skkn HƯỚNG dẫn học SINH TIẾP cận bài THƠ vội VÀNG của XUÂN DIỆU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn 11 ở TRƯỜNG THPT - Pdf 37

Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH
Mã số: ........

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN BÀI THƠ
VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 11 Ở TRƯỜNG THPT

Người thực hiện: Nguyễn Thị Mai Lan
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục …………………………... 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn….. 
- Lĩnh vực khác: ...............................................

Có đính kèm:
 Mô hình

 Đĩa CD (DVD)

 Phim ảnh

 Hiện vật khác

NĂM HỌC 2014 - 2015



Năm nhận bằng: 2012

-

Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
-

Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy Ngữ văn

-

Số năm có kinh nghiệm: 17

-

Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

+ Kinh nghiệm giảng dạy một số văn bản thơ trữ tình trong chương trình Ngữ Văn lớp12.
+ Kinh nghiệm giảng dạy một số truyện ngắn Việt Nam hiện đại theo đặc trưng thể loại
trong chương trình Ngữ văn lớp 11.
+ Hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản “Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài qua phương pháp
vấn đáp - đàm thoại và gợi tìm.
+ Hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu qua phương thức nêu vấn đề.
+ Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu trong chương trình
Ngữ văn 11 ở trường THPT.


cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lí luận
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới giai đoạn 1930 - 1945. Thơ
Xuân Diệu luôn luôn thể hiện cái tôi trữ tình, khao khát giao cảm với cuộc đời thể hiện
một quan điểm mới mẻ và độc đáo về vẻ đẹp con người và cuộc sống trần thế nên Xuân
Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới – Hoài Thanh. Chính điều đó đã góp
phần nâng cao và khẳng định vị trí của Xuân Diệu trong thi đàn văn học Việt Nam thế kỉ
XX.
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 3


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

Trong những bài thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do của Xuân Diệu như Vội
vàng, Tương tư chiều, Khi chiều giăng lưới, Thở than.. thì Vội vàng là bài thơ để lại ấn
tượng sâu sắc nhất và được đưa vào giảng dạy ở trường THPT- chương trình Ngữ văn lớp
11- ban cơ bản và nâng cao. Bài thơ được sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, bộc lộ
trái tim sôi sục, cặp mắt háo hức xanh non, sự khẳng định con người, tuổi trẻ, tình yêu,
lấy đó làm chuẩn mực cho cái đẹp. Hình tượng thơ mới mẻ tới mức táo bạo, ứ tràn cảm
giác, nhịp thơ hăm hở, cuống quýt, lối viết câu rất hiện đại, vắt dòng thoải mái. Với Xuân
Diệu, dường như tất cả những gì của cuộc sống trần gian đời thường đều đầy chất thơ và
đều có thể thành thơ. Vì thế đã có không ít công trình nghiên cứu về bài thơ nói riêng và
phong cách sáng tác của Xuân Diệu nói chung.
Trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”- công trình tập thể, các tác giả Mã Giang Lân,
Nguyễn Văn Long đánh giá Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn phát triển

+ Bản thân một số ít giáo viên còn lúng túng bởi vốn kiến thức hạn chế đối với thể loại
thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do.
+ Một số giáo viên còn áp đặt ý kiến chủ quan của mình cho tác phẩm, có giáo viên cho
rằng Vội vàng là một bài thơ nói về sự hưởng thụ của con người trong tình yêu, tác giả
kêu gọi mọi người hãy hiến dâng, sống hết mình cho tình yêu.
+ Giáo viên còn nặng về thuyết giảng, khả năng gợi mở chưa tốt nên chưa tạo được
không khí học tập tích cực để giúp các em chủ động khám phá, phát huy năng lực đọc –
hiểu một bài thơ trữ tình.
- Về phía học sinh
+ Đọc bài thơ rời rạc, chưa bắt được đúng nhịp điệu tâm trạng, cảm xúc mà tác giả
gửi gắm trong chữ nghĩa.
+ Chưa hiểu rõ về đặc trưng của một số thể loại mới, đặc biệt với thể loại thơ tự do như
Vội vàng
+ Một số học sinh chưa tự giác tìm hiểu cái hay cái đẹp trong bài thơ, chưa chủ động lĩnh
hội tác phẩm.
Từ việc tìm hiểu thực trạng dạy học Ngữ văn ở trường THPT nói chung và ở nơi bản
thân đang công tác nói riêng, tôi xin trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy bài thơ Vội
Vàng - Xuân Diệu cùng các đồng nghiệp để chúng ta có thể hướng dẫn học sinh hứng thú
khi tiếp cận thơ thể loại thơ trữ tình hiện đại nói chung và thơ Xuân Diệu nói riêng.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIẢI PHÁP
Trước hết, người giáo viên cần thấy được giá trị của bài thơ Vội vàng, bởi đây là một
trong bốn bài thơ tự do (Tương tư chiều, Khi chiều giăng lưới, Thở than, Vội vàng) hiếm
hoi của Xuân Diệu. Vội vàng là bài thơ có những cách tân độc đáo của thể thơ tự do thể
hiện cảm xúc thi ca và triết lý nhân sinh của Xuân Diệu đối với cuộc đời. Muốn vậy,
người giáo viên trước tiên phải nắm bắt những nét cơ bản về thơ tự do.
1. Khái niệm và những đặc điểm của thơ tự do
1.1.Khái niệm thơ tự do
Trong cuốn “Thơ ca Việt Nam- hình thức và thể loại- NXB Khoa học xã hội, 1971,
tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức cho rằng: “Khi nói đến thơ tự do, chúng ta


