tổ chức dạy học bài thơ vội vàng của xuân diệu theo đặc điểm của thơ tự do - Pdf 24

Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Môn văn, một môn học chứa đựng những nội dung phong phú và đa
dạng về cuộc sống sinh động, về văn hóa tinh thần tư tưởng, tâm hồn của dân
tộc, được dành một vị trí xứng đáng trong trường phổ thông.
Những năm gần đây, vấn đề dạy học văn trong nhà trường Phổ thông
ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập
đến vấn đề này, và ai cũng cho rằng không có một phương pháp chung nào cho
việc giảng dạy tác phẩm văn chương. Mỗi người giáo viên có một phương pháp
riêng, và mỗi tác phẩm lại áp dụng những phương pháp khác nhau.
Xuân Diệu là một đỉnh cao của phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Thơ
của Xuân Diệu đã từng làm ngạc nhiên cho làng thơ thời kì này. Thơ ông đã
được đưa vào SGK Ngữ văn 11, tập1, ban cơ bản và nâng cao. Và bài thơ
được chọn là bài thơ “Vội vàng”-một sáng tác hay thể hiện được vẻ đẹp của
nghệ thuật thơ Xuân Diệu.
Thơ tự do với những tính chất tự do của nó, không bị câu thúc, bó buộc
bởi một khuôn khổ, quy luật nào, cho phép nhà thơ bộc lộ những cảm xúc tràn
trề mà không quá dàn trải. Như vậy, thơ tự do là thể thơ thích hợp cho những
sáng tác trữ tình. Và bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là một bài thơ trữ tình
được viết theo thể thơ tự do.
Như vậy , nếu dựa vào đặc trưng của thơ tự do để tìm hiểu nội dung ý
nghĩa và những cảm xúc trong bài thơ “Vội vàng” có thể mang đến những
hiệu quả nhất định. Và việc giảng dạy bài thơ “Vội vàng”theo những đặc
trưng của thơ tự do cũng là một cách dạy mới.
Với mong muốn giúp học sinh chiếm lĩnh tác phẩm “Vội vàng” bằng
niềm đam mê, thông qua hình thức nghệ thuật của bài thơ, tôi quyết định chọn
đề tài “Tổ chức dạy học bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu theo đặc điểm
của thơ tự do”, mong đóng góp một phần nhỏ của mình vào hệ thống các
phương pháp giảng dạy bài thơ này của những người nghiên cứu trước.

ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của phong trào Thơ mới.
c) Giữa những năm 1975 đến nay
- Trong cuốn “Con mắt thơ”, Đỗ Lai Thúy đã phản ánh những cố gắng,
tìm tòi của các nhà nghiên cứu về phong cách và thi pháp thơ Xuân Diệu.
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
2
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

- Tong cuốn “Thơ mới những bước thăng trầm”, tác giả Lê Đình Kỵ đã
thể hiện tâm hồn nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ
thuật của ông.
Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có những công trình khác
như: “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca”(do Huy Cận và Hà Minh
Đức chủ biên), “Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945”(qua
“Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”) của Lý Hoài Thu, luận án tiến sĩ “Thế
giới nghệ thuật thơ ca Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945” của tác
giả Lê Quang Hưng, và cuốn “Ba đỉnh cao Thơ mới” của Chu Văn Sơn.
Tóm lại, Xuân Diệu là nhà thơ lớn trong phong trào Thơ mới nói riêng và
nền văn học hiện đại nói chung. Xuân Diệu đã là một mảnh đất nghiên cứu
lớn cho nhiều nhà nghiên cứu và sẽ còn nhiều vấn đề được khai thác và tìm
hiểu ở tác giả này qua những tác phẩm của ông.
1.2. Nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về việc giảng dạy thơ văn của
Xuân Diệu trong nhà trường cũng đã có những đóng góp đáng kể với các
khóa luận như: “Phương pháp phân tích tác phẩm trữ tình của Xuân Diệu
trong nhà trường PT” của Nguyễn Kim Hằng, “Một số phương pháp và biện
pháp dạy học thơ lãng mạn của Xuân Diệu trong chương trình lớp11 THPT”
của Nguyễn Thị Mai Phương, luận án thạc sĩ “Hướng dạy học mới bài thơ
“Vội vàng” của Xuân Diệu” của Trương Văn Thắng…

