Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
Lời mở đầu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế
dang phát triển, sự ra đời của các doanh nghiệp sản xuất trẻ và đầy triển vọng
góp phần cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt.
Muốn tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường,việc đầu tiên doanh
nghiệp phải quản lí chăt chẽ chi phí sản xuất với chi phí bỏ ra là thấp nhất thu
được lơị nhuận cao nhất. Thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
sẽ giúp cho các nhà quản lí phân tích, đánh giá được tình hình sử dụng lao
động, vật tư, tiền vốn … có hiệu quả hay không, tiết kiệm hay lãng phí, từ đó
đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ thấp giá
thành sản phẩm tạo điều kiện cho sản phẩm sản xuất có tính cạnh tranh cao.
Chính vì vậy việc tổ chức tốt công tác quản lí nói chung và công tác tập hợp
chi phí sản xuất nói riêng là một yêu cầu bức thiết đối với các doanh nghiệp
hiện nay.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác quản lí chi phí và giá thành
sản phẩm của Công ty, qua thời gian thực tập được sự chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình của cô giáo Trương Thị Thuỷ và cán bộ Phòng Tài chính- Kế toán
trong Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Vinaconex em
đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần đầu tư
xây dựng và phát triển hạ tầng Vinaconex 34”
Luận văn của em gồm ba chương:
Chương I : Những vấn đề lí luận chung về quản lí chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp .
Chương II : Thực trạng về hạch toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển hạ
tầng Vinaconex .
của ngành xây dựng đóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng
để đưa chúng vào hoạt động.
Công trình xây dựng là sản phẩm cuối cùng của công nghệ xây lắp gắn
liền với đất ( bao gồm cả khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa)
được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động. Nó bao gồm một
hoặc nhiều hạng mục công trình nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ và
hoàn chỉnh để làm ra sản phẩm cuối cùng nêu ra trong dự án khả thi.
Theo “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” hiện hành, quá trình hình
thành công trình xây dựng được chia thành ba giai đoạn như: giai đoạn chuẩn
bị đầu tư ( lập dự án khả thi và ra quyết định đầu tư xây dựng công trình).
Giai đoạn thực hiện đầu tư (thiết kế, lập dự toán, giải phóng mặt bằng, thi
công xây lắp công trình). Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai
thác sử dụng ( bàn giao công trình, quyết toán vốn đầu tư...)
Khác với các ngành sản xuất vật chất khác, ngành xây dựng có nhiều
SV : Hoàng Thị Hồng
2
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
đặc điểm riêng biệt, những đặc điểm này xuất phát từ đặc thù của sản phẩm
ngành xây dựng và quản lý kinh tế tài chính trong ngành xây dựng. Các đặc
tính đó là: sản phẩm xây dựng có tính chất cố định, thời gian sử dụng lâu dài,
có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng công trình thường dài,
sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng. Ngoài ra, hoạt
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
đường lớn có địa hình thi công phức tạp, xây dựng các nhà ga, sân bay, bến
cảng, nhà cao tầng,...
Tuy nhiên, trong ngành xây dựng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là
trong quản lý về mặt chất lượng công trình, trong việc quản lý vốn đầu tư của
Nhà nước. Tình trạng nhiều công trình xây dựng chất lượng kém vẫn được
nghiệm thu, nhiều công trình giá thành xây dựng cao vẫn còn khá lớn. Việc
quản lý vốn xây dựng còn có nhiều kẽ hở nên dẫn đến thất thoát vốn của Nhà
nước đang còn là vấn đề bức xúc hiện nay. Công tác quy hoạch xây dựng còn
bị động, việc không chấp hành các chính sách và các quy định của Nhà nước
về xây dựng còn khá phổ biến.
Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước trực tiếp quản lý giá xây lắp
thông qua ban hành chế độ, chính sách về giá, các nguyên tắc, phương pháp
lập dự toán, các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá xây dựng, tỷ suất
vốn đầu tư...), tổng dự toán công trình và dự toán hạng mục công trình.
Để đảm bảo thi công đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất
lượng công trình… với chi phí hợp lý thì các doanh nghiệp xây dựng phải có
biện pháp quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp chặt chẽ,
hợp lý và hiệu quả.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phương
pháp đấu thầu, giao thầu xây lắp. Vì vậy, để được trúng thầu thi công một
công trình thì doanh nghiệp phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình
đó dựa trên cơ sở định mức, giá cả xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất đã được xác định, cung cấp kịp thời thông tin,
số liệu tổng hợp về các khoản mục chi phí sản xuất, xác định đúng đắn chi phí
sản xuất dở dang đầu kỳ, cuối kỳ.
- Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công
trình, hạng mục công trình, kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và
giá thành công tác xây lắp. Tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định
mức chi phí, dự toán tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, phát hiện khả
năng tiềm tàng, đề xuất các biện pháp thích hợp phấn đấu không ngừng tiết
kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm xây dựng. Phát hiện kịp thời
các khoản chênh lệch so với định mức, dự toán, các khoản chi phí ngoài kế
hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng… trong sản xuất và đề ra các
biện pháp ngăn chặn kịp thời.
1.2. Chi phí sản xuất và tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
dựng cơ bản
1.2.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
xây dựng cơ bản
1.2.1.1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản
Quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng là quá
trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích yếu tố đầu vào tạo thành công
trình, hạng mục công trình, lao vụ nhất định.
SV : Hoàng Thị Hồng
5
K41/21.13
Học viện tài chính
thuê ngoài phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp như chi phí điện thoại,
điện, nước, chi phí thuê máy…
SV : Hoàng Thị Hồng
6
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí phát sinh trong hoạt động
sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí kể trên.
Phân loại theo cách này có tác dụng cho biết kết cấu, tỷ trọng từng loại
chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài
chính( phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố) giúp cho việc xây dựng
kế hoạch, định mức về vốn lưu động trong các thời kỳ và là tài liệu quan
trọng làm căn cứ xác định mức tiêu hao vật chất, thu nhập quốc dân.
1.2.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí
kết hợp với cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối
quan hệ và khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán
chi phí
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng được phân chia thành
chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc sản
xuất một loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một địa điểm nhất định và
hoàn toàn có thể hạch toán trực tiếp cho sản phẩm, công việc, lao vụ đó. Chi
lao vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối
tượng bằng phương pháp phân bổ gián tiếp. Thuộc loại chi gián tiếp là chi
phí sản xuất chung.
1.2.1.2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục giá thành công tác
xây lắp
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
được chia thành:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Nội dung phần đã được trình bày ở
phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, không bao gồm chi phí vật liệu sử dụng
cho máy thi công.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Nội dung phần này đã được trình bày ở
phần chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm chi phí nhân công sử dụng
máy thi công.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Gồm các chi phí liên quan đến sử dụng
máy thi công như chi phí thuê máy, chi phí khấu hao cơ bản, chi phí sửa chữa
lớn, chi phí sửa chữa thường xuyên máy móc thiết bị thi công, tiền lương cho
công nhân sử dụng máy thi công… Chi phí sử dụng máy thi công được chia
thành hai loại:
+ Chi phí thường xuyên: Là những chi phí phát sinh trong quá trình sử
dụng máy thi công, được tính thẳng vào giá thành ca máy như: tiền lương
công nhân trực tiếp điều khiển hay phục vụ xe máy, chi phí về nhiên liệu,
động lực, vật liệu dùng cho xe máy thi công, khấu hao và sửa chữa thường
xuyên xe máy thi công, tiền thuê xe máy thi công...
+ Chi phí tạm thời: Là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian
sử dụng máy thi công như: chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi
công khi di chuyển từ công trường này đến công trường khác; chi phí về xây
dựng, tháo dỡ những công trình tạm thời loại nhỏ như lều lán phục vụ cho sử
SV : Hoàng Thị Hồng
công trường xây dựng.
1.2.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và nguyên tắc hạch toán chi
phí sản xuất
1.2.2.2.1. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là một phương pháp hoặc một hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản
SV : Hoàng Thị Hồng
9
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
xuất theo các yếu tố và các khoản mục trong phạm vi, giới hạn của đối tượng
tập hợp chi phí.
Hiện nay hai phương pháp tập hợp chi phí sau được áp dụng:
- Phương pháp tập hợp trực tiếp:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất có liên
quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt. Do đó,
có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng
riêng biệt.
Theo phương pháp này chi phí sản xuất phát sinh trực tiếp cho từng
đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo độ chính xác cao. Vì vậy, cần sử dụng tối
đa phương pháp này trong điều kiện có thể cho phép.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp:
SV : Hoàng Thị Hồng
10
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
chịu chi phí và việc sử dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo kê khai
thường xuyên hay kiểm kê định kỳ.
1.2.2.2.2. Nguyên tắc hạch toán chi phí sản xuất
Để đảm bảo tính thống nhất, các doanh nghiệp xây dựng thực hiện
nguyên tắc hạch toán chi phí vào giá thành sản phẩm xây lắp theo quy định
chung của chế độ tài chính kế toán hiện hành.
