skkn rèn kĩ NĂNG SỐNG CHO học SINH lớp 10 QUA một số GIỜ đọc HIỂU văn bản - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nam Hà
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 10
QUA MỘT SỐ GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ TI NA
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn:.........VĂN............ 
- Lĩnh vực khác: ....................................................... 

Có đính kèm:Các sản phẩm không thể hiện trong bản in Báo cáo NCKHSPƯD
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

1


BM02-LLKH

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I.

THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

Fax:

E-mail: [email protected]

7.

Chức vụ:

giáo viên

8.
9.
II.

Nhiệm vụ được giao (quản lý, đoàn thể, công việc hành chính, công việc chuyên
môn, giảng dạy môn, lớp, chủ nhiệm lớp,…): giảng dạy môn Văn
Đơn vị công tác: Trường THPT Nam Hà
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

-

Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ

-

Năm nhận bằng:

-

Chuyên ngành đào tạo:

II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN..............................................................7
1. Cơ sở lý luận.....................................................................................................8
2. Cơ sở thực tiễn..................................................................................................8
a. Thuận lợi......................................................................................................8
b. Khó khăn......................................................................................................8
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP .................................................9
1. Các kĩ năng sống cơ bản.................................................................................10
2. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống thông qua một số giờ đọc hiểu văn bản
............................................................................................................................10
3. Tổ chức thực hiện giải pháp............................................................................11
a. Tiến trình dạy học ………...............................................................................11
b. Tiến hành tại lớp.............................................................................................12
c. Giáo án thực nghiệm.......................................................................................12
IV. HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI.....................................................................................19
V. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG........................................23
1. Bài học kinh nghiệm.......................................................................................23
2. Những kiến nghị sau khi thực hiện đề tài.......................................................23
Kết luận .............................................................................................................24
Danh mục tài liệu tham khảo ..........................................................................25

3


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ĐC:

đối chứng

GV:


thiết. Đã có nhiều trường hợp, các em HS ở lứa tuổi cấp III, thậm chí là cấp II,
tự tử, mang thai ngoài ý muốn, tử vong do tai nạn, hỏa hoạn, đuối nước… Hoặc
nhiều bạn trẻ gặp khó khăn lớn trong việc vượt qua các khủng hoảng tâm lý,
việc làm chủ và bảo vệ bản thân... đều là do thiếu KNS. Ở các thành phố lớn
nói chung, Biên Hòa nói riêng, HS có nhiều điều kiện để tham gia các hoạt
động, các mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Do đó, các em thường dễ gặp
các rủi ro, vướng vào các tệ nạn xã hội, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật
cũng cao hơn các khu vực khác.
Bên