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
báo cáo được chia làm 3 chương:
Chương I: Tìm hiểu chung về thơ tự do
Chương II: Thơ tự do của Xuân Diệu và thơ tự do của Xuân Diệu trong
trường THPT
Chương III: Tổ chức dạy học bài thơ “Vội vàng” theo đặc điểm của thơ tự do
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
4
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

PHẦN NỘI DUNG
Chương I
TÌM HIỂU CHUNG VỀ THƠ TỰ DO
I. Sự hình thành và phát triển của thơ tự do trong nền văn học Việt Nam
Dựa vào thể luật, người ta phân ra thơ cách luật và thơ tự do.Trong đó
“thơ cách luật bao gồm tất cả những bài thơ làm theo những thể thức ổn định,
cố định về mặt thi pháp”(theo nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm), được hình
thành và phát triển trong nền văn học Trung đại từ thế kỉ X - đến XIX.
Còn thơ tự do bao gồm các bài thơ không theo một thể thức ổn định, cố
định nào cả. Thơ tự do chỉ thực sự được biết đến từ phong trào Thơ mới 1932
- 1945. Nhưng trong thời kì này thuật ngữ thơ tự do ít được nhắc đến. Tuy
nhiên trong thời kì này vẫn phải kể đến những bài thơ tự do như “Xuân về”
của Lưu Trọng Lư, “Mùa đông” của Nam Trân, “Thiên đường và địa ngục”
của Võ Liêm Sơn, “Thanh khí”, “Thư, thơ” của Phạm Văn Hạnh. Một số bài
thơ trong thời kì này có đặc điểm là tuy câu thơ và bài thơ không hạn định về
số từ, số câu, nhưng các câu thơ đều có sự hiệp vần, người viết chú ý nhiều
đến nhịp điệu của bài thơ, nhịp điệu bên trong và cả phần nhịp điệu bên ngoài,
bộc lộ rõ trong âm thanh và tiết tấu.
Giai đoạn 1945 - 1975, Chế Lan Viên kêu gọi:

những nguyên tắc khuôn sáo của câu, chữ, vần và nhịp…không đủ để nhà thơ
bộc lộ những cảm xúc riêng tư dồi dào, phong phú. Vậy nên các nhà thơ tìm
đến thơ tự do như một giải pháp mới trong việc chuyển tải những nội dung trữ
tình.
II. Về khái niệm và những đặc điểm của thơ tự do
1. Khái niệm thơ tự do
Theo từ điển tiếng Việt, tự do là “trạng thái không bị cấm đoán, hạn chế
vô lý trong việc làm nào đó (bị gò bó, mất hết tự do)”.
Về khái niệm “thơ tự do” thì có rất nhiều ý kiến. Chẳng hạn như trong
“Thuật ngữ Văn học” thì đặt thơ tự do với thơ cách luật để so sánh: “Hình
thức cơ bản của thơ phân biệt với thơ cách luật hoặc thơ văn xuôi ở chỗ
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
6
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

không bị ràng buộc vào các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, niêm, đối…
Nhưng thơ tự do lại khác thơ văn xuôi ở chỗ văn bản có phân dòng và xếp
song song thành hàng, thành khổ như những đơn vị nhịp điệu , có thể có vần.
Thơ tự do là thơ phân dòng nhưng không có thể thức nhất định. Nó có thể
là hợp thể, phối xen các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau, hoặc hoàn
toàn tự do”.
Trong cuốn “Thơ ca Việt Nam (hình thức và thể loại)” NXB Khoa học
xã hội, H, 1971, hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức thì cho rằng:
“Khi nói đến thơ tự do, chúng ta thường muốn nói đến một thể thơ không tuân
theo những quy tắc về cách luật như các thể thơ Đường, thơ lục bát, Thơ
mới…”.
Mã Giang Lân thì quan niệm: “thơ tự do chủ yếu nói đến cấu trúc, hình
dáng của nó, số chữ của câu không hạn định có thể 1 chữ đến 10 chữ, hoặc
nhiều hơn. Số câu trong khổ thơ cũng không hạn định, có thể là 1câu đến

