skkn sử DỤNG văn bản THƠ LIÊN QUAN để hỗ TRỢ đọc HIỂU, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG dạy học NGỮ văn THPT - Pdf 37

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT
------------------Mã số:……………….

SẢN PHẨM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG VĂN BẢN THƠ LIÊN QUAN ĐỂ HỖ TRỢ ĐỌC HIỂU,
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN THPT
Thực hiện : NGUYỄN HIẾU

Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác






Có đính kèm :
 Mô hình

Phần mềm


Chức vụ: Giáo viên
8.
Đơn vị công tác: Trường THPT Thống Nhất .
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 1989
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn .
III/KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Giảng dạy Ngữ văn
- Số năm có kinh nghiệm : 26
- Các đề tài khoa học và sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+Thiết kế web hỗ trợ Dạy học Ngữ Văn 9 theo chuẩn KTKN (năm 2011)
+Thiết kế web hỗ trợ Dạy học Ngữ Văn 12 theo chuẩn KTKN - Tập II
(năm 2012) .
+Một số mô hình tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh THPT góp phần
thực hiện Phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường ( năm 2013).
+Thiết kế web hỗ trợ Dạy học Ngữ Văn 11 theo chuẩn KTKN - Tập I
(năm 2014) .
+Một vài mô hình giới thiệu gương sáng trong phong trào “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (năm 2015).

Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM


Từ lí do trên, tôi xin chọn đề tài “Sử dụng văn bản thơ liên quan để hỗ trợ
đọc hiểu, kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn Trung học phổ thông” cho sáng
kiến kinh nghiệm của mình như niềm say mê và cũng là một thử thách, hướng tìm tòi
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học của bản thân, hi vọng góp phần nhỏ bé vào công
cuộc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
II/- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lý luận
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

- Công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH năm học 2015-2016 của Bộ
GD-ĐT đã chỉ đạo: tăng cường các hoạt động thực hành vận dụng kiến thức đã học
vào thực tiễn, chú trọng giáo dục đạo đức/giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu
biết xã hội cho học sinh; điều chỉnh nội dung và yêu cầu các môn học và các hoạt
động giáo dục một cách linh hoạt, đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với đối tượng học
sinh, thời gian thực tế và điều kiện dạy học của địa phương trên cơ sở chuẩn kiến
thức, kỹ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; tăng cường đổi mới
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo hướng phát huy tính chủ
động, tích cực, tự học, phát triển năng lực học sinh. Đó là yêu cầu chung mang tính
định hướng vừa tổng quát vừa cụ thể về nhiệm vụ giáo dục trung học trong năm học.
Môn Ngữ văn không nằm ngoài chủ trương đó. Nghĩa là, cùng với các bộ môn khác,
môn Văn tiếp tục đổi mới về phương pháp giảng dạy, nhất là dạy văn theo chủ đề; dạy
văn tích hợp kiến thức liên môn, vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn; dạy Văn
theo hướng đánh giá năng lực học sinh...Trong đó, Đọc hiểu văn bản trở thành khâu


Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

những chặng, những trung gian, những cột cây số. Văn xuôi lôi cuốn người như dòng
nước, đưa ta đi lần lượt, từ điểm này qua điểm khác. Thơ, trái lại, chỉ chọn một ít
điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo. Thơ là tổng hợp, kết
tinh. Văn xuôi cho phép không mười phần hoàn hảo, nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi
sự toàn bích. Như vậy, sử dụng văn bản thơ để hỗ trợ đọc hiểu văn bản trong bộ môn
Ngữ văn sẽ có tác dụng tạo sự hấp dẫn cho học sinh. Các em sẽ được đọc và hiểu văn
bản ở một tầng bậc mới, thay vì đọc hiểu trực tiếp văn bản thì các em sẽ dựa vào một
văn bản thơ thông qua thơ hoá để hiểu văn bản theo yêu cầu. Chính Đường đi của thơ
là con đường đưa thẳng vào tình cảm sẽ có sức lay động, rung cảm học sinh, giúp các
em hiểu văn bản một cách sâu sắc.
2. Cơ sở thực tiễn
a.Thuận lợi
- Trong chương trình Ngữ văn THPT, học sinh được học nhiều văn bản thơ, từ ca
dao, truyện thơ ...thuộc văn học dân gian đến thơ trung đại, thơ cận hiện đại. Ngoài ra,
các em cũng tiếp cận những vấn đề mang tính lí luận và phương pháp như Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật;Văn bản văn học; Nội dung và hình thức văn bản văn học
(Khối 10); Một số thể loại văn học: Thơ, truyện(Khối 11); Nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ; Mấy ý nghĩ về thơ;Luật thơ;Giá trị văn học và tiếp nhận văn học(Khối
12)...Nghĩa là, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản từ văn bản thơ, lí luận
văn học về thơ, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, nhất là thể loại thơ đến cách thức
đọc hiểu văn bản thơ. Vì thế, khi đọc hiểu một văn bản thơ, dù văn bản đó nằm ngoài
chưa trình, các em đã biết hoặc tiếp xúc lần đầu, thì vẫn không bỡ ngỡ. Đặc biệt, văn