tuân theo mạch cảm xúc, mạch suy tưởng của nhà thơ. Mạch suy tưởng trong thơ tự do
không chỉ khơi dậy những đề tài rộng rãi, cụ thể trong hiện thực mà còn phản ánh hiện
thực, khắc họa chiều sâu suy nghĩ, tư duy của nhà thơ, “cảm nhận những mối tương giao
thầm kín, sự giao hòa, hô ứng giữa sự vật với nhau và giữa con người” (Lê Đình Kị Thơ mới những bước thăng trầm).
- Về cái tôi trữ tình: là cái tôi được nhà thơ phân thân, hóa nhập vào số phận nhân vật
trong cuộc sống hiện thực. Nhà thơ chuyển hóa cảm xúc của mình thành cảm xúc của đối
tượng miêu tả. Cái tôi trong thơ tự do là là cái tôi không khép mình trong khuôn sáo cũ
mà là sự thức tỉnh của ý thức cá nhân với nỗi niềm tâm sự ẩn chứa trong lòng, đôi khi thể
hiện trong thơ như đời sống hiện thực phong phú.
2. Vội vàng là bài thơ trữ tình được viết theo thể thơ tự do
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 6


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

2.1. Về ngôn ngữ trong bài thơ
Ngôn ngữ trong bài thơ mang những đặc điểm thơ tự do, sử dụng hệ thống từ ngữ sáng
tạo như động từ mạnh, từ chỉ cảm giác, ẩn dụ, so sánh mới lạ..
- Các động từ: Tắt nắng, buộc gió, ôm, riết, say, thâu, cắn.. gợi cảm giác muốn chiếm
lĩnh hoàn toàn thiên nhiên của mùa xuân. Tác giả muốn hòa mình vào thiên nhiên, muốn
say sưa cùng thiên nhiên, muốn tận hưởng cái tuyệt đích, tuyệt đỉnh của tình yêu, nhiều
khi tưởng như hả hê, chếnh choáng đầy trực cảm.
- Các từ chỉ cảm giác: chếnh choáng, đã đầy, no nê. Đó là những từ chỉ cảm giác say sưa
với tình yêu, say sưa tưởng như không còn biết đến thế giới bên ngoài, hoàn toàn chìm
đắm vào cảm giác tràn đầy của thiên nhiên hào phóng. Tác giả đã tận hưởng đầy đủ
những cảm giác của tình yêu, của thiên nhiên mang lại.