Máng chảy - suối trên nhà
(Xuân Diệu)
cũng có khi kéo dài đến mấy chục câu như bài thơ “Dối trá” của Xuân Diệu in
trong tập “Thơ thơ” có tới 65câu, hay bài “Thanh niên” in trong tập “Gửi
hương cho gió” cũng có tới 65 câu…
Số câu trong mỗi khổ thơ cũng khác nhau, có khi 1 câu cũng làm thành
một khổ, có khi bảy, tám câu mới làm thành một khổ. Điều này khác với thơ
cách luật. Thơ cách luật thì các khổ thơ thường đều nhau, và thường là 4câu
thơ một khổ.
Số chữ trong các câu thơ trong cùng một bài cũng không đều nhau, có
khi là 1chữ, 2chữ, 3chữ….cũng có khi 11chữ, 12 chữ, Nguyễn Thị Kiên còn
có câu thơ kéo dài đến 27chữ.
Trong thơ tự do vẫn có các yếu tố vần, nhịp và đối, nhưng không có một
quy định gì đối với các yếu tố này.
Tổng hợp các ý kiến trên, chúng ta có thể thấy có hai cách hiểu về thơ tự
do: Thơ tự do theo nghĩa hẹp ( thơ tự do hoàn toàn) là những bài thơ không
chỉ tự do về cảm xúc, nội dung bên trong, mà còn tự do về hình thức tổ chức
câu thơ, cách sử dụng từ ngữ, số câu trong một bài không giới hạn, số câu
trong một khổ cũng không đều nhau, số chữ trong một câu cũng không đều
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
8
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

nhau. Thơ tự do theo nghĩa rộng (thơ tự do không hoàn toàn) là những bài thơ
hình thành từ phong trào thơ mới; bài thơ mang những cảm xúc mới lạ không
bi gò bó như thơ cổ; tuy nhiên, về mặt hình thức, những bài thơ này vẫn chịu
sự câu thúc của các yếu tố vần, luật.
Như Xuân Diệu nói,thơ tự do không phải quá tùy tiện. Thơ tự do cũng
luôn đòi hỏi giữ được phẩm chất của thơ cả về nội dung cũng như hình thức

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
Còn mùa hè trong thơ mới thì:
“Trời trong biếc không qua mây gợn trắng,
Gíó nồm nam lộng thổi cánh diều xa
Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng,
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt mây qua”
(Anh Thơ - Bức tranh quê)
Đặc trưng hình thể của ngôn từ thơ tự do không chỉ ở kho từ vựng mà
chủ yếu ở cách kết hợp từ, ở cấu trúc ngữ pháp đầy mới mẻ và sáng tạo.
2.2. Cấu trúc thơ tự do
Theo từ điển tiếng Việt thì cấu trúc là “quan hệ giữa các thành phần
tạo nên chỉnh thể”.
Một bài thơ là một cấu trúc tương đối hoàn chỉnh ở hai cấp độ, cấp
độ hình tượng và cấp độ văn bản ngôn từ
Hình tượng là toàn bộ thế giới khách quan được nhà thơ chắt lọc,
phản ánh vào thơ. Để xây dựng hình tượng, nhà thơ đi từ chi tiết, hình ảnh
trong cuộc đến tứ thơ, ngôn ngữ thơ, Trong “Văn tâm điêu long” Lưu Hiệp
viết “Tứ thơ giúp ta lĩnh hội toàn bộ đối tượng miêu tả của thơ và phương tiện
nghệ thuật thơ như hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu…”.
Cấu trúc hình tượng trong thơ tự do là do mạch cảm xúc của tác giả
chi phối. Nhà thơ chắt lọc những hình tượng trong thế giới khách quan và
phản ánh vào thơ thông qua văn bản ngôn từ.
Cấu trúc văn bản ngôn từ, đó là cách tổ chức ngôn từ trong câu thơ,
bài thơ. Cấu trúc một bài thơ tự do không khép kín như thơ cổ mà thường là
cấu trúc mở. Hiện tượng đó thể hiện ở việc chia bài thơ thành nhiều khổ thơ,
khái niệm câu thơ và dòng thơ bị phá vỡ. Một câu thơ tự do có khi không đủ ý
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
10

Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
11
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

Tóm lại, cấu trúc thơ tự do là ít bị câu thúc nhất bởi luật thơ, nhà thơ có
thể thoải mái tổ chức câu thơ nhằm đạt được hiệu quả diễn đạt cao nhất.
2.3 Nhịp điệu trong thơ tự do
Theo từ điển tiếng Việt thì nhịp điệu là “sự lặp lại một cách tuần hoàn
các âm mạnh và nhẹ theo những trật tự cách thức nhất định”.
Nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính
chất chu kì, cách quãng, hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ
ngừng, chỗ ngắt của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ,
thậm chí đoạn thơ.
Nhịp thơ là đặc trưng cơ bản của hình thức thơ. Nhịp điệu của thơ bao
gồm nhiều yếu tố: âm tiết, đoạn tiết tấu, giai điệu và vần thơ. Sự tổng hợp và
hài hòa của những nhân tố đó tạo thành nhịp điệu thơ. Và đối với thơ tự do thì
“thơ tự do tạo điều kiện nhiều nhất để thơ có vẻ riêng về nhịp điệu mà mỗi bài
thơ phải phấn đấu để có được”. Chẳng hạn như bài thơ Vội vàng của Xuân
Diệu, nhà thơ sử dụng những thể thơ khác nhau trong cùng một bài thơ là để
diễn tả những cảm xúc thay đổi theo từng bước suy nghĩ của tác giả.
Yếu tố chủ yếu để tạo nên nhịp thơ là vần. “Vần là sự hòa âm, sự
cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai
âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như
liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp”. Như Xuân Diệu nói:
“có vần những bước thơ không có vẻ chông chênh mà trái lại, hồn thơ dựa vào
những câu thơ một cách vững chắc”, “vần giúp cho trí nhớ của công chúng,
vần giúp làm nảy sinh những tứ thơ tân kì, vần tạo cho sự nghỉ ngơi một cách
khoan khoái, nghỉ hơi mà có vần thì lý thú như ngậm âm nhạc vào miệng”.
Tuy nhiên, trong thơ tự do đã có những xu hướng làm thơ không vần

thể không có cái tôi. Không có thì dễ mắc cái tội cóp nhặt, phô diễn”. Nói như
vậy không có nghĩa là nhà thơ đưa cái thế giới nhỏ bé hữu hạn của riêng bản
thân mình vào tác phẩm là đủ, mà ngoài cái thế giới nhỏ bé ấy của tác giả còn
có thế giới nội tâm của nhân vật trữ tình.
Thơ trữ tình nào cũng nhấn vào sợi dây tình cảm, sự rung động tâm trạng
riêng tư của cá nhân. Nhờ có sự sáng tạo mang tính chất chủ quan của nhà thơ
mà thơ ca có nhiều giọng điệu, tư tưởng, hình tượng thơ phong phú. Tính chủ
quan trong sáng tạo được thể hiện bằng cái tôi trong thơ.
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
13
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

Cái tôi trong thơ có thể là cái tôi nhà thơ. Đó là cảm xúc, suy nghĩ của
nhà thơ trước cuộc đời, trước sự rung ngân của thế giới khách quan mà anh ta
thu nhận được và chuyển thành lời. Qua hình ảnh ngôn ngữ thơ, người đọc có
thể nhận ra lời thơ mà tác giả là một thực thể đang sống, đang phát ngôn.
Cái tôi đó cũng có thể là cái tôi trữ tình. Đó là cái tôi được nhà thơ phân
thân, hóa nhập vào số phận nhân vật trong cuộc sống hiện thực. Nhà thơ
chuyển hóa cảm xúc của mình thành cảm xúc của đối tượng miêu tả.
Cái tôi trong thơ tự do trong Thơ mới như là một sự thức tỉnh của ý thức
cá nhân đòi tâm sự nỗi niềm tàng ẩn trong lòng
Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất
Không có chi bạn bè nổi cùng ta.
(Xuân Diệu - Hi Mã Lạp Sơn)
Trước Cách mạng tháng Tám, cái tôi trữ tình trong thơ tự do là cái tôi
giãi bày tâm trạng theo ý thức tự do của cá nhân, theo nỗi buồn cô đơn:
Lòng anh như nước hồ thu lạnh,
Quạnh quẽ đêm soi bóng nguyệt tà
(Lưu Trọng Lư - Khi mùa rụng lá)