D. Bụt cho đàn chim sẻ xuống giúp Tấm.
2. Trong truyện Tấm Cám, Tấm đã “hóa bao nhiêu kiếp”? Đó là những kiếp
nào?
3. Sự hóa kiếp của Tấm và sự xuất hiện của nhân vật ông Bụt cho thấy truyện
Tấm Cám thuộc loại ...
A. Truyện cổ tích về loài vật.
B. Truyện cổ tích sinh hoạt.
C. Truyện cổ tích thần kì.
4. Ông Bụt trong truyện cổ tích là kiểu nhân vật chức năng. Vai trò của ông là
giúp những ước mơ, khát vọng của nhân vật chính diện trở thành hiện thực. Trong
truyện Tấm Cám, đó là:
A. Khát vọng giàu sang
B. Khát vọng về chính nghĩa và lẽ công bằng.
C. Khát vọng hạnh phúc.
D. Khát vọng yêu thương.
5. “Tin em, em cướp mất chồng”
Nhân vật “em” mà lời thơ nhắc đến là nhân vật nào trong truyện?
6. Liệt kê nhân vật “người ngoan” và “người gian” trong truyện Tấm Cám.
7. Giá trị tư tưởng của truyện cổ tích thần kỳ Tấm Cám là:.....
(Viết không quá 5 câu để cụ thể hóa giá trị tư tưởng ấy).
Cách ra đề trên đã có hướng đổi mới tích cực, có thể làm đề mẫu để tập huấn
cho giáo viên khi biên soạn đề đọc hiểu. Người biên soạn không lấy ngữ liệu từ truyện
Tấm Cám ( như thường thấy trong cách ra đề bình thường) mà dùng ngữ liệu trích từ
bài thơ Lời của Tấm của tác giả Ánh Tuyết để làm cơ sở cho việc đọc hiểu văn bản.
Như vậy, học sinh muốn làm được đề này phải hiểu được truyện Tấm Cám ( chương
trình Ngữ Văn 10), từ đó có cách hiểu bài thơ để trả lới 7 câu hỏi trên. Đề mẫu này đã
tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên khi tìm ngữ liệu để ra đề đọc hiểu, một mặt vừa
gắn với nội dung chương trình đã học, một mặt thể hiện sự mới mẻ, kích thích tư duy
học sinh trong quá trình làm bài.
- Ngay trong phần Luyện tập sách giáo khoa Ngữ văn 10 HKI trang 43 bài số 3

