tích sâu sắc những yếu kém,khuyết điểm và
12
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Nâng cao
nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cán bộ lãnh đạo các
cấp về BVMT. Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT; xây dựng chế
tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường…”.
+ Luật BVMT của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số
55/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 23 tháng 6 năm 2013 nhấn mạnh:
Điều 6, Chương I của luật BVMT khuyến khích “Tuyên truyền, giáo dục và vận
động mọi người tham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên
nhiên và đa dạng sinh học”. Đối với lĩnh vực giáo dục vào phát triển nguồn nhân lực
hoạt động trong công tác BVMT, “Điều 155, Giáo dục về môi trường và đào tạo
nguồn nhân lực BVMT” đã nêu: “Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực BVMT,
khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực BVMT”.
Điều 155, Chương XVI về “Nguồn lực BVMT “ cho thấy mọi công dân Việt
Nam đều được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức
BVMT.
+ Quyết định số 1216/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/9/2012 về
“Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
Trong phần III, giải pháp tổng thể thực hiện Chiến lược nêu rõ giải pháp:
“1. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành,
doanh nghiệp và người dân trong bảo vệ môi trường
- Đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm mọi người dân, doanh nghiệp
hiểu đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật, yêu cầu, tiêu chuẩn, quy chuẩn về bảo
vệ môi trường; nhận thức đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ môi trường và có ý thức
thực hiện trên thực tế.
- Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục môi trường, biến đổi khí hậu trong các cấp học, bậc
học trong hệ thống giáo dục và đào tạo; mở rộng các chuyên ngành đào tạo về môi
trường, ưu tiên đào tạo các chuyên ngành có nhu cầu lớn trong xã hội.
lớp xã hội hướng tời mục tiêu chung vì sự phát triển đất nước. Điều này cũng thể hiện
sự tn trọng những điểm khác biệt để hướng tới điểm tương đồng.
- Truyền thống sống "Tốt đời đẹp đạo": Giữa hai mặt "Tốt đời" và "Đẹp đạo" có
mối quan hệ thống nhất và biện chứng với nhau. Đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội
ngày càng phát triển lành mạnh, đó là cơ sở và điều kiện để chăm lo hạnh phúc cho
toàn dân, trong đó có đồng bào có đạo, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào
tôn giáo sống đạo tốt hơn, tiến bộ hơn. Ngược lại, đồng bào tôn giáo sống "Đẹp đạo"
14
cũng chính là góp phần làm cho các giá trị đạo đức, văn hóa tót đẹp của tôn giáo mình
được phổ biến, nhân rộng và hiện thực hóa trong xã hội; làm cho khối đại đoàn kết
trong xã hội ngày càng được củng cố vững chắc hơn.
Khi "Đời tốt", tức là khi đời sống của nhân dân được nâng cao; vị thế, uy tín của
đất nước ta trên trường quốc tế được nâng cao thì uy tín và vị thế của các tổ chức tôn
giáo, cả chức sắc, nhà tu hành Phật giáo, Công giáo Việt Nam cũng được nâng cao.
Việt Nam là nước duy nhất được Châu Á tín nhiệm giới thiệu để bầu vào ghể Ủy viên
không thường trực HĐBA LHQ với 183 nước bỏ phiếu/190 nước (trong đó có 5 nước
không có quyền bỏ phiếu). Trong chuyến thăm chính thức Italia năm 2007, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã được mừi tới Tòa thánh Vatican để hội kiến với Giáo hoàng
Benedict XVI và hội đàm với Thủ tướng Vaticang, Hồng y Tarcisio Bertone.
Trong hội kiến, Giáo hoàng Benedict XVI đã chủ động đặt vấn đề thiết lập quan
hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam và đồng thời, Thủ tướng Vatican đã nhận định
"Việt Nam là một hình mẫu về tự do tôn giáo và phát triển cộng đồng".
- Đồng hành cùng dân tộc: là một truyền thóng quý báu của các tôn giáo Việt
Nam nói chung, của Phật giáo, Công giáo nỏi riêng qua suốt chiều dài lịch sử dựng
nước và giữ nước, cũng như trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước hiện nay. Phật giáo và Công giáo đã góp sức người, sức của cho các công
việc chung của đất nước cả trong kháng chiến lẫn tỏng hòa bình xây dựng và phát triển
các phong trào xã hội từ thiện và BVMT...
16
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG TRONG
PHẬT GIÁO VÀ CÔNG GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Quy định của giáo lý và giáo luật các tôn giáo
Các tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam, dù có giáo lý, giáo luật hay những quy
định khác nhau, nhưng điều trên hết vẫn là những lời răn dạy con người về sự yêu
thương lẫn nhau, sống từ bi, nhân ái, gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên, bảo vệ môi
trường sống, đồng thời hướng đến những gì tốt đẹp nhất của cuộc sống.