Tóm lại, thơ tự do là một thể hình thành từ phong trào Thơ mới. Thơ tự do
mới cả về nội dung và hình thức. Nội dung trong thơ tự do tuân theo mạch
cảm xúc và mạch suy tưởng của nhà thơ. Hình thức thơ tự do không bị câu
thúc bởi niêm, luật và đối như thơ cách luật… Nhà thơ tự do sử dụng từ ngữ
và câu thơ theo ý đồ nghệ thuật của mình.
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
15
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

Chương II
THƠ TỰ DO CỦA XUÂN DIỆU VÀ THƠ TỰ DO
CỦA XUÂN DIỆU TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. Thơ tự do của Xuân Diệu
1. Xuân Diệu - “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”
“Người (Xuân Diệu) đã tới giữa chúng chúng ta với một y phục tối tân và
chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương
xa ấy” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Xuân Diệu đã đến với làng thơ
Việt Nam bằng cái mới lạ rất phương Tây của mình. Ban đầu người ta có thể
choán ngợp trước cái mới lạ đó, nhưng khi đã tìm hiểu về con người này thì ta
lại thấy “Ông táo bạo trong dùng từ, đổi mới các âm tiết trong câu, vẫn giữ lối
kết khổ, hợp vần của truyền thống. Đây chính là thể hiện thú vị của mối quan
hệ biện chứng, thẩm thấu lẫn nhau giữa mặt tân kì, Âu Tây với mặt dân tộc
truyền thống trong tiếng thơ Xuân Diệu”(Lê Quang Hưng)
Như vậy, theo Xuân Diệu thì thơ tự do không phải là hoàn toàn được tự
do, mà tự do phải có quy tắc. Cái mới của thơ Xuân Diệu đó là ở cách dùng
từ, ông dùng từ rất độc đáo. Chúng ta cũng có thể thấy thơ Xuân Diệu ít
những bài tự do hoàn toàn, chủ yếu là thơ 7 chữ, 8 chữ…, chỉ có 4 bài thơ tự
do hoàn toàn: Vội vàng, Tương tư chiều, Khi chiều giăng lưới, Thở than.
2. Đặc điểm thơ tự do của Xuân Diệu

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Xuân Diệu ý thức được cái tôi của mình cùng với ý thức sự cô đơn của
mình
Người si muôn kiếp là hoa núi
Uổng nhụy long tươi tặng khách hờ
Cái mới trong thơ Xuân Diệu không chỉ ở nội dung bài thơ, mà ngôn
ngữ chuyển tải nội dung ấy cũng rất mới, cách dùng từ của Xuân Diệu rất tự
do và táo bạo. Đó là cách dùng từ theo ảnh hưởng của thơ Pháp. Trước hết, đó
là ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, mà người đề xướng đầu tiên đó là
Rabelaire, một nhà thơ Pháp vào thế kỉ XIX.
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
17
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

Trong thơ Xuân Diệu có rất nhiều từ dùng với nghĩa tượng trưng.Trước
tiên là các từ chuyển đổi cảm giác, giao thoa cảm giác:
“Này lắng nghe em khúc nhạc thơm”.
Hay:
“Đàn buồn, đàn chậm, ôi đàn lạnh
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân”.
Tượng trưng, đó còn là việc dùng một hình ảnh để biểu trưng cho nhiều
hình ảnh khác:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”.
Trong thơ Xuân Diệu còn sử dụng một hệ thống động từ mạnh thể hiện
tình yêu mãnh liệt, niềm khao khát sống mãnh liệt như: ôm, riết, cắn, ghì, …;
hệ thống các từ láy, và các từ gợi hình: Phất phơ, lả lả, xiêu xiêu, ngả ngả,