nhỏ đang khát khao được ôm trọn trái đất trong vòng tay. Đó là cái tôi tận hưởng của
Xuân Diệu, cái tôi ham sống mãnh liệt.
Trong bài thơ có một số câu thơ đặc biệt như: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một
nửa.”. Câu thơ bị dấu chấm ngắt ngay giữa dòng, gợi cho ta thấy một cái tôi ý thức trong
lòng mình, là sự đan xen của hai cảm giác: sung sướng và vội vàng, tỏa ra sự hụt hẫng.
Hay câu “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa… Câu thơ như một lời thốt lên đầy tiếc
nuối với từ “ôi”, và dấu chấm than ngắt giữa câu thơ. Dấu chấm lửng cuối câu thơ làm ta
có cảm giác như sự nuối tiếc của tác giả cứ trải dài ra mãi.
Trong bài thơ, tác giả có sử dụng kiểu câu thơ định nghĩa mà theo Đặng Anh Đào thì
đây là kiểu câu thơ Xuân Diệu tiếp thu từ thơ ca lãng mạn phương Tây thế kỉ XIX:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Kiểu câu thơ định nghĩa làm cho bài thơ đậm chất triết lý về thời gian, tuổi trẻ và đời
người.
2.3. Về nhịp điệu trong bài thơ
Bài thơ được làm theo cấu trúc hợp thể. Bốn câu thơ đầu được viết theo thể thơ 5 chữ,
và câu thơ 3 chữ ở giữa bài thơ làm nên nhịp thơ gấp gáp, đanh, gọn, rắn chắc, tạo nên sự
liền mạch cho bài thơ. Câu thơ 8 chữ nhịp đều đều, da diết, dàn trải, phù hợp với tâm hồn
yêu đời của thi nhân khi khám phá ra một thiên đường nơi trần gian.
Kiểu câu thơ trùng điệp, câu thơ vắt dòng tạo ra một nhịp điệu nhanh, hối hả, sôi trào.
Kiểu câu thơ có quan hệ đối lập tạo nên những biến tấu đột ngột, những khúc gãy trong
tâm trạng. Kiểu câu thơ định nghĩa tạo nên giọng điệu đầy triết lý.
Sự lặp lại của các từ chỉ định, quan hệ từ, hư từ…trong đơn vị câu thơ, đoạn thơ như
một nốt luyến trong âm nhạc, để kết nối âm thanh, tiết tấu giữa các từ, câu thơ, đoạn thơ.
Những động từ mạnh là những điểm nhấn tập trung cường độ, cao độ, sức mạnh của tư
tưởng và cảm xúc sôi trào trong khát vọng chiếm lĩnh cuộc đời của nhà thơ.
2.4. Mạch suy tưởng trong bài thơ
“Vội vàng” là một sự yêu đời thể hiện qua sự si mê, cuồng nhiệt và một triết lý nhân
sinh mới mẻ chưa từng thấy. Như vậy, mạch suy tưởng trong bài thơ là mạch suy tưởng

khám phá kết cấu của bài thơ. Khi đã khám phá ra kết cấu đó, HS có thể phân tích được
kết cấu nội tại của bài thơ.
Trước hết, GV giúp HS tìm hiểu những nét chung nhất về tác giả Xuân Diệu. Sau đó,
GV giúp HS tìm hiểu bố cục bài thơ theo mạch cảm xúc
-GV: Theo mạch cảm xúc, em có thể chia bài thơ thành mấy phần?
Trong câu hỏi này, HS có thể đưa ra những ý kiến khác nhau. GV có thể giúp HS thảo
luận và đưa ra định hướng: theo mạch cảm xúc và sự thay đổi trong giọng điệu khi đọc
bài thơ, có thể chia bài thơ thành 3 phần:
+ 13 câu đầu: Tình yêu trần thế tha thiết.
+ 16 câu tiếp: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.
+ 10 câu còn lại: Khát khao được tận hưởng thanh sắc cuộc đời.
- GV: Em đã phân đoạn bài thơ theo cảm xúc của tác giả, vậy em thấy cảm xúc của tác
giả thay đổi như thế nào trong từng đoạn thơ trên?
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 9


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

→ Từ mong muốn níu giữ, đến vui sướng, băn khoăn, lo âu đến thảng thốt và cuối cùng
là ngọn lửa bùng cháy mãnh liệt.
Sau khi học sinh đã tìm được kết cấu nội tại của bài thơ, GV giúp HS chiếm lĩnh bài
thơ bằng cách phân tích kết cấu nội tại đó. GV giúp HS phân tích cảm quan nghệ thuật
của nhà thơ. Cảm quan nghệ thuật là sự cảm nhận của nhà thơ về cuộc sống, con người,
thời đại, không gian, thời gian…
- Cảm quan nghệ thuật của Xuân Diệu trong bài thơ này là cảm quan về thời gian, mùa
xuân, tuổi trẻ. Đó là thời gian một đi không trở lại: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương


2014- 2015

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Điệu sống gấp của Xuân Diệu được biểu hiện qua hệ thống động từ mạnh: ôm, riết, say,
thâu, hôn, cắn… kết hợp việc điệp lại từ “ta muốn” làm cho giọng thơ sôi nổi, hào hứng.
GV giúp HS phân tích kĩ các động từ, các từ chỉ cảm giác mạnh, điệp từ.. trong đoạn thơ
để làm nổi lên nhịp sống của cái “tôi’’ Xuân Diệu trước sự trôi chảy của thời gian và cái
“tôi’’ trong thơ Xuân Diệu là một cái “tôi’’ lớn lao, tầm vóc sánh ngang tầm vũ trụ chứ
không nhỏ bé, an phận như cái “tôi’’ thơ cổ.
Đến đây, GV cần phân tích cho HS thấy sự thay đổi nhịp điệu trong bài thơ theo mạch
cảm xúc của nhà thơ. Nhịp điệu bài thơ sẽ chi phối cách đọc bài thơ. Nếu đọc bài thơ theo
đúng nhịp, HS có thể cảm được cái hay, cái đẹp của bài thơ.
- 4 câu thơ đầu, đọc với giọng nhanh vừa phải, chất giọng khỏe khoắn, nhấn mạnh vào
các từ: muốn, tắt, buộc, đừng(chữ đừng kéo dài hơn một chút tạo cảm giác như muốn níu
giữ), đọc liền mạch và không ngắt nhịp.
- Từ câu 5 đến câu 13, đọc với giọng hào hứng, say mê, tự tin, khẳng định tràn đầy một
niềm lạc quan yêu đời. Nhấn mạnh từ “này đây” để thấy được sự đầy đủ, phong phú bất
tận những vẻ đẹp của cuộc sống, tình yêu đang mời chào, ngắt nhịp 3/5. Riêng hai câu
thơ cuối cần chú ý: câu thơ “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” bị gãy ra ở giữa
dòng bởi một dấu chấm, vì vậy, vế đầu vẫn đọc hào hứng, còn vế sau hơi hạ giọng tạo ra
trạng thái hụt hẫng
- Từ câu 14 đến câu 29, giọng chậm, buồn, pha chút nuối tiếc. Nhấn mạnh các từ
“Nghĩa là”, “ nhưng”, “tiếc”, “bâng khuâng”, “hờn”- cách ngắt nhịp 3/5.
- Đoạn cuối bài thơ, giọng sôi nổi, nhanh, khỏe, tăng dần theo nhịp điệu và hệ thống
động từ trong đoạn thơ. Chú ý cách ngắt nhịp thơ không đều nhau.
Như vậy, nhịp điệu bài thơ một phần là do hệ thống từ ngữ chi phối. Khi phân tích bài

nghĩa rõ ràng, tô đậm được chủ đề của bài thơ và làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và tư tưởng
mới mẻ, nhân văn của Xuân Diệu. Điều đó, không những giúp HS nắm được kiến thức,
rèn luyện về kỹ năng mà còn giúp HS có những cảm nhận cá nhân về tác phẩm, vì thế dễ
tác động đến cảm xúc văn chương trong tâm hồn mỗi HS, đem đến hiệu quả tốt hơn cho
bài học.
Về phía HS, lớp học rất hào hứng trước vấn đề GV nêu ra, có những câu HS trả lời với
nhiều ý kiến khác nhau, thể hiện cách tư duy độc lập trong quá trình tìm hiểu và tiếp cận thể
loại thơ trữ tình hiện đại qua bút pháp nghệ thuật trong bài thơ. Tính tích cực của HS được
phát huy tối đa, HS tự do phát biểu ý kiến trình bày những cảm nhận riêng mang màu sác
cá nhân rõ nét.
Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ Vội vàng- Xuân Diệu theo hướng mà đề tài đã đề
cập, GV tạo cho lớp học một không khí đối thoại, tranh luận, trao đổi trực tiếp những nhận
thức của mình. Từ đó, HS hiểu đúng, hiểu sâu bài thơ khiến giờ học thêm say sưa, hứng
thú…

Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 12


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

Kết quả kiểm tra: Chúng tôi đã tổ chức kiểm tra cùng một đề bài, triển khai cùng một
đáp án về bài thơ Vội vàng - Xuân Diệu ở một số lớp khối 11 dưới hình thức tự luận
nhằm mục đích đánh giá kết quả học tập sau giờ đọc - hiểu khi tiếp cận phương thức khai
thác mới cho bài thơ. Đối chiếu kết quả các lớp trước khi áp dụng đề tài và sau khi áp
dụng, đã có biến chuyển tích cực, kết quả đạt được cụ thể như sau:
Trước khi áp dụng đề tài