Theo chế độ quy định về hạch toán hiện nay, chỉ tính vào giá thành sản
phẩm xây lắp những khoản chi phí cơ bản, trực tiếp ( Chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công...) và chi
phí sản xuất chung ( chi phí quản lý đội, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng
chung cho đội, chi phí dịch vụ mua ngoài…).
Chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng (nếu có ) không
được hạch toán vào giá thành sản phẩm xây lắp mà hạch toán vào TK 642 Chi phí quản lý doanh nghiệp và TK 641- Chi phí bán hàng, cuối kỳ kết
chuyển sang TK 911- Xác định kết quả kinh doanh.
Những khoản chi phí khác như: Chi phí đầu tư, chi phí hoạt động tài
chính, chi phí về các khoản chi bất thường, các khoản chi có nguồn bù đắp
riêng, có tính chất phân phối lại… không hạch toán vào chi phí sản xuất và
không tính giá thành. Cụ thể như sau:
1. Nguyên tắc hạch toán chi phí nguyên vật liệu vào giá thành sản
công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc về lao động và tiền lương. Trong
điều kiện sản xuất xây lắp không cho phép tính trực tiếp cho phí nhân công
cho từng công trình, hạng mục công trình thì kế toán phải phân bổ chi phí
nhân công trực tiếp cho các đối tượng theo tiền lương định mức hay giờ công
định mức.
- Các khoản chi phí trích theo tiền lương phải trả của công nhân trực
tiếp xây lắp ( bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) được tính
vào chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp.
3. Nguyên tắc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công vào giá thành
sản phẩm xây lắp:
- Hạch toán sử dụng máy thi công phải phù hợp với hình thức quản lý
sử dụng máy thi công của doanh nghiệp thông thường có 2 hình thức quản lý,
sử dụng máy thi công: tổ chức máy thi công riêng biệt chuyên thực hiện các
khối lượng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội xí nghiệp
xây lắp.
+ Nếu doanh nghiệp xây lắp tổ chức đội máy thi công riêng biệt và đội
máy có tổ chức kế toán thì chi phí sử dụng máy và giá thành của ca hoặc khối
lượng do máy đã hoàn thành được hạch toán giống như bộ phận sản xuất phụ.
Chi phí sử dụng máy thi công tính cho các công trình, hạng mục công trình
có thể tính theo giá thành thực tế của ca máy hoặc khối lượng do máy đã hoàn
thành hay tính theo giá khoán nội bộ.
SV : Hoàng Thị Hồng
12
K41/21.13
Học viện tài chính
1.2.2.3.1. Hệ thống chứng từ
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp sử dụng
nhiều chứng từ theo mẫu quy định của Bộ Tài Chính ban hành theo Quyết
SV : Hoàng Thị Hồng
13
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
định số 1864/1998/QĐ- BTC ngày 16/12/1998 của Bộ tài chính, và quyết
định 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
- Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng phiếu nhập
kho, bảng kê nhập vật tư, phiếu xuất kho, bảng kê xuất vật tư, bảng phân bổ,
hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ, phiếu lĩnh vật
tư theo hạn mức, phiếu chi…
- Kế toán chi phí nhân công trực tiếp sử dụng bảng chấm công, bảng
thanh toán lương, phiếu giao nhận sản phẩm, hợp đồng giao khoán, phiếu báo
làm thêm giờ, phiếu thu, phiếu chi, bảng kê khối lượng công việc hoàn
thành...
- Kế toán chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung: tuỳ
vào các chi phí đã phát sinh thuộc loại chi phí vật liệu, khấu hao, dịch vụ mua
ngoài hay chi phí nhân công…mà sử dụng các chứng từ đã nêu trên.
1.2.2.3.2. Tài khoản sử dụng
* Kế toán chi phí sản xuất xây lắp theo phương pháp kê khai thường
xuyên, kế toán sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
thủ công, vừa kết hợp bằng máy và cuối kỳ kết chuyển sang TK 154.
Tài khoản này có 6 tài khoản cấp II:
TK 6231: Chi phí nhân công
TK 6232: Chi phí vật liệu
TK 6233 : Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6234: Chi phí khấu hao
TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6238 : Chi phí bằng tiền khác
+ TK 627 - Chi phí sản xuất chung.
Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng gồm: lương nhân viên quản lý đội xây dựng, khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định theo tiền lương phải trả cho công
nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý
đội; vật liệu, dụng cụ, khấu hao TSCĐ dùng chung cho cả đội và những chi
phí khác liên quan đến hoạt động của đội xây dựng, công trường.
Tài khoản 627 có 6 tài khoản cấp II:
TK 6271 : Chi phí nhân viên
TK 6272 : Chi phí vật liệu.