PGS-TS Đỗ Ngọc Thống là các loại: Câu hỏi về thể loại; Câu hỏi hướng vào yếu tố
ngoài văn bản;Câu hỏi về vai trò người tiếp nhận;Câu hỏi hướng vào yếu tố văn
bản...thì đọc hiểu những bài dạng thơ có nội dung liên quan lại nâng thêm một tầm
hiểu biết cao hơn. Đó là một trong những thách thức lớn đối với học sinh.
Tuy nhiên, cái khó ló cái khôn, không phải vì khó khăn mà chúng ta chùn bước
hoặc không dám tìm hiểu khám phá, nhất là một khi trong tài liệu tập huấn về đổi mới
giảng dạy Ngữ văn THPT của Bộ GD-ĐT đã đề cập, mở đường cho hướng tiếp cận
mới này thì việc vận dụng thơ có nội dung liên quan lại cần đặt ra và thực hiện tiếp
tục.
3/-Phạm vi thực hiện đề tài
Chương trình Ngữ văn THPT đề cập rất nhiều loại văn bản, gắn liền với 3 phân
môn: Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn. Phân môn nào muốn tiếp cận cũng đầu bắt đầu
từ đọc hiểu. Việc sử dụng văn bản thơ có nội dung liên quan cũng sẽ được thực hiện
để hiểu các văn bản thuộc 3 phân môn trên.Với điều kiện và khả năng có hạn, trong
sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ nghiên cứu trong diện hẹp sử dụng văn bản thơ có
nội dung liên quan để hỗ trợ đọc hiểu một số văn bản tiêu biểu thuộc chương trình
ngữ văn THPT, tập trung chủ yếu phần đọc văn và bài tập Đọc hiểu văn bản.
III/-TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1/- Một số khái niệm của đề tài
- Theo Trần Đình Sử “đọc hiểu văn bản trước hết là đọc hiểu văn bản ngôn từ,
đọc hiểu thông báo và đọc hiểu ý nghĩa. Việc đọc hiểu ý nghĩa không chỉ dựa vào các
liên hệ bên trong văn bản văn học, mà còn dựa vào ngữ cảnh khi tác phẩm được viết
ra hoặc dựa vào ngữ cảnh khi người đọc đọc tác phẩm... Có ít nhất bốn cách tiếp cận
đọc hiểu văn bản. Một là đọc thông, đọc hiểu văn bản ngôn từ. Hai là đọc hiểu thông
báo của văn bản. Ba là đọc hiểu ý nghĩa. Bốn là đọc tổng hợp, phát hiện ý nghĩa của
văn bản”.( Nguồn />Như vậy, đọc hiểu văn bản là khâu đầu tiên, khâu quan trọng nhất trong giảng
dạy Ngữ văn ở nhà trường. Theo chương trình Ngữ văn hiện nay, nội dung đọc hiểu
đã được mở rộng, không những tập trung ở văn bản nghệ thuật ( thơ, truyện, kịch,
kí…) mà còn đọc hiểu văn bản nhật dụng, văn bản nghị luận, văn bản khoa học, văn
bản Tiếng Việt, văn bản làm văn. Yêu cầu của đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông là

này được các nhà biên soạn sách giáo khoa viết thành những đoạn văn xuôi ngắn gọn,
cô đọng. Khi tìm hiểu phần này, nếu chủ quan, chúng ta sẽ hướng dẫn học sinh một
cách qua loa, sơ sài; nhưng nếu sa đà, tìm hiểu quá kĩ thì lại mất thời gian, ảnh hưởng
đến phần đọc hiểu văn bản. Nguyên nhân tình trạng này là do phần Tiểu dẫn cung cấp
thông tin cụ thể nên giáo viên thường lướt qua, chỉ cho học sinh đọc, chứ không cần
hiểu.
2.1.2/ Các bước sử dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan để hỗ trợ đọc
hiểu phần Tiểu dẫn
a. Trước hết là thao tác Đọc: Nếu phần tiểu dẫn dài, trong phần dặn dò học sinh
chuẩn bị bài mới, giáo viên yêu cầu học sinh đọc trước ở nhà, xác định những ý chính,
tìm bố cục, tóm tắt thành những luận điểm. Khi lên lớp, giáo viên kiểm tra việc chuẩn
bị bài của học sinh, cho học sinh phát biểu cá nhân, trình bày ngắn gọn những nội
dung cơ bản. Giáo viên sơ kết những ý học sinh đã trình bày, chỉnh lí, bổ sung. Nếu
phần tiểu dẫn ngắn, giáo viên cho học sinh đọc một lần, sau đó học sinh trình bày
những ý chính.
b.Đọc hiểu phần cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tác giả: để làm mềm phần
tiểu sử, con người và sự nghiệp sáng tác của tác giả đã được giới thiệu trong Tiểu dẫn,
tạo hứng thú cho học sinh ngay từ lúc vào bài, giáo viên có thể trích dẫn một số đoạn
thơ, bài thơ liên quan. Sau đó, giáo viên sử dụng thao tác so sánh giữa từ ngữ, ý thơ
được sử dụng trong bài thơ với những chi tiết quan trọng trong cuộc đời tác giả để
thấy được nét giống nhau và nét độc đáo giữa hai văn bản. Từ đó, định hướng cho học
sinh hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời, con người nhà thơ. Đọc hiểu phần Tiểu dẫn bài thơ
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

phần Tiểu dẫn, tập trung phần giới thiệu tác phẩm. Sau đó, giáo viên viết bài thơ
của Xuân Sách trên tờ giấy khổ lớn ( hoặc trình chiếu ppt), công bố trước học
sinh và đề nghị nhận biết tên tác phẩm có trong bài thơ. Học sinh sẽ dùng thao
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