2 (4,9%)

13 (31,7%)

14 (34,1%)

10(24,4%) 2(4,9%)

11a6

42

3(7,2%)

14 (33,3%)

19 (45,2%)

4(0,5%)

2(4,8%)

11a4

41

4 (9,76%)

19 (46,4%)


15 (37,5%)

20 (50%)

2 (5,0%)

0 (0%)

11a3

41

4 (9,79%)

16 (39,0%)

18 (43,9%)

3 (7,31%)

0 (0%)

11a6

42

7 (16,7%)

19 (45,2%)

Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

huy khả năng sáng tạo, tìm được điểm nhấn trong bài thơ, đặc biệt là thể loại thơ trữ tình
hiện đại được viết theo thể thơ tự do. Từ đó, có thể giúp học sinh hệ thống kiến thức, vận
dụng vào bài kiểm tra, bài thi.. Vì thế, với vai trò định hướng, người giáo viên khi giảng
dạy phải chủ động vận dụng linh hoạt, khéo léo, đổi mới phương pháp giảng dạy để tạo
nên sức hút đối trong bài thơ Vội vàng- Xuân Diệu nói riêng và môn Ngữ văn nói chung
tạo một bước đệm tốt để HS tiếp cận một số bài thơ tự do ở lớp 12 như Tây Tiến - Quang
Dũng, Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm, Đàn ghi ta của Lor - ca – Thanh Thảo…
Đề tài Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu trong chương
trình Ngữ văn 11 ở trường THPT là sự đúc kết kinh nghiệm của quá trình giảng dạy, dự
giờ đồng nghiệp của bản thân. Tuy nhiên, đây là những ý kiến cá nhân nên khi thực hiện
đề tài khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp và trao đổi của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn
thiện và áp dụng trong thực tiễn hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 14


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Ngữ văn

- Cảm nhận được lòng ham sống bồng bột, mãnh liệt và quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ
mới mẻ của Xuân Diêu;
- Thấy được sự kết hợp hài giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch triết luận sâu sắc của bài
thơ cùng những sáng tạo trong hình thức thể hiện.
B. Trọng tâm kiến thức, kĩ năng
1. Kiến thức
- Niềm khát khao giao cảm với đời và quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ mới mẻ của Xuân
Diệu.
- Đặc sắc của phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.
2. Kĩ năng
- Đọc - hiểu một tác phẩm trữ tình theo đặc trưng thể loại.
- Phân tích một bài thơ
C. Tiến trình bài dạy
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài
3. Nội dung bài mới
Hoạt động của GV và HS
Tiết 1
HĐ1: Trước khi cho HS tìm hiểu phần tiểu
dẫn nên gợi ý, tái hiện cho HS về phong
trào Thơ mới.
- GV hỏi: Phong trào Thơ mới xuất hiện
năm nào? Kể tên một số tác giả và những
bài thơ mà em biết?
- GV giới thiệu thêm về quê hương, gia
đình của Xuân Diệu.
HĐ2: Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về
tác giả, tác phẩm, bố cục bài thơ
- GV yêu cầu học sinh đọc tiểu dẫn và khái
quát những nét chính về tác giả, tác phẩm.

do.

- GV hướng dẫn HS cách đọc bài thơ
 4 câu đầu: giọng nhanh vừa phải,
không ngắt nhịp
 7 câu tiếp: Sung sướng, hân hoan.
 18 câu tiếp: băn khoăn, nuối tiếc.
 10 câu còn lại: nồng nàn, gấp gáp..
- GV đọc mẫu một đoạn, sau đó cho HS
đọc tiếp bài thơ hoặc GV biết ngâm thơ có
thể ngâm cho HS nghe.
- Cho học sinh thảo luận và phân chia bố
cục bài thơ.
+ Theo mạch cảm xúc, em có thể chia bài
thơ thành mấy phần?Nêu nội dung chính
của từng phần?

HĐ3: Hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản.
- GV hướng dẫn HS tìm hiểu ý nghĩa
nhan đề
+ Cảm nhận của em về nhan đề bài thơVội vàng?
- GV liên hệ với quan niệm sống của XD.

- Bố cục:
+ 13 câu đầu: Tình yêu trần thế tha thiết.
+16 câu tiếp: Nỗi băn khoăn trước thời gian
và cuộc đời.
+10 câu còn lại: Khát khao được tận hưởng
thanh sắc cuộc đời.
II. Đọc hiểu văn bản

+ Những hình ảnh, sắc màu, âm thanh
trong đoạn thơ có đặc điểm chung gì?

