ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
NGÔ THỊ PHƯƠNG THOA
GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC NƯỚC TA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
NGÔ THỊ PHƯƠNG THOA
GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC NƯỚC TA
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Ngô Thị Phương Thoa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu.............................................................................. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 8
6. Đóng góp của đề tài ................................................................................ 9
7. Kết cấu của đề tài ................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ........................................................... 10
1.1. Vai trò của ổn định chính trị - xã hội đối với sự phát triển của đất nước..... 10
1.1.1. Quan niệm về ổn định chính trị - xã hội ...................................... 10
1.1.2. Sự cần thiết của ổn định chính trị - xã hội .................................. 14
1.2. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về giữ vững ổn định
chính trị - xã hội ....................................................................................... 23
1.2.1. Quan điểm của Đảng về giữ vững ổn định chính trị - xã hội ....... 23
1.2.2. Chính sách của Nhà nước về giữ vững ổn định chính trị - xã hội ......... 26
1.3. Các nhân tố tác động đến ổn định chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay.... 27
1.3.1. Nhân tố chính trị ......................................................................... 27
1.3.2. Nhân tố kinh tế............................................................................ 31
1.3.3. Nhân tố văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán ................... 32
1.3.4. Nhân tố an ninh, quốc phòng ...................................................... 35
1.3.5. Nhân tố quan hệ quốc tế ............................................................. 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ........................................................................... 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ
HỘI Ở CÁC TỈNH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC ............................................. 38
3.2. Một số giải pháp nhằm giữ vững ổn định chính trị ở các tỉnh biên giới
phía Bắc ................................................................................................... 82
3.2.1. Giải pháp giữ vững ổn định về tư tưởng chính trị ....................... 83
3.2.2. Giải pháp đảm bảo kết hợp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói
giảm nghèo, giữ vững quốc phòng – an ninh ....................................... 84
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ........................................................................... 90
KẾT LUẬN ................................................................................................. 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 93
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người qua
các năm của các tỉnh biên giới phía Bắc ....................................................... 51
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế các tỉnh biên giới phía Bắc ................................... 51
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc anh em, trong đó
dân tộc Kinh chiếm hơn 80% dân số cả nước. Vùng dân tộc thiểu số, miền núi
chiếm 2/3 diện tích cả nước. Hiện nay, khu vực miền núi phía Bắc vẫn còn là
vùng còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (đến cuối năm 2008, còn
gần 30% hộ nghèo – cao gấp 2 lần so với bình quân của cả nước); có 43/61
huyện thuộc diện có tỷ lệ hộ nghèo cao của cả nước; hàng năm thiên tai, địch
họa xảy ra nhiều đợt gây thiệt hại, mất mát lớn về người và tài sản... Phần lớn
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sống ở những nơi biên giới hải đảo, địa
bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh
thái. Đây là vùng có địa hình phức tạp, khí hậu thất thường gây khó khăn, trở
đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc. Các thế lực thù địch đã tuyên truyền
kích động tư tưởng hẹp hòi, ly khai, tự trị, phá vỡ khối đại đoàn kết các dân
tộc Việt Nam; kích động tư tưởng so sánh hẹp hòi giữa đồng bào miền xuôi
với đồng bào miền ngược, tạo sự đối lập giữa các dân tộc cùng sống và lao
động trên địa bàn, đối lập giữa đồng bào với chính quyền; kẻ thù không
ngừng cung cấp tiền của, phương tiện, nuôi dưỡng bọn phản động trong nước,
hoặc dưới danh nghĩa các tổ chức từ thiện móc lối với bọn phản động nhằm
mị dân, lôi kéo đồng bào dân tộc và miền núi; các loại hình văn hóa phẩm độc
hại không ngừng được tiêm nhiễm vào trong đồng bào dân tộc và miền núi,
kích động những phần tử chống đối, gây chia rẽ nội bộ trong nhân dân, gây
phức tạp về an ninh, trật tự.
“Đồng bào vùng biên cương luôn luôn là phên dậu của quốc gia” cho
nên trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương,
chính sách nhằm khuyến khích, động viên đồng bào các dân tộc thiểu số và
miền núi tập trung làm ăn, ổn định cuộc sống từng bước cải thiện đời sống
của nhân dân. Tuy nhiên trong việc thực hiện chủ trương chính sách, bên cạnh
2
những thành tựu đạt được vẫn còn những hạn chế. Để cho đời sống của đồng
bào các dân tộc và miền núi phía Bắc thực sự có cuộc sống không chỉ no ấm
về thể xác mà vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì
việc thực hiện công bằng trong phát triển là rất cần thiết. Thực hiện công bằng
trong phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, y tế, giáo
dục…. không những mang lại cuộc sống đầy đủ cho đồng bào, nâng cao trình
độ dân trí, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được đảm bảo… tạo ra sự
phát triển đồng đều trong cả nước, mà còn là nhân tố quan trọng trong việc
đánh bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị
- xã hội.