tác so sánh, đối chiếu để tìm ra câu trả lời chính xác nhất. Giờ học sẽ trở nên
sinh động, bất ngờ ngay từ lúc mới vào bài.
2.2/- Sử dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình hỗ trợ đọc hiểu phần Tác giả văn học
2.2.1/ Đối với những tác giả lớn, SGK Ngữ văn THPT không trình bày nhập
chung phần TIỂU DẪN với VĂN BẢN trong một bài, mà tách riêng thành hai phần
TÁC GIẢ-TÁC PHẨM với thời lượng giảng dạy nhiều hơn. Cụ thể:
- Ngữ văn 10, HK2:
+Tiết 59,60,61. Bài: Đại cáo bình Ngô ( Nguyễn Trãi). Phần 1: tác giả. Phần 2:
tác phẩm;
+Tiết 81,82. Bài: Truyện Kiều ( Nguyễn Du). Phần 1: tác giả. Tiết 83: Trao
duyên...
- Ngữ văn 11, HK1:
+Tiết 20,21,22. Bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ( Nguyễn Đình Chiểu). Phần 1:
tác giả. Phần 2: tác phẩm;
+Tiết 50: Phần 1: tác giả Nam Cao. Tiết 52,53,54: Chí Phèo
- Ngữ văn 12, HK1:
+Tiết 4. Bài: Tuyên ngôn Độc lập ( Hồ Chí Minh). Phần 1: tác giả. Tiết 7,8 Phần

Tiểu sử tiêu biểu

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

3

4

5

6

7

8

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng
Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi...
( Quê mẹ -Gió lộng)
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
Cô đơn thay là cảnh thân tù!
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực

( Tạm biệt-Tố Hữu)

Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Học sinh đọc và tìm trong văn bản phần Tác giả trong SGK, so sánh với ngữ liệu
giữa 8 trích đoạn thơ, nêu được các sự kiện chính mà thơ Tố Hữu gợi ra : (1) Tố Hữu
sinh năm 1920, sau cách mạng thánh Mười Nga 3 năm ( 1917) ; (2) Xứ Huế là quê
hương của nhà thơ. (3) Năm 1937, Tố Hữu được giác ngộ lí tưởng cộng sản ; (4) Năm
1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên ;
(5) Niềm vui chiến thắng Điện Biên Phủ ; (6) Tố Hữu làm chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa
ở Huế.(7) Niềm vui thống nhất đất nước năm 1975 của nhà thơ. (8)Năm mất: 2002.
- Đọc hiểu phần Đường cách mạng, đường thơ: Cột bên trái trích dẫn những câu
thơ, đoạn thơ, đặt tên là Đường cách mạng, đường thơ. Mục bên phải yêu cầu học
sinh dựa vào SGK để nhận biết, ghi lại các tập thơ của Tố Hữu. Giáo viên lưu ý học
sinh đọc kĩ từng đoạn thơ, tìm ra trong mỗi đoạn thơ một từ khoá có tên tập thơ:
TT
Đường cách mạng, đường thơ
Các tập thơ
1
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

( 1972-1977); (6) Một tiếng đờn ( 1992).(7) Ta với ta ( 1999).
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.3/- Sử dụng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình hỗ trợ đọc hiểu phần Văn bản thuộc phân môn Đọc văn
2.3.1/ Tiếp theo phần Tiểu dẫn, phần Văn bản trong phân môn Đọc văn là phần
quan trọng nhất. Theo yêu cầu đổi giảng dạy, ở phần Văn bản, giáo viên tập trung vận
dụng đa dạng về phương pháp để hướng dẫn học sinh Đọc hiểu, cảm thụ tác phẩm
theo đặc trưng thể loại. Hướng đọc hiểu hiện nay là dạy học theo chủ đề, dạy học tích
hợp kiến thức liên môn giải quyết những vấn đề thực tiễn, dạy học theo phát triển
năng lực học sinh v.v. Dù dạy bằng hình thức nào đi nữa thì bước đọc hiểu vẫn nắm
vai trò chủ đạo, trong đó giáo viên là người hướng dẫn học sinh làm việc, học sinh thể
hiện tính chủ động, tích cực sáng tạo trong giờ học. Sử dụng thơ hoá phần đọc hiểu
văn bản trở thành một trong những cách thức hỗ trợ giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp
nhận và tạo lập văn bản.
2.3.2/ Các dạng Văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn bản trong chương
trình hỗ trợ đọc hiểu phần Văn bản
- Phần Văn bản văn xuôi ( Truyện, kí, tuỳ bút…)
Tác phẩm văn xuôi trong chương trình THPT rất đa dạng về thể loại. Văn học
dân gian có truyện cổ dân gian (Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười…).
Văn học trung đại có truyền kì, chí…Văn học hiện đại có truyện ngắn, tiểu tuyết, bút
kí, tuỳ bút…Tuỳ theo đặc trưng mỗi thể loại mà giáo viên hướng dẫn học sinh có cách
đọc hiểu văn bản khác nhau. So với tác phẩm trữ tình, tác phẩm văn xuôi có dung


