Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao trong quan hệ Việt Nam Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HÀ ĐỨC NAM

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
NGOẠI GIAO TRONG QUAN HỆ VIỆT
NAM - NHẬT BẢN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ
KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HÀ ĐỨC NAM

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
NGOẠI GIAO TRONG QUAN HỆ VIỆT
NAM - NHẬT BẢN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ
KỶ XXI

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.02.04


MỤC LỤC
MỞ ĐẤU ............................................................................................................ 7
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 11
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ............................................... 11
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................... 11
7. Kết cấu đề tài ............................................................................................... 12
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VÀ TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH................................................................................ 13
1.1. Một số vấn đề lý luận về ngoại giao ........................................................ 13
1.1.1. Khái niệm ngoại giao ....................................................................... 13
1.1.2. Các biểu hiện của ngoại giao .......................................................... 15
1.1.3 Khái niệm đối tác chiến lược và các nhân tố tham gia quan hệ
quốc tế....................................................................................................... 17
1.1.4. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao ............................. 20
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao ....................... 22
1.2.1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao mang đậm bản sắc ngoại giao
truyền thống của dân tộc ............................................................................ 23
1.2.2. Chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh........................... 25
1.2.3. Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng sáng
tạo kinh nghiệm ngoại giao trên thế giới ................................................... 27
1.2.4. Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ
quốc tế vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam............................................. 31
CHƯƠNG 2. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NGOẠI GIAO VÀ
KHÁI QUÁT QUAN HỆ VIỆT - NHẬT TRONG THẾ KỶ XX ............... 35
2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về ngoại giao............................................ 35
2.1.1 Ngoại giao là một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạng

KẾT LUẬN ...................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................... 82
Một số cột mốc quan trọng trong quan hệ chính trị Việt – Nhật ............... 88


MỞ ĐẤU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, đất nước và nhân dân
ta không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hóa mà còn là nhà ngoại
giao kiệt xuất. Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự
kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại. Sự hình thành và
phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời hoạt động của
Người qua những giai đoạn lịch sử đầy biến cố của tình hình thế giới và trong
nước. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu như: Các
quyền dân tộc cơ bản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với
đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế,...trong đó ngoại giao là một mặt trận là
một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh
giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh
bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người “Ngoại giao ai thuận lợi hơn,
thì thắng” , nhất là “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho
một nước độc lập”. Vì vậy, Người khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà
ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”, nên “muốn ngoại giao
được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia Châu Á có khá nhiều nét tương đồng
về văn hóa cũng như lịch sử. Lịch sử quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đã từng trải
qua nhiều thăng trầm nhưng quan hệ giữa hai nước vẫn được duy trì. Kể từ khi
quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản được chính thức thiết lập vào tháng 9
năm 1973 thì quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh đặc biệt là trong lĩnh vực
thương mại, ngoài ra các hình thức hợp tác khác cũng được đẩy mạnh. Trước

thống các lý thuyết cơ bản mà thiếu yếu tố vận dụng khiến hướng tiếp cận thiếu
sinh động.
Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại – một số nội dung cơ bản”,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 của tác giả Đỗ Đức Hinh. Tác phẩm
trình bày những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại. Tác


phẩm tạo cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại
giao, một trong những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong cách mạng Việt
Nam và trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Công trình nghiên cứu “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” của
Giáo sư Đặng Xuân Kỳ, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004. Nội dung cuốn
sách gồm ba chương: Phương pháp và phương pháp cách mạng; Hệ thống
phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh và Phong cách Hồ Chí Minh. Công trình
đã làm sáng tỏ sự cần thiết, tầm quan trọng của phương pháp và phong cách ở
Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tác phẩm làm rõ các khái
niệm về phong cách và phương pháp từ đó trình bày một cách có hệ thống các
phương pháp và cách mạng Hồ Chí Minh. Hệ thống phương pháp cách mạng
Hồ Chí Minh gồm 6 phương pháp lớn có tính bao trùm và được áp dụng trong
suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Hệ thống phong cách Hồ Chí Minh gồm 5
loại phong cách, khái quát những nét đặc trưng nhất ở con người Hồ Chí Minh
trong các lĩnh vực tư duy, công tác, diễn đạt, ứng xử và trong sinh hoạt đời
thường.
Công trình nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng
của Đảng ta trong thời kì đổi mới” của Tiến sĩ Đinh Xuân Lí, NXB Chính trị
quốc gia, 2007. Tác phẩm là công trình nghiên cứu có hệ thống về tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta trong thời ký đổi mới. Tác
giả đã nêu lên thực trạng của ngoại giao Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất
một số giải pháp để ngành ngoại giao nước ta có thể đáp ứng được yêu cầu
trong tinh hình mới.

và đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm thúc đẩy mối quan hệ
hữu nghị hợp tác toàn diện giữa hai nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Trình bày nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
Ngoại giao.
- Trình bày những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao
Việt Nam.


- Phân tích đánh giá những nhân tố tác động tới mối quan hệ đối tác chiến
lược giữa hai nước và đánh giá sự phát triển của mối quan hệ đối tác chiến lược
Việt – Nhật trên các lĩnh vực. Trên cơ sở đó, phân tích thuận lợi khó khăn nhằm
đưa ra một số giải pháp theo quan điểm Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề ngoại giao và tăng
cường mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản trên các lĩnh vực
cơ bản như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…theo quan điểm Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài giới hạn ở việc phân tích, làm rõ những
quan điểm của Hồ Chí Minh về ngoại giao và thực trạng mối quan hệ Việt Nam
– Nhật Bản trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI (từ 2001 – 2014). Đề tài sử
dụng các tư liệu trong các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công
bố trong những năm gần đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tri thức chính trị học và các ngành khoa học liên
quan, kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng thế giới quan và phương pháp
nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận
dụng các phương pháp logic- lịch sử, phân tích, tổng hợp…

Nhật Bản


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VÀ TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Cho nên dùng binh giỏi nhất, là đánh
bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”
[18, tr.562], và “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có
to tiếng mới lớn” [ 19, tr.147]
1.1. Một số vấn đề lý luận về ngoại giao
1.1.1. Khái niệm ngoại giao
Để bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao trước hết cần
nắm được khái miệm, bản chất của ngoại giao là gì? Và cũng như nhiều khái
niệm khác trong khoa học xã hội, ngoại giao là khái niệm đa chiều, nhiều tầng
nghĩa, đó cũng là điều bình thường trong quá trình nhận thức, có thể liệt kê một
số quan điểm sau:
Ngoại giao hiểu một cách đơn giản là sự giao thiệp bên ngoài quốc gia.
Trong “Đại Từ điển Tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng: “Ngoại giao
là sự giao thiệp bên ngoài, là sự giao thiệp với nước ngoài của một Nhà nước
nhằm đảm bảo quyền lợi quốc gia và tham gia vào các vấn đề quốc tế” [41,
tr.1201]
Theo Harold Nicolson, “ngoại giao, đó là việc tiến hành quan hệ quốc tế
bằng cách đàm phán, đó là cách mà các đại sứ, công sứ…dùng để điều chỉnh
và tiến hành những quan hệ này. Đó là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại
giao” [69, pp 64]
Trong cuốn “Ngoại giao văn hóa” do PGS.TS Phạm Thái Việt làm chủ
biên thì có dẫn ra một số quan điểm về ngoại giao như sau [54, tr 64-66]:
- Aron, trong cuốn sách “Chiến tranh và hòa bình giữa các quốc gia” đã đồng nhất ngoại giao với chính sách đối ngoại. Ông coi ngoại giao là mọi
phương pháp hành vi hòa bình trong xử lý quan hệ giữa các quốc gia.