định chính trị - xã hội và vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp xã trong việc giữ
vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng.
Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của cá bộ lãnh đạo cấp xã trong
việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn hiện nay.
Nguyễn Văn Cư, Ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc đổi mới ở
Việt Nam, LATS Triết học, Hà Nội, 2002. Luận án đã trình bày lý luận và
thực tiễn về ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam. Những giải pháp nhằm
giữ vững ổn định chính trị xã hội nhằm đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vũ Văn Hiền, Một số vấn đề về mối quan hệ giữa ổn định xã hội và
công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta, LATS Triết học, Hà Nội, 2000. Tác
giả đã góp phần thống nhất về mặt nhận thức vị trí, vai trò và ý nghĩa của ổn
định xã hội đối với sự phát triển xã hội. Làm rõ tính biện chứng của mối quan
hệ giữa ổn định xã hội và công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đề xuất và phân tích
hệ giải pháp góp phần giải quyết có hiệu quả quan hệ giữa ổn định xã hội và
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.
4
Đã có những công trình nghiên cứu về vùng biên giới như:
Nguyễn Đức Bình, Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, Luận án Tiến sĩ Luật học,
Hà Nội, 2000. Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống thực trạng buôn
lậu, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép
hàng hóa, tiền tệ qua biên giới và để đề ra các giải pháp hữu hiệu cho cuộc
đấu tranh, hạn chế và từng bước đẩy lùi tệ nạn buôn lậu hoặc vận chuyển trái
phép tiền tệ qua biên giới.
Đặng Xuân Phong, Phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, LATS Kinh tế, Hà Nội,
của nhân dân các dân tộc trong bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới phía Bắc
nước ta hiện nay; Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của nhân
dân các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ chủ nghĩa an ninh biên giới phía Bắc
nước ta.
Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Cúc (2010), Cơ chế
chính sách đặc thù phát triển các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Nxb Khoa học Kỹ
thuật, Hà Nội. Các tác giả đã phân tích thực trạng cơ chế chính sách kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam
thời gian qua, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới cơ chế chính sách
kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc trong thời gian tới.
Hà Dũng Hải (2011), Ý thức xã hội vùng Tây Bắc Việt Nam và sự tác
động của nó đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng này hiện
nay, LATS Triết học. Luận án đã có những tìm hiểu về ý thức xã hội vùng
Tây Bắc từ góc độ triết học, tác động của nó đối với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá vùng Tây Bắc Việt Nam. Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải
pháp góp phần thúc đẩy những tác động tích cực của ý thức xã hội vùng Tây
Bắc đến năm 2020.
6
Các công trình nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quý giá cho tôi và
những ai nghiên cứu về vùng biên giới nói chung và các tỉnh biên giới phía
Bắc nói riêng. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một bức tranh tổng quan về đời
sống kinh tế - xã hội, an ninh biên giới nói chung và biên giới phía Bắc nói riêng.
Hơn thế nữa, đó cũng chỉ là ý kiến đơn lẻ, trong các bài viết ngắn, phân
tán hay những ý kiến đánh giá, nhìn nhận vấn đề dưới những góc độ tiếp cận
khác nhau của từng tác giả. Do vậy việc nghiên cứu vấn đề này cần phải nhìn
nhận, tiếp cận không chỉ dưới góc độ triết học, lịch sử, xã hội học, luật học…
mà phải nhìn nhận dưới nhiều góc độ tiếp cận, tiếp tục mở rộng và đi sâu hơn
nữa. Quá trình tồn tại và phát triển của từng vùng khác nhau trong cả nước có
- Đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục giữ vững ổn định chính trị xã hội ở các tỉnh biên giới phía Bắc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tình hình ổn định chính trị - xã hội ở 7 tỉnh biên
giới Phía Bắc.
4.2..Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tình hình giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở 7
tỉnh biên giới phía Bắc gồm: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang,
Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu.