thành với văn bản gốc, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, khiến cho bài văn trở nên đơn
điệu, nhàm chán, việc cảm nhận rơi vào sơ sài, thiếu rung cảm.
Để khắc phục tình trạng trên, ngay từ bước lĩnh hội văn bản tự sự thông qua
đọc hiểu, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc trưng thể loại. Đặc
biệt, khi đọc hiểu nhân vật tự sự, việc đi vào khai thác những sự việc, chi tiết tiêu biểu
liên quan đến nhân vật rất quan trọng, bởi vì chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn. Làm
thế nào để học sinh nhận biết, thông hiểu các chi tiết tiêu biểu của nhân vật tự sự, để
rồi vận dụng tạo lập văn bản cảm nhận về hình tượng nhân vật đó? Một trong những
cách được sử dụng để giải quyết điều đó chính là sử dụng văn bản thơ có nội dung
liên quan đến nhân vật tự sự. Trong thực tế, một số nhà thơ quen thuộc đã sáng tác
những bài thơ có giá trị tư tưởng và nghệ thuật dựa trên cái nền là tác phẩm tự sự. Khi
tiến hành đọc hiểu văn bản tự sự, giáo viên có thể dùng những bài thơ này để hướng
dẫn học sinh tìm hiểu, phát hiện những sự việc,chi tiết tiêu biểu. Vì khi sáng tác, các
nhà thơ đã chọn lựa các sự việc, chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm tự sự để diễn đạt lại
lần nữa bằng ngôn ngữ trữ tình. Tôi xin minh chứng điều này qua 3 tác phẩm tiêu biểu
ở 3 khối như sau:
- Khi dạy bài An Dương Vương, Mỵ Châu và Trọng Thuỷ ( Ngữ văn 10, HKI),
tôi đã sử dụng văn bản thơ viết về truyền thuyết này để giúp học sinh nắm vững cốt
truyện, nhân vật, chi tiết tiêu biểu.
+ Có thể mượn bài thơ sau:
CHUYỆN TÌNH MỴ CHÂU
Nghe truyện kể hai ngàn năm trước
Quân Triệu Đà từ nước Tần sang
Đánh chiếm Âu Lạc lân bang
Thua trận liên tiếp phải sang cầu hòa
Nhân cơ hội Triệu Đà lập kế
Cho con trai ở rể làm tin
Mỵ Châu trao cả trái tim
Trọng Thủy yêu nước hay tìm tình yêu?

Máu đỏ loang sóng biếc cuộn trào
Khi ba lần trái tim trao
Minh châu lại hóa thân vào ngọc trai
Câu chung thủy tương lai còn khắc
Lửa tình yêu son sắc có nhòa?
Trái tim, khối óc không hòa
Tim sai một nhịp, óc lòa thiên thu.
(Đinh Kim Chung)
Giáo viên có thể đặt câu hỏi nhận biết để học sinh tìm hiểu: Đọc bài thơ trên,
tìm hệ thống từ ngữ liên quan đến những sự việc tiêu biểu được tác giả kể trong
truyền thuyết An Dương Vương, Mỵ Châu và Trọng Thuỷ . Từ đó, em hãy kể tóm tắt
cốt truyện truyền thuyết này?
Với câu hỏi trên, học sinh sẽ nhận biết hệ thống từ ngữ trong bài thơ như lập
kế, cầu hoà,cho con ở rể (nói về Triệu Đà);Nỏ thần tráo lẫy( nói về Trọng Thuỷ);Yêu
một khắc phá cơ đồ nghìn năm ( nói về Mỵ Châu);Nghĩa non bùng cháy, dửng dưng
tình nhà (nói về An Dương Vương); Minh châu lại hóa thân vào ngọc trai
( nói về ngọc trai, giếng nước)…Từ đó, lấy văn bản trong SGK làm chuẩn, học sinh
kết hợp với bài thơ để tiến tới bước thứ hai là thông hiểu cốt truyện và nội dung chính
của truyền thuyết là: Bi kịch nước mất nhà tan-Bi kịch tình yêu tan vỡ- Hình ảnh
Ngọc trai, giếng nước.
+ Cũng trong truyền thuyết này, khi tiến hành đọc hiểu chi tiết nghệ thuật đặc
sắc, tôi sử dụng trích đoạn bài thơ sau ( vì bài thơ tương đối dài)
Mị CHÂU (Vương Trọng)
(…)
Lông ngỗng rơi, lông ngỗng rơi trắng lối
Dứt áo ra như dứt thịt da mình
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