TK 6273 : Chi phí dụng cụ.
TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác.
+ Tài khoản 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
SV : Hoàng Thị Hồng
15
K41/21.13
Chi phí nhân công trực tiếp
TK 622
Kết chuyển
Giá thành
KL xây lắp
hoàn thành
bàn giao
CPNCTT vượt đm
TK 141
Tạm ứng tiền lương
công nhân sản xuất
Kết chuyển
CPNCTT
TK 155
SV : Hoàng Thị Hồng
16
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
TK 241
SP để sử
dụng
BHXH, BHYT, KPCĐ
Trích trên tiền lương
1.3. Giá thành sản phẩm xây lắp và đánh giá sản phẩm làm dở trong
doanh nghiệp xây dựng cơ bản
1.3.1. Giá thành sản phẩm xây lắp
Để xây dựng một công trình hay hoàn thành được một công việc nhất
định, cần đầu tư vào quá trình sản xuất thi công một lượng chi phí nhất định.
Những chi phí này cấu thành nên giá thành công trình, hạng mục công trình
hoàn thành.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí
nguyên vật liệu, chi phí sử dụng nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi
phí trực tiếp khác tính cho công trình, hạng mục công trình hay khối lượng
xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước, đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn
giao và được chấp nhận thanh toán.
Khác với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, người ta có thể tính giá
thành cho một loại sản phẩm được sản xuất ra trong kỳ và giá thành đơn vị
của sản phẩm đó là một trong những cơ sở để xác định giá bán, ở doanh
SV : Hoàng Thị Hồng
17
K41/21.13
Tuy nhiên , giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại có sự khác
nhau về mặt giới hạn, phạm vi và nội dung thể hiện cụ thể như sau :
- Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong một thời kỳ
nhất định ( tháng, quý, năm ) hoặc một phần chi phí sẽ được phát sinh ở kỳ
sau nhưng đã được ghi nhận là chi phí của kỳ này còn giá thành sản phẩm lại
SV : Hoàng Thị Hồng
18
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
liên quan tới cả khối lượng dở dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại không
bao gồm chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ. Như vậy, giá
thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí kỳ trước chuyển sang và
một phần chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
- Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá
thành sản phẩm xây lắp lại là chi phí sản xuất được tính cho một công trình,
hạng mục công trình hoặc khối lượng công tác xây lắp hoàn thành.
Hơn nữa, đối với những thiệt hại trong xây lắp như : thiệt hại phá đi
làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất... thì toàn bộ chi phí sửa chữa khắc phục thiệt
hại được trừ khỏi chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ :
Giá thành sản xuất sản phẩm hoàn thành = DĐK + C – DCK – Ch
( Ch : chi phi sửa chữa khắc phục thiệt hại sản phẩm xây lắp )
Mặc dù giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau như em
bản do cấp có thẩm quyền ban hành và dựa theo giá cả thị trường.
Giá thành dự toán
từng CT, HMCT
=
Giá trị dự toán từng CT, HMCT
Thu nhập chịu
thuế tính trước -
Thuế GTGT
đầu ra
Thông qua giá thành dự toán xây lắp người ta có thể đánh giá được
thành tích của doanh nghiệp, nó là hạn mức chi phí cao nhất mà doanh nghiệp
có thể chi ra để đảm bảo có lãi.
Có 2 loại giá thành dự toán:
+ Giá thành đấu thầu công tác xây lắp ( Z dt ): Là loại giá thành do chủ
đầu tư đưa ra để các tổ chức xây lắp căn cứ vào đó để tính toán giá thành dự
thầu công tác xây lắp của mình.
+ Giá thành hợp đồng công tác xây lắp ( Z hđ ) : Là giá thành ghi trong
hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và tổ chức xây lắp.
1.3.3.2. Giá thành kế hoạch công tác xây lắp ( Z kh )
Là một loại giá thành dự toán công tác xây lắp được xác định từ những
điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ nhất định. Nó được xác lập dựa trên các
định mức chi phí nội bộ của tổ chức xây lắp.
ZKH
=
thiết kế hợp đồng, đã được bàn giao và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và
thanh toán.
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu
quả sản xuất thi công trọn vẹn một công trình, hạng mục công trình nhưng lại
không đáp ứng kịp thời số liệu cần thiết cho việc quản lý sản xuất và giá
thành trong suốt quá trình thi công.
+ Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước: Là giá thành của
khối lượng xây lắp hoàn chỉnh đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn
các điều kiện sau:
* Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kỹ thuật.
* Phải được xác định cụ thể và phải được chủ đầu tư nghiệm thu, chấp
nhận thanh toán.
* Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
Chỉ tiêu này phản ánh kịp thời chi phí cho đối tượng xây lắp trong quá
trình thi công, từ đó giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi phí chi
ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý thích hợp, cụ thể. Nhưng chỉ
tiêu này lại phản ánh không toàn diện, chính xác giá thành. Vì vậy, đòi hỏi
phải sử dụng cả 2 chỉ tiêu trên để đảm bảo quản lý giá thành được kịp thời,
chính xác, toàn diện và hiệu quả.
1.3.4. Đối tượng tính giá thành của sản phẩm xây dựng
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà
doanh nghiệp sản xuất, chế tạo và thực hiện cần tính được tổng giá thành và
giá thành đơn vị.
SV : Hoàng Thị Hồng
21
K41/21.13
cuối kỳ bằng nhau.
Tuy nhiên , giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại có sự khác
nhau về mặt giới hạn, phạm vi và nội dung thể hiện cụ thể như sau :
SV : Hoàng Thị Hồng
22
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
- Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong một thời kỳ nhất
định ( tháng, quý, năm ) hoặc một phần chi phí sẽ được phát sinh ở kỳ sau
nhưng đã được ghi nhận là chi phí của kỳ này còn giá thành sản phẩm lại liên
quan tới cả khối lượng dở dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại không bao
gồm chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ. Như vậy, giá
thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí kỳ trước chuyển sang và
một phần chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
- Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành
sản phẩm xây lắp lại là chi phí sản xuất được tính cho một công trình, hạng
mục công trình hoặc khối lượng công tác xây lắp hoàn thành.
Hơn nữa, đối với những thiệt hại trong xây lắp như : thiệt hại phá đi
làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất... thì toàn bộ chi phí sửa chữa khắc phục thiệt
hại được trừ khỏi chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ :
Giá thành sản xuất sản phẩm hoàn thành = DĐK + C – DCK – Ch
( Ch : chi phi sửa chữa khắc phục thiệt hại sản phẩm xây lắp )
1.3.6. Kiểm kê, đánh giá sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp
Sản phẩm làm dở trong các doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình,
hạng mục công trình chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp dở
dang trong kỳ chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu, thanh toán.
Kiểm kê, đánh giá sản phẩm làm dở là việc tính toán, xác định chi phí
sản xuất cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo những nguyên tắc nhất
định.
Việc xác định mức độ hoàn thành của sản phẩm xây dựng rất khó khăn
do sản phẩm này có kết cấu phức tạp. Vì vậy, khi đánh giá sản phẩm làm dở,
kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động
để xác định mức độ hoàn thành sản phẩm làm dở một cách chính xác. Trên cơ
sở kết quả kiểm kê sản phẩm làm dở đã tổng hợp được, kế toán tiến hành
đánh giá sản phẩm dở dang.
Điều kiện áp dụng đánh giá sản phẩm dở dang trong xây dựng cơ
bản:
Nếu khối lượng xây lắp hoàn thành thanh toán theo điểm dừng kỹ
thuật( theo quy ước giữa bên A và bên B) thì đánh giá sản phẩm dở dang
cuối kỳ áp dụng theo các phương pháp sau đây:
a. Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo giá dự toán.
Theo phương pháp này: Chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang
cuối kỳ được xác định.
Chi phí thực
tế của
KLXLDD
cuối kỳ
=
SV : Hoàng Thị Hồng
K41/21.13
Học viện tài chính
Luận văn cuối khoá
b. Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo tỷ lệ sản phẩm hoàn
thành tương đương.
Chi phí thực
tế của
KLXLDD
cuối kỳ
=
Chi phí thực tế
KLXLDD đầu
kỳ
+
Chi phí của
KLXL hoàn
thành bàn giao
trong kỳ theo dự
toán
+
xây dựng vì sản xuất mang tính đơn chiếc nên đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất phù hợp với đối tượng tính giá thành. Hơn nữa, áp dụng phương pháp
này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành mỗi kỳ báo cáo, cách tính
đơn giản, dễ thực hiện. Theo phương pháp này, tập hợp tất cả chi phí sản xuất
trực tiếp cho một công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công cho đến
khi hoàn thành chính là giá thực tế của công trình hay hạng mục công trình
đó. Trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành toàn bộ
nhưng có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì:
Giá thành thực tế
KLXL hoàn thành
bàn giao
Chi phí thực tế khối Chi phí thực tế khối Chi phí thực tế khối
= lượng xây lắp dở + lưọng xây lắp phát - lượng xây lắp dở
sinh trong kỳ
dang đầu kỳ
dang cuối kỳ
SV : Hoàng Thị Hồng
25
K41/21.13