“không phải muốn làm gì thì làm”.
II. Thơ tự do của Xuân Diệu trong trường PT
1. Thơ tự do trong trường PT
Trong chương trình Ngữ văn11, ban cơ bản có các bài thơ tự do:
+Vội vàng - Xuân Diệu
+Tràng giang - Huy Cận
+Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử
+Từ ấy - Tố Hữu
Trong chương trình Ngữ Văn12, ban cơ bản có các bài thơ tự do:
+Tây Tiến - Quang Dũng
+Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm
+Sóng - Xuân Quỳnh
+Đàn ghi ta của Lor - ca – Thanh Thảo
Và một số bài đọc thêm
Nhưng các bài thơ này chủ yếu là các bài thơ tự do không hoàn toàn,
chỉ có một số bài được coi là thơ tự do hoàn toàn, đó là bài “Vội vàng”, “Đàn
ghi ta của Lor - ca”.
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
19
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

Như vậy, thơ tự do chiếm một vị trí khá quan trọng trong chương trình
THPT, nó góp phần giúp HS hiểu về một thờ đại trong thi ca, thời đại của
Thơ mới
2. Vội vàng - Bài thơ tự do hoàn toàn của Xuân Diệu thể hiện cảm xúc
thi ca và triết lý nhân sinh của Xuân Diệu
Trước hết, chúng ta cần thấy được giá trị của bài thơ “Vội vàng”, bởi
đây là một trong bốn bài thơ tự do hiếm hoi của Xuân Diệu. Nó không chỉ
mang đầy đủ những đặc điểm của thơ Xuân Diệu, mà trong bài thơ còn có

phóng. Tác giả đã tận hưởng đầy đủ những cảm giác của tình yêu, của thiên
nhiên mang lại.
+Bài thơ còn có một hệ thống các điệp từ:
Tôi muốn(2lần), chỉ cái khao khát của tác giả, niềm mong muốn được giữ
lại màu sắc, hương thơm của đất trời.
Này đây(5lần.5câu) để kể ra những “đặc sản” của thiên nhiên, rất phong
phú, rất giàu có, tất cả đều xanh non, tươi mới, mơn mởn và hấp dẫn.
Xuân….nghĩa là… , dùng trong kiểu câu thơ định nghĩa(3lần), chứng
minh cho sự trôi chảy của thời gian, thời gian là thời gian của tuổi trẻ, thời
gian một đi không trở lại, không thể níu giữ được.
Ta muốn(4lần), thể hiện khát khao mãnh liệt, tưởng như không gì cưỡng
lại nổi, đó là khát khao chiếm lĩnh.
+ Trong bài còn có hệ thống các từ mang nghĩa ẩn dụ, so sánh rất mới, lạ. Đó
là những từ chỉ tính chất: tuần tháng mật, xanh rì, phơ phất, ngon, môi gần,
mùi tháng năm. Tất cả đều chỉ sự mơn mởn đầy sức sống của thiên nhiên
đang mời gọi con người.
→ Nhà thơ tận hưởng cuộc sống bằng mọi giác quan, mọi thức nhọn của
cuộc sống, bằng trái tim nồng nhiệt và trẻ trung.
2.2. Về cấu trúc trong bài thơ Vội vàng
Bài thơ là sự đan xen các thể thơ với nhau. Thể thơ 5 chữ, 8 chữ, có câu
3 chữ, có câu đến 10 chữ, tạo ra những tạo ra những nhịp thơ khác nhau trong
mỗi đoạn thơ. Bốn câu thơ 5 chữ thể hiện ước muốn của cái “tôi”, bên cạnh
đó là những câu thơ 8 chữ dàn trải hơn viết về thiên nhiên Điều đó thể hiện
niềm khao khát muốn níu giữ những sắc hương đó là niềm khao khát của một
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
21
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