tiết đó liên quan đến nhân vật nào?( câu hỏi nhận biết).
(2) Nêu ý nghĩa nghệ thuật của chi tiết vừa phát hiện? Có thể nói đó là chi tiết
tiêu biểu trong truyện được không? Vì sao? ( câu hỏi thông hiểu).
(3) Phát hiểu ngắn gọn suy nghĩ của em về thái độ, tình cảm của nhà thơ Vương
Trọng dành cho nhân vật Mị Châu qua đoạn thơ? Thái độ, tình cảm đó có giống với
thái độ, tình cảm của nhân dân dành cho nàng trong truyền thuyết không? Vì sao?
( câu hỏi vận dụng)…
Như vậy, nếu biết cách vận dụng văn bản thơ có nội dung liên quan đến văn
bản đang dạy đúng lúc, vừa phải như trường hợp trên, giáo viên sẽ giúp học sinh
nhanh chóng nhận ra chi tiết nghệ thuật tiêu biểu nhờ có đoạn thơ định hướng, đồng
thời sẽ cảm thụ, rung động trước vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật được gửi gắm
trong truyền thuyết dân gian, cũng như tạo hứng thú, dễ nhớ khi tiếp cận văn bản.
+ Để thực hiện phần củng cố phần Đọc văn truyền thuyết này, tôi đã sử dụng
một đoạn thơ quen thuộc của nhà thơ Tố Hữu trong bài Tâm sự, sáng tác tháng 2 năm
1967:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu...
Bốn câu thơ trên đã đức kết gần như trọn vẹn nội dung chính của truyện An
Dương Vương,Mị Châu và Trọng Thuỷ mà học sinh vừa đọc hiểu xong. Nên nỗi cơ

trong truyện lại một lần nữa được cảm nhận qua bài thơ. Nhờ có bài thơ, học sinh dễ
nhớ những chi tiết giàu giá trị nghệ thuật trong truyện. Khi sử dụng bài thơ này, trước
khi dạy bài Hai đứa trẻ,tôi dặn dò học sinh ở nhà đọc kĩ văn bản truyện, đồng thời cấp
trước cho các em văn bản bài thơ để các em có điều kiện so sánh, đối chiếu. Khi lên
lớp, tôi sử dụng phiếu học tập dưới hình thức bảng biểu để các em điền vào những ô
trống, tìm ra những dẫn chứng trong truyện gắn liền với từ ngữ hình ảnh trong bài thơ.
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Từ đó, các em sẽ nhận biết các chi tiết nghệ thuật cần tập trung phân tích. Cụ thể như
sau :
Trích từ ngữ, câu thơ

Nhận biết câu văn trong
truyện

Thông hiểu ý nghĩa nghệ
thuật các câu văn đó

Bờ tre văng vẳng
“chiều rồi”
ngọn đèn dầu
Màn đêm đặc quánh,
còi tàu vọng lên …

buổi chiều buồn đang dần
chuyển về đêm ở phố huyện
nghèo. Qua đó, nhà văn thể
hiện sự cảm nhận tinh tế và
sự gắn bó sâu nặng với quê
hương, với ruộng đồng.
-Đèn treo trong nhà bác phở
-Đó là thứ ánh sáng
Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong yếu ớt, le lói như những
nhà ông Cửu và đèn dãy sáng kiếp người nghèo khổ nơi
xanh trong hiệu khách...
phố huyện.
- Một khe sáng ở một vài cửa
- Biểu trưng cho
hàng.
những kiếp người nhỏ bé

Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Màn đêm đặc quánh,còi tàu vọng lên …