ra cách diễn đạt các tuyên bố một cách không đối đầu, hay là một cách cử xử
lịch thiệp. Khái niệm ngoại giao bao gồm hai bộ phận: ngoại giao chính phủ và
ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhân dân cách nói đơn giản hơn “ngoại giao
nhân dân là công tác giao thiệp với nước ngoài không mang danh nghĩa Nhà
nước” [41, tr.1201]. Nói theo John.T.Rourke và Mark.A.Boyer thì đây là một


cách ngoại giao đã đi xa hơn mô hình truyền thông truyền thống. Vốn dĩ chỉ
giữa các chính phủ, mà đi vào hoạt động hiện đại hơn là việc cố gắng thuyết
phục một đối tượng công chúng rộng rãi hơn rất nhiều. Bao gồm quan điểm của
công chúng trong nước khác và quan điểm của toàn thế giới nói chung. Điều
này gần với sự tuyên truyền, nhưng đặc biệt ở chỗ, ngoại giao công chúng liên
quan tới những gì được nói và làm thực sự bởi các nhân vật chính trị, trong khi
tuyên truyền bao gồm tiếp diễn những thông điệp được đưa ra bởi các cơ quan
thông tin đã phiên dịch những sự kiện và tuyên bố của các lãnh đạo [66, tr 321].
Từ góc độ cá nhân, ngoại giao cũng có thể xem là một kỹ năng trong ứng
xử nhằm đem lại lợi ích cho cá nhân đó bằng sự khéo léo, thủ đoạn hay sự xảo
quyệt.
1.1.2. Các biểu hiện của ngoại giao
Ngoại giao bằng lời hoặc bằng hành động: Truyền thông bằng lời nói
hoặc văn bản thích hợp cho đàm phán và thường là một chiến lược tốt. Nó chi
phí thấp và có khả năng duy trì sự linh hoạt hơn hành động. Nhưng sử dụng
hành động cũng có tác dụng của nó. Nó biểu thị sự kịch tính của vấn đề. Chẳng
hạn như những tuyên bố của các nguyên thủ. Hành động thì có tiếng vang hơn
lời nói. Đưa ra những lời đe dọa quân sự là một kiểu, đặt quân đội vào tình
trạng báo động, dàn quân, hoặc triển khai quân để đánh nhau có sức thuyết
phục lớn. Tuy nhiên, phải nhớ rằng rất khó để rút lại lời nói, thậm chí nó còn
khó khăn hơn là không hành động, và nó có thể gây ra những phản ứng thù
địch, phản ứng không khoan nhượng từ đối phương [ 71, pp.340-341]
Ngoại giao công khai hoặc cá nhân: Ngoại giao công khai có giá trị biểu

ngoại giao của quốc gia này với người dân của một dân tộc kia. Đây là loại hình
quan hệ công chúng do Nhà nước tiến hành hướng tới cộng đồng quốc tế, dân
chúng nước ngoài. Hoạt động này nhằm tạo dựng hoặc gây ảnh hưởng tới dư
luận công chúng quốc tế nhằm thực thi chiến lược ngoại giao của mình. Những
tác nhân phi nhà nước này xây dựng sự hiểu biết về văn hóa, thái độ và hành vi,
các mối quan hệ nhằm đưa tới lợi ích và giá trị [67, pp.135-153]. Theo như
Edmund Gullion (Viện trưởng Viện Pháp luật và Ngoại giao Fletcher thuộc đại
học Tufts, Mỹ) - người đưa ra khái niệm “ngoại giao công chúng”, ông cho
rằng: “Ngoại giao công chúng có nhiệm vụ xử lý thái độ của công chúng đối


với những ảnh hưởng phát sinh từ việc hình thành và thực thi chính sách ngoại
giao của chính phủ. Nó là một cấp độ lĩnh vực quan hệ quốc tế vượt ra khỏi
phạm vi ngoại giao truyền thống. Nó bao gồm sự khai phát và tạo dựng của
chính phủ một nước đối với dư luận của các nước khác… tạo ảnh hưởng đối với
hoạt động hoạch định chính sách và hoạt động xử lý công việc đối ngoại. Và
trọng tâm của ngoại giao công chúng là: (1) Tiếp xúc; (2) Báo cho biết (nhận
biết); (3) Xóa bỏ hiểu lầm; (4) Tìm sự đồng cảm; (5) Xây dựng lòng tin; (6)
Nhân bản giá trị - tái tạo gien văn hóa ở môi trường bên ngoài; (7) Gây ảnh
hưởng đến chính sách đối nội và đối ngoại”[ 54,tr.74-75].
Những cơ quan ngoại giao như văn phòng đại diện, đại sứ quán…chỉ là
những mặt kỹ thuật trong quan hệ ngoại giao. Ngoài ra, còn nhiều hình thức
ngoại giao khác như, Ngoại giao mở, Ngoại giao lãnh đạo - lãnh đạo.
Một số cách thức ngoại giao: Giữ gìn quan hệ qua lại hằng ngày với
chính phủ nước ngoài qua đại diện ngoại giao và phái đoàn ngoại giao; Tham
gia của các đại diện quốc gia tại các tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực,…; Tham
dự các hội nghị, hội thảo, gặp gỡ thường kỳ, bất thường nhiều bên, hai bên của
các đại diện toàn quyền quốc gia từ người đứng đầu quốc gia, Chính phủ, Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao đến chuyên viên ở các cấp khác nhau; Trao đổi thư tín
ngoại giao: Công hàm, thư… Chuẩn bị, đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, các