cái tôi nhỏ bé giữa một thiên nhiên rộng lớn. Niềm khao khát, ước muốn ấy

22
Báo cáo khoa học Phạm Thị Phấn

gọn, rắn chắc, tạo nên sự liền mạch cho bài thơ. Câu thơ 8chữ nhịp đều đều,
da diết, dàn trải, phù hợp với tâm hồn yêu đời của thi nhân khi khám phá ra
một thiên đường nơi trần gian.
Kiểu câu thơ trùng điệp, câu thơ vắt dòng tạo ra một nhịp điệu nhanh,
hối hả, sôi trào. Kiểu câu thơ có quan hệ đối lập tạo nên những biến tấu đột
ngột, những khúc gãy trong tâm trạng. Kiểu câu thơ định nghĩa tạo nên giọng
điệu đầy triết lý.
Sự lặp lại của các từ chỉ định, quan hệ từ, hư từ…trong đơn vị câu thơ,
đoạn thơ như một nốt luyến trong âm nhạc, để kết nối âm thanh, tiết tấu giữa
các từ, câu thơ, đoạn thơ. Những động từ mạnh là những điểm nhấn tập trung
cường độ, cao độ, sức mạnh của tư tưởng và cảm xúc sôi trào trong khát vọng
chiếm lĩnh cuộc đời của nhà thơ.
2.4. Mạch suy tưởng trong bài thơ
Nếu như “Đây mùa thu tới” là sự yêu đời thể hiện qua nỗi buồn, “Thơ
duyên” là sự yêu đời thể hiện qua tương hòa giao cảm, “Tỏa nhị Kiều” là sự
yêu đời thể hiện qua thái độ sợ phải hòa tan vào một thế giới nhờ nhạt không
bản ngã, thì “Vội vàng” là một sự yêu đời thể hiện qua sự si mê, ham hố và
một triết lý nhân sinh mới mẻ chưa từng thấy.
Như vậy, mạch suy tưởng trong bài thơ là mạch suy tưởng của một cái
tôi Xuân Diệu đầy si mê, ham sống, ham tận hưởng cuộc sống, và chính vì
ham sống mà Xuân Diệu suy nghĩ về thời gian một đi không trở lại, vì thế
phải sống gấp, sống vội vàng.
2.5. Cái tôi trữ tình trong bài thơ “Vội vàng”
Xuân Diệu xuất hiện như một đỉnh cao của phong trào Thơ mới. Và
hơn bất cứ nhà thơ nào khác, ông đã bộc lộ trong thơ một cái tôi trữ tình
phong phú và độc đáo.
Cái tôi Xuân Diệu trong bài Vội vàng, trước hết là cái tôi đầy quyền

diễn đạt, qua từng tiếng nói mới của thơ”.
Như vậy, để thấy cái hay của bài thơ, chúng ta phải hiểu được những
sáng tạo độc đáo của tác giả. Nhưng không phải ai cũng nhận thấy những nét
độc đáo đó trong tác phẩm. Để giúp HS cảm nhận được cái hay của tác phẩm,
người GV phải chỉ ra cho HS những sáng tạo độc đáo của tác giả.
Vậy, để giúp HS cảm nhận được hết những cái hay trong bài thơ “Vội
vàng”, người GV cũng cần giúp HS tìm ra những sáng tạo nghệ thuật độc đáo
của tác giả Xuân Diệu. Muốn vậy, cả GV và HS phải tuân theo một số yêu
cầu về mặt phương pháp.
Khi dạy bài thơ “Vội vàng”, GV cần giới thiệu cho HS: “Vội vàng” là
một bài thơ trữ tình làm theo thể thơ tự do. Khi dạy thơ tự do, người thầy cần
xuất phát từ đặc trưng thi pháp của thể loại, từ đặc điểm tiếp nhận của HS để
có những phương hướng cụ thể định hướng phát huy tính tích cực của HS,
chủ động, sáng tạo của HS. Đồng thời, GV cũng cần cung cấp cho HS những
hiểu biết về đặc trưng thi pháp về thơ tự do. Những đơn vị kiến thức này sẽ
giúp các em hiểu kết cấu của bài thơ, ngôn ngữ, nhịp điệu, hình tượng thơ, từ
đó các em hình thành các năng lực, kĩ năng cần thiết để tiếp nhận tác phẩm.
Líp: K56C - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Hà Nội
25

Trích đoạn Tiến trình bài dạy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status