-


+ Những toa hạng trên sang
trọng lố nhố những người,
đồng và kền lấp lánh, và các
cửa kính sáng.
-Khi tàu đi vào đêm tối:
+ Để lại những đốm than đỏ
bay tung trên đường sắt.
+ Chiếc đèn xanh treo trên
toa sau cùng, xa xa mãi rồi
khuất sau rặng tre.
-Liên trông thấy động lòng
thương ( mấy đứa trẻ con nhà
nghèo)
-Chị là người con gái lớn và
đảm đang
-An và Liên lặng ngước mắt
lên nhìn các vì sao để tìm
sông Ngân Hà và con vịt theo
sau ông Thần Nông…
-Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi
nóng của ban ngày lẫn với
mùi cát bụi quen thuộc quá,
khiến chị em Liên tưởng là
mùi riêng của đất, của quê
hương này.

Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

sống leo lét, tàn lụi trong
đêm tối mênh mông của xã

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

- Để hỗ trợ Đọc văn bài Vợ nhặt của Kim Lân ( Ngữ văn 12, tập II), tôi đã sử
dụng bài thơ sau:
“Muốn ăn cơm trắng với giò
Lại đây mà đẩy xe bò với anh”.
Câu hò thả giữa trời xanh
Mà duyên mà nợ kết thành lứa đôi…
Đói, dù đói mấy cũng cười
Gặp nhau hai kẻ buông lời hờn nhau.
Nào người tận đẩu tận đâu
Giạt trôi cơn đói, bạc màu nắng mưa
Bánh đúc ngon đến bất ngờ
Đói vàng con mắt, bây giờ đã qua …
Theo anh về tận miền xa
Nón mê che nửa, chiều tà nắng rơi
Bàn chân bước lẫn bồi hồi
Mặc ai ganh tị, em cười bên anh …
Thế rồi một mái nhà tranh
Thế rồi hôm sớm ngọt lành có nhau
Một mai sương đọng mái đầu
Câu hò xưa vọng xanh màu yêu thương …
(Câu hò bữa ấy- Lê Đức Đồng)
Tiếp theo bài thơ Vọng chiều Thạch Lam, tác giả Lê Đức Đồng có thêm bài thơ
Câu hò bữa ấy để thơ hoá truyện Vợ nhặt của Kim Lân. Bài thơ viết theo thể lục bát

có nội dung liên quan đến văn bản đang dạy học để hỗ trợ. Bài thơ có tác dụng dẫn
đường, gợi hướng đi cho học sinh xác định được trọng tâm của bài đọc hiểu. Mượn
bài thơ làm nền, giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào văn bản truyện để phát hiện cái
hay, cái đẹp của hình tượng văn học, đáp ứng yêu cầu của bài dạy. Và một lần nữa,
học sinh được rung động trước những giá trị tư tưởng và nghệ thuật mà tác giả Lê
Đức Đồng và nhà văn Kim Lân đã gửi gắm qua tác phẩm của mình.
- Đọc hiểu phần Văn nghị luận
Trong chương trình Ngữ văn THPT ( phần cơ bản), văn nghị luận chiếm số
lượng không ít. Cụ thể:
+ Lớp 10: “Bình Ngô đại Cáo” - Nguyễn Trãi; Tựa “Trích diễm thi tập”
( trích ) - Hoàng Đức Lương; Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ( Trích Bài kí đề
danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba ) - Thân Nhân Trung; Hưng
Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ( Trích Đại Việt sử kí toàn thư ) - Ngô Sĩ Liên; Thái
sư Trần Thủ Độ ( Trích Đại Việt sử kí toàn thư ) - Ngô Sĩ Liên.
+ Lớp 11: Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm; Xin lập khoa luật ( trích tế cấp bát
điều – Nguyễn Trường Tộ ); Về luân lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh; Một thời
đại trong thi ca – Hoài Thanh và Hoài Chân; Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng dân tộc
bị áp bức – Nguyễn An Ninh; Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác - Ph. Ăng – ghen.
+ Lớp 12: Tuyên ngôn Độc lập- Hồ Chí Minh; Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao
sáng trong văn nghệ dân tộc- Phạm Văn Đồng; Mấy ý nghĩ về thơ –Nguyễn Đình Thi;
Đôt Xtôi ép Xki – Xvaigơ; “ Thông điệp nhân ngày phòng chống AIDS 1-12-2001” –
Côphianan;“ Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” - Trần Đình Hượu.
So với văn bản thơ, văn bản tự sự, khi tổ chức giờ đọc hiểu văn bản nghị luận,
giáo viên sẽ đứng trước một số khó khăn nhất định. Đây là thể văn mà tính khoa học,
tư duy lô gich, tính chiến đấu kết hợp chặt chẽ với tính truyền cảm. Qua mỗi văn bản,
các tác giả đều bộc lộ tư tưởng chính trị rõ ràng, đúng đắn, đều gửi gắm những bức
thông điệp mang chiều sâu triết lí và đậm chất nhân văn. Vì thế, với trình độ học sinh
ở lứa tuổi THPT, việc hiểu và cảm được những áng văn nghị luận không phải là điều
dễ dàng. Mặt khác, trong nội dung kiểm tra đánh giá, thông tường người ra đề ít chú
trọng lấy những văn bản nghị luận trong chương trình làm ngữ liệu, có chăng chỉ