tế. Thực tế thì khái niệm quan hệ đối tác đã xuất hiện khá lâu: như năm 1890
trong “Đạo luật về quan hệ đối tác” của nước Anh, đã sử dụng đối tác như một
mối quan hệ kinh tế khi những người kinh doanh có cùng một quan điểm về lợi
nhuận, nằm ngoài phạm vi quan hệ quốc tế. Một câu hỏi đặt ra là tại sao khái
niệm “đối tác chiến lược” lại trở nên ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc
tế. Để hình thành một quan hệ “đối tác” giữa hai tác nhân cần có các giá trị
chung, lợi ích chung và sự hiểu biết [68, pp.234]. Một số quan điểm trong quan
hệ quốc tế nêu lên rằng, “đối tác chiến lược” chỉ là thuật ngữ mang tính tượng
trưng tùy vào bối cảnh cụ thể, song phần đông các tác tác giả thừa nhận rằng
“quan hệ đối tác chiến lược” là quan hệ song phương giữa hai quốc gia trên các
lĩnh vực an ninh, kinh tế và có thể mở rộng phạm vi phi chính phủ hợp, với các
lĩnh vực phong phú và đa dạng. Đây là một khái niệm theo kiểu tập hợp. Tuy
nhiên, khi phân tích cụ thể vào các mối quan hệ “đối tác chiến lược” với từng
trường hợp cụ thể cần chú ý đến level của mối quan hệ này, “quan hệ đối tác


chiến lược cần thiết”, “quan hệ đối tác đã được xác lập” và “quan hệ đối tác
chiến lược như một mục tiêu” như vậy có thể thấy, trong một mối quan hệ đối
tác chiến lược, không hề có sự bình đẳng giữa hai tác nhân, tùy vào “giá trị”
của đối tác mà mỗi tác nhân sẽ lựa chọn một hướng đi thích hợp.
Một số tác nhân tham gia vào quan hệ quốc tế: Ngoại giao là một khía
cạnh của quan hệ quốc tế, nói tới quan hệ quốc tế không thể không kể tới chủ
thể quan trọng là quốc gia. Sự tương tác giữa các chủ thể làm nên quan hệ.
Không có chủ thể quan hệ quốc tế thì không có quan hệ quốc tế. Tất cả những
yếu tố thuộc về chủ thể đều có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ quốc tế . Trong
số các chủ thể của quan hệ quốc tế, quốc gia là chủ thể không phải bàn cãi, mặt
khác các quốc gia quan hệ với nhau cũng là để đảm bảo lợi ích của mình. Quốc
gia cũng được coi là chủ thể quan hệ quốc tế cơ bản và quan trọng nhất và một
lẽ nữa quốc gia đương nhiên là chủ thể của Luật pháp quốc tế. Vai trò nhất định
của từng quốc gia trong một giai đoạn nhất định đã góp phần tạo lập được cục