2.1.1 Giáo lý, giáo luật trong Phật giáo
Phật giáo không phải là một tôn giáo, Phật giáo là nền giáo dục trí tuệ chí thiện
viên mãn mà Phật Đà dành cho tất cả chúng ta. Phật Giáo bao gồm nhiều truyền thống,
phương pháp tu tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm,
thường được gọi là Phật-đà,Bụt-đà, Phật, hay Bụt, có nghĩa là "người tỉnh thức",
"người giác ngộ". Theo truyền thống Phật giáo cũng như các tài liệu khảo cổ đã chứng
minh, Phật đã sống và giảng đạo ở vùng đông Ấn Độ từ khoảng thế kỉ thứ 6 trước
Công nguyên đến thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên. Thích Ca Mâu Ni Phật là nhà giáo
dục xã hội văn hóa đa nguyên. Một đời Như Lai là dạy học, là một người thầy giáo của
tất cả mọi loài.
Đạo Phật là con đường giải quyết khổ đau (Tứ diệu đế). Giáo lý của Phật hướng
tới giải thoát và chấm dứt đau khổ cho con người, đem lại hạnh phúc cho loài người và
tất cả sự sống trên hành tinh. Đạo đức căn bản của con người được Đức Phật dạy bao
gỗm năm giới đức làm người ngũ giới (Giới đức hiếu sinh - yêu thương sự sống, Giới
đức thành thật, Giới đức chung thủy, giới đức ly tham, giới đức minh mẩn sáng suốt)
và mười điều lành - thập thiện (sống thuần thiện đến từng việc làm, lời nói, và ý nghĩ).
Tất cả mọi loài sinh ra đều mang trong mình sự sống và vì vậy, đều cần được tôn trọng
và bảo vệ. Đức Phật giáo hóa cho hàng đệ tử về ngũ giới cấm, một trong số đó là vấn
các loại sâu bọ, côn trùng. Đó vừa là minh chứng về tinh thần bác ái mà đạo Phật chủ
trương, vừa là hành động tích cực thể hiện tình yêu thiên nhiên và thái độ có trách
nhiệm đối với môi trường của mỗi người con Phật.
2.1.2. Giáo lý, giáo luật trong Công giáo
Theo Kinh Thánh, ngay từ khởi đầu, Thiên Chúa đã trao cho con người trách
nhiệm quản trịtoàn thể vạn vật để giúp muôn loài sinh sôi nẩy nở và phát triển hài hòa
(xem. Sáng Thế 1,26-30). Nhờ ủy thác này, nhân loại mạnh dạn khám phá và chế ngự
thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi để khoa học hình thành và phát triển. Qua khoa học
kỹ thuật, con người ngày càng mở rộng chủ quyền của mình trên toàn thể vũ
trụ. “Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, con người đã nhận lãnh trách nhiệm
18
chinh phục Trái đất cùng với tất cả những gì chứa đựng trong đó, quản trị vũ trụ
trong thánh thiện và công bằng”.
Tuy nhiên do Tín hữu quá nhấn mạnh về việc con người được dựng nên theo
hình ảnh của Thiên Chúa, nên hai vai trò ngôi vị và xã hội luôn được đề cao, trong khi
đó, vai trò môi trường của con người bị xem nhẹ thậm chí bị lãng quên. Con người đã
lạm dụng trách nhiệm làm chủ thiên nhiên của mình.
Vì thế trong mấy thế kỷ vừa qua, đặc biệt kể từ cuộc cách mạng công nghiệp từ
thế kỷ XVII, con người không những không tôn trọng những quy tắc nền tảng nói
trên, mà trái lại đã khai thác thiên nhiên một cách tùy tiện, ích kỷ và tàn bạo. Kết quả
bi thảm là đã phá vỡ mối tương quan hài hòa giữa con người với môi trường và đẩy
Trái Đất đến bờ vực thẳm của diệt vong! Càng cố gắng chinh phục và chế ngự Trái
Đất theo quan điểm duy kỹ thuật, con người càng ô nhiễm hóa vũ trụ và tạo nên những
gánh quá nặng cho môi trường. Thay vì cộng tác với Tạo Hóa để giúp thiên nhiên phát
triển hài hòa, con người đã “hành hạ” và “bức tử” thiên nhiên.
Trước đây, Giáo Hội chưa đề cập trực tiếp đến môi trường mà chỉ chú trọng đến
vấn đề con người với giáo lý dạy con người được quyền bá chủ mọi loài Tuy nhiên,