Người đứng trên đài, lặng phút giây
Trông đàn con đó, vẫy hai tay
Cao cao vầng trán... Ngời đôi mắt
Độc lập bây giờ mới thấy đây!
Người đọc tuyên ngôn.... Rồi chợt hỏi:
"Đồng bào nghe tôi nói rõ không?"
Ôi câu hỏi, hơn một lời kêu gọi
Rất đơn sơ mà ấm bao lòng!
Cả muôn triệu một lời đáp: "Có!"
Như Trường Sơn say gió biển Đông
Vâng, Bác nói, chúng con nghe rõ
Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông.
Trời bỗng xanh hơn, nắng chói loà
Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta
Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!
Hai câu thơ Hôm nay sáng mồng hai tháng chín/Thủ đô hoa, vàng nắng Ba
Đình sẽ hỗ trợ cho giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu phần Tiểu dẫn khi hỏi học
sinh trình bày hiểu biết về hoàn cảnh ra đời bản Tuyên ngôn Độc lập? Câu thơ gợi
nhớ đến mốc thời gian quan trọng nhất: mồng hai tháng chín, thời khắc khai sinh ra
đất nước, khai tử kẻ thù; gợi nhớ đến địa danh Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh đọc Tuyên
ngôn Độc lập.
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu phần cuối bản Tuyên ngôn Độc lập bằng hệ thống
câu hỏi như: Hồ Chí Minh tuyên bố với toàn thể nhân dân trên thế giới điều gì? Người
còn nêu lên quyết tâm gì của dân tộc? Nhận xét hệ thống từ ngữ và giọng điệu trong
đoạn văn? Học sinh có thể trả lời : Trong bản tuyên ngôn, đây mới là đoạn văn tràn
đầy khí phách dân tộc Việt Nam, thể hiện ý chí sắt đá nhất, yêu cầu hòa bình nhưng
không sợ chiến tranh, sẵn sàng đón nhận phong ba bão táp. Hồ Chí Minh tuyên bố với
thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.”, đồng thời bày tỏ ý chí bảo
vệ nền độc lập của cả dân tộc: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”.Tác giả
dùng những từ ngữ trang trọng: “trịnh trọng tuyên bố”, “có quyền hưởng”, sự thật
đã thành” vang lên mạnh mẽ, chắc nịch như lời khẳng định một chân lí. Lời văn đanh
thép như một lời thề, thể hiện ý chí, quyết tâm của cả dân tộc.
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016


SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.4/- Sử dụng văn bản thơ có nội dung liên quan trong việc ra đề kiểm tra
đánh giá phần đọc hiểu
Theo tinh thần đổi mới việc ra đề kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực học sinh, việc ra đề dạng Đọc hiểu là phần không thể thiếu, dù đó là đề kiểm
tra định kì ( hệ số 1, hệ số 2), kiểm tra học kì, đặc biệt là kì thi Quốc gia THPT hằng
năm. Ngữ liệu để đưa ra trong đề đọc hiểu thường là ngữ liệu nằm ngoài chương trình
nhưng có nội dung gần gũi, phù hợp với trình độ, năng lực và phát huy sáng tạo của
học sinh. Để tập luyện cho học sinh tiếp cận những ngữ liệu văn bản ngoài chương

- Biết cách xác định nội dung chính, biện pháp tu từ trong văn bản.
- Biết vận dụng để viết đoạn văn ngắn
B/ MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
Người thực hiện: Nguyễn Hiếu , trường THPT Thống Nhất

Năm học 2015- 2016



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status