để thực hiện lợi ích của mình. Trong quan hệ quốc tế ngoài quốc gia còn có
nhiều nhân tố khác tham gia vào như các cơ chế đa phương, các tổ chức phi
chính phủ (NGO), các công ty xuyên quốc gia nhưng quốc gia có khả năng
thực hiện quan hệ quốc tế hơn bất cứ chủ thể phi quốc gia nào. Quốc gia có sức
mạnh tổng hợp như lãnh thổ, dân cư, thực lực quân sự, sức mạnh kinh tế, khả
năng huy động xã hội… mà không chủ thể phi quốc gia nào có được [32, tr.33].
Vì thế các quốc gia lớn sẽ giữ vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo
nên các mối quan hệ quốc tế, cục diện an ninh chính trị của mỗi khu vực mà nó
hiện diện. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của quốc gia cũng lớn nhất trên trường quốc
tế, quốc gia tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống nên có ảnh hưởng rộng
khắp trong quan hệ quốc tế. [32, tr.33]
Như vậy, qua đây có thể thấy được vai trò của quốc gia trong quan hệ quốc
tế. Trong luận văn của mình tôi sẽ giới hạn phân tích, vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về ngoại giao mối quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản
trên góc độ chủ thể là quốc gia.
1.1.4. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao
Hoạt động ngoại giao là một bộ phận quan trọng của đấu tranh dựng
nước, giữ nước lâu dài và anh dũng của dân tộc Việt Nam. Kế thừa, phát huy
truyền thống ông cha, bản chất nền ngoại giao nước ta là hòa bình, chính nghĩa,


thuỷ chung và khoan dung, đậm đà bản sắc dân tộc, tiêu biểu bởi tư tưởng và
phong cách ngoại giao của Hồ Chí Minh.
"Ngoại giao là một khoa học đồng thời là nghệ thuật" (Lênin). Hồ Chí
Minh, "chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng thuộc địa", "người cộng
sản", "nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc" và "nhà ngoại giao kiệt xuất", bằng hoạt
động lý luận và thực tiễn của mình, đã để lại những di sản trí tuệ quý báu cho
kho tàng kinh nghiệm về quan hệ đối ngoại Việt Nam, đã tạo ra những tiền đề
tư tưởng và phương pháp luận vững chắc cho việc đề ra đường lối chính sách
đối ngoại và hệ thống sách lược ngoại giao nước ta, lái chúng luôn đi đúng

gìn hoà khí, khiêm nhường với nước lớn, hữu nghị với các nước lân bang, phấn
đấu cho sự thái hoà. Yêu chuộng hoà bình là bản chất của ngoại giao Việt Nam.
Trong khi kiên trì lập trường nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ quốc gia, chống lại ngoại giao xâm lược của đối phương, kiên trì
đường lối hoà bình trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng.
Ngoại giao Việt Nam thấm nhuần tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân
văn. Tuy là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, người Việt
Nam vẫn giàu lòng nhân ái, khoan dung đối với những kẻ địch đã bị đánh bại.
Điều đó có cội nguồn từ lý tưởng nhân nghĩa của dân tộc biết đứng trên nghĩa
lớn khi buộc phải đương đầu với những thế lực ngoại xâm hung bạo. Từ khả
năng thu phục lòng người do những mục tiêu chính nghĩa được theo đuổi và từ
hoàn cảnh nhiều khi phải đối phó với nhiều đối thủ cùng một lúc, chúng tôi
luôn theo đuổi phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “…làm cho nước mình ít kẻ
thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”[6, tr.26-27]; Ngay sau khi nước nhà độc
lập, đứng trước mối đe doạ của nhiều thế lực bên ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định: nước Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với mọi nước dân chủ và
không gây thù oán với ai”[6, tr.220]. Nối tiếp truyền thống ấy, khi bước vào
thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã tuyên bố với toàn thế giới rằng,”Việt Nam muốn
là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc
lập và phát triển” [10, tr.103]. Tư tưởng này đã được chính thức ghi trong
Cương lĩnh sửa đổi và bổ sung của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua
tại Đại hội lần thứ XI họp đầu năm nay: Việt Nam muốn “là bạn, đối tác tin cậy
và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới [9, tr.83-84]
Ngoại giao Việt Nam mang tính nhân văn cao cả, tinh tế, linh hoạt, sáng tạo
và nhạy bén, thấu hiểu sâu sắc về mình và người. Tìm hiểu hoạt động đó trong
sự phát triển phong phú qua các thời kì lịch sử để rút ra những bài học kinh
nghiệm cần thiết có thể vận dụng kết quả cho hiện tại đó là một việc làm vừa có
ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.


thành trong quá trình lập nước, trong đấu tranh giành độc lập, tôi tin theo Lênin



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status