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng ổn định chính trị - xã hộ từ năm
2000 đến nay và đề xuất quan điểm, giải pháp tiếp tục giữ vững chính trị - xã
hội đến năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về
vấn đề đoàn kết, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã
8
hội. Đồng thời, tác giả cũng kế thừa có chọn lọc thành tựu lý luận, những kết
quả nghiên cứu, công trình có liên quan của những người đi trước gắn với
việc xem xét thực tiễn đời việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở các tỉnh
biên giới phía Bắc nước ta hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước Việt Nam.
Luận văn sử dụng các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa
vận động, phát triển. Trạng thái ổn định nhất thời của sự vật có hai mặt:
khẳng định và phủ định. Hai mặt này có sự tác động qua lại biện chứng với
nhau, đảm bảo cho sự vật vận động, phát triển trong trạng thái “vừa là nó” lại
“vừa không phải là nó”. Trạng thái ổn định tương đối biểu hiện của một trạng
thái vận động, trạng thái cân bằng tạm thời của sự vật trong quá trình vận
động của nó. Nhờ trạng thái ổn định tương đối mà sự vật mới thực hiện được
sự biến đổi tiếp theo. Không ổn định thì không có phát triển nhưng không
phát triển thì cũng khó duy trì được ổn định lâu dài và vững chắc.
Nói đến ổn định là nói đến trạng thái đối lập với rối loạn, khủng hoảng.
Đồng thời trạng thái ổn định này cũng xa lại với sự tĩnh lặng hoàn toàn hay
bất biến, cố định tuyệt đối. ổn định không làm triệt tiêu hay kìm hãm sự vận
động, phát triển mà có quan hệ mật thiết với vận động, phát triển. Mặt ổn
định của sự vật là điều kiện để sự vật tự khẳng định, tự định hình, đồng thời
là môi trường tốt để cho các thuộc tính, các mặt bên trong sự vật tiến hành
quá trình chuyển hóa biến đổi. Nhờ có trạng thái ổn định, sự vật trong quá
trình vận động sẽ biến đổi từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ mức độ bấp
bênh, không chắc chắn đến mức độ bền vững.
10
Như vậy, ổn định và biến đổi vừa là tiền đề, là điều kiện cho nhau, vừa
là nhân và quả cho nhau, là thể hiện mối quan hệ giữa vận động và đứng im.
Như vậy, ổn định chỉ một trạng thái của tự nhiên, xã hội, tư duy trong
quá trình vận động và phát triển của sự vật. Xét cả về thực tiễn và lý luận thì
ổn định mang tính tương đối vì nó chính là sự vận động trong những mâu
thuẫn, trong sự thống nhất của các mặt đối lập và cũng là sự thống nhất tương đối.
Ổn định chính trị - xã hội, cũng vậy, không phải là trạng thái đứng yên,
trì trệ mà là trạng thái động, phát triển. Đó là trạng thái của quá trình thường
xuyên giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh về chính trị - xã hội, về kinh tế,
Trong các văn kiện chính trị của Đảng như Nghị quyết đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX, X, XI Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị
lần thứ VII Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX, … thuật ngữ "ổn định
chính trị - xã hội" được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa
đầy đủ thuật ngữ này.
Trạng thái vừa giữ được ổn định chính trị, vừa giữ được ổn định xã hội
sẽ tạo ra trạng thái giữ vững "ổn định chính trị - xã hội". Giai cấp công nhân
giữ được ổn định chính trị ở việc giai cấp công dân duy trì và tăng cường vai
trò lãnh đạo của mình đối với xã hội bằng việc tăng cường chuyên chính vô
sản thực hiện sức mạnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân
giữ vững được ổn định xã hội ở việc: Do lợi ích của giai cấp công nhân thống
nhất với lợi ích của dân tộc, thống nhất với lợi ích với đại đa số nhân dân lao
động nên xã hội không còn đối kháng lợi ích. Xung đột xã hội không phải là
xung đột của lợi ích đối kháng. Xã hội về cơ bản là thống nhất lợi ích nên có
thể giữ vững ổn định xã hội. Tất nhiên những sự khác biệt giai cấp vẫn còn,
những cuộc đấu tranh xung đột trong xã hội vẫn còn nhưng những xung đột
này không gây ra mất ổn định xã hội.
12
Ta có thể khẳng định: Ổn định chính trị - xã hội là một trạng thái của xã
hội xã hội chủ nghĩa, trong đó, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được duy trì và tăng cường trên tất cả các
mặt hoạt động cơ bản của xã hội, đảm bảo cho xã hội luôn luôn có sự thống
nhất về lợi ích, đảm bảo cho xã hội giữ được nền nếp, kỷ cương và phát triển
trong sự cân đối, hài hòa.