+ Câu thơ nào theo em là mới mẻ và hiện
đại nhất? Vì sao?

+ Cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ này?
- GV khái quát các ý chính cho HS.
- Hai câu cuối đoạn của đoạn thơ thể hiện
tâm trạng, quan niệm sống của Xuân Diệu
như thế nào?

2014- 2015

- Câu 5 11:
+ Câu thơ kéo dài mở rộng.
+ Điệp từ : Này đây, của
+ Hình ảnh tươi non, trẻ trung, xuân sắc,
tình tứ: ong bướm - tuần tháng mật; hoa đồng nội xanh rì; lá - cành tơ phơ phất;
yến anh – khúc tình si; ánh sáng – chớp
hàng mi; thần vui gõ cửa.
- Tháng giêng ngon như một cặp môi gần:
so sánh mới mẻ, độc đáo và táo bạoGợi
cảm giác liên tưởng về tình yêu đôi lứa,
hạnh phúc tuổi trẻ
 Mùa xuân không còn ý nghĩa trừu tượng
của thời gian mà trở thành biểu tượng cho
tuổi trẻ, hạnh phúc, tình yêu.
- Câu 12 13:
+ Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

mục đích gì?
sắc.
- Từ “xuân” ở đây được tác giả sử dụng
-Xuân: mùa xuân, tuổi xuân, đời người.
với nghĩa gì?
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 18


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

- Tới – qua, Non – già, Hết – mất, Rộng –
chật, Xuân tuần hoàn - tuổi trẻ chẳng hai
- Nhận xét về cách lập luận: thời gian, tuổi
lần… Còn trời đất - chẳng còn tôi
trẻ, hạnh phúc của nhà thơ?
 Tương phản, trái nghĩa: Khẳng định quy
luật cuộc sống - thời gian sẽ lấy đi tất
cả.
Tuổi trẻ chính là thước đo: thời gian,
tình yêu, hạnh phúc, cái đẹp.
- Sự chuyển đổi cảm giác mùi tháng năm,
vị chia phôi gợi cảm nhận gì nơi người - Tháng năm – rớm vị chia phôi.
 Sự bâng khuâng, tiếc nuối ám ảnh vạn
đọc?
vật. Sự sống, mùa xuân nhuốm màu ảm
- HS phát biểu

- Nghệ thuật vắt dòng với 3 từ và: Sự mê
- Cảm nhận về thái độ sống của nhà thơ?
say vồ vập trước cảnh đẹp, tình đẹp.
NT tăng tiến, nhịp thơ gấp gáp, kiểu câu
cầu khiến: Cái tôi khát khao cuộc sống đến
* GV định hướng mở rộng
cuồng nhiệt khẳng định lẽ sống vội vàng để
Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Trang 19


Sáng kiến kinh nghiệm

2014- 2015

- Sống vội vàng, cần phải hiểu như thế nào tận hưởng cuộc sống.
để đạt được giá trị tích cực?
Sống vội vàng, cuống quít không có
nghĩa là ích kỷ, tầm thường, mà đó là cách
sống biết cống hiến, biết hưởng thụ. Quan
niệm nhân sinh của thi sĩ.
HĐ3: Hướng dẫn HS tổng kết.
- Nêu những đặc sắc về nghệ thuật của tác
phẩm?
III. Tổng kết
- HS trả lời
1. Nghệ thuật
- GV khái quát vấn đề.
- Giọng điệu linh hoạt.



Sáng kiến kinh nghiệm

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Tổ Ngữ văn

2014- 2015

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
Biên Hòa, ngày 20 tháng 5 năm 2015

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2014 – 2015
Tên sáng kiến kinh nghiệm:

Hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu trong chương
trình Ngữ văn 11 ở trường THPT.
Họ và tên tác giả : Nguyễn Thị Mai Lan
Đơn vị: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Lĩnh vực:
- Quản lý giáo dục

- Phương pháp dạy học bộ môn: ...................................
- Phương pháp giáo dục

- Lĩnh vực khác: ............................................................

- Đã áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban 
Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT 
Trong ngành 
Xếp loại chung: Xuất sắc Khá 
Đạt 
Không xếp loại 
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN

XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN

Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Trang 21


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Mai Lan - THPT Nguyễn Hữu Cảnh

2014- 2015

Trang 22


Sáng kiến kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status