Nếu theo định nghĩa này thì ở xã hội có áp bức bóc lột, khi giai cấp
thống trị đang lên, đang là giai cấp tiên tiến thì có thể tạo ra và giữ vững ổn
định chính trị - xã hội trong một khoảng thời gian nào đó. Thí dụ như giai cấp
chính trị - xã hội ở mỗi nước cũng có nét đặc thù riêng. Ổn định chính trị - xã
hội ở nước ta cũng có những nét riêng. Ổn định chính trị - xã hội ở nước ta
tiếp thu những tư tưởng chính trị - xã hội quý báu của dân tộc. Đó là tính
cộng đồng "bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác dậu nhưng chung một
giàn", "Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", "Trong ấm ngoài êm", "Nước
mất nhà tan". Đó là đường lối trị nước của các anh hùng dân tộc: Lấy dân làm
gốc, coi trọng chữ "Hòa", "Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn", đặt quyền lợi của
Tổ quốc lên trên hết. Đó là sự chịu đựng trong khó khăn, lòng bao dung trong
xử thế của người Việt Nam, đó là khát vọng về sự yên ổn để làm ăn sinh
sống, khát vọng hòa bình bởi đất nước luôn luôn phải tự vệ để tồn tại. Những
truyền thống này đã làm cho ổn định chính trị - xã hội ở nước ta có sắc thái
riêng, có độ vững bền và phát triển có sắc thái riêng, có độ vững bền và phát
triển vững chắc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1.1.2. Sự cần thiết của ổn định chính trị - xã hội
1.1.2.1. Ổn định chính trị - xã hội là tiền đề phát triển đất nước
14
Thực tế lịch sử ở nước ta và nhiều nước trên thế giới chứng minh rằng:
Khi đất nước yên bình, dưới trên đồng thuận, chính trị - xã hội ổn định đó là
điều kiện, tiền đề để đất nước phát triển, nhân dân được yên ổn, ấm no.
Ngược lại, khi nào rối loạn, xung đột về chính trị - xã hội thì nước không yên,
kinh tế không phát triển, thậm chí có thể mà kéo theo sự đổ vỡ cả chế độ
chính trị - xã hội, tàn phá cả những thành quả đã đạt được. Giữ vững ổn định
chính trị - xã hội không phải là giữ nguyên, mà là sự ổn định trong sự vận
động, phát triển, không phải là sự ổn định của sự bảo thủ, trì trệ, mà là ổn
định gắn với tăng trưởng, phát triển theo chiều sâu và vì con người, phát triển
bền vững; ổn định phải gắn với đổi mới nhằm khắc phục những khiếm
khuyết, hạn chế, đẩy lùi nguy cơ dẫn đến bất ổn định. Vấn đề ổn định chính
nghĩa xã hội.
Thứ ba: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong xu thế
hòa nhập với cộng đồng quốc tế; vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn
hóa nhân loại, vừa gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Thứ tư: Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm
theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực; tất cả vì con người; từng bước theo tiến trình lịch sử "từ vương
quốc tất yếu sang vương quốc tự do".
Thứ năm: Các dân tộc trong nước đều bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ
lẫn nhau cùng tiến bộ. Đảng ta đã đề ra chính sách đại đoàn kết các dân tộc
trong đại gia đình Việt Nam, trong ngôi nhà chung là Tổ quốc, không phân
biệt miền ngược, miền xuôi, không phân biệt dân tộc lớn, dân tộc nhỏ...
Thứ sáu: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước
có chế độ chính trị khác nhau trên, chủ động hội nhập vào đời sống thế giới
16
ngày nay. Hiện chúng ta đã đặt quan hệ ngoại giao với trên 165 nước và các
vùng lãnh thổ. Đặc biệt, hội nghị nguyên thủ các quốc gia của 37 nước
ASEM 5 vào tháng 10-2004 vừa qua là bằng chứng hùng hồn về chính sách
quan hệ hữu nghị của nước ta với tất cả các nước trên thế giới, thể hiện uy tín
và vị thế Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế.
Đó là những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa do Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn, là con đường duy nhất đúng để chúng ta xác định rõ định
hướng XHCN trong từng chặng đường, từng bước đi thích hợp.
Bài học của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu giúp Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn luôn coi giữ ổn định chính trị xã hội là nhiệm vụ hàng đầu.
Sau 15 đổi mới, nước ta đã có những bước tiến vững chắc,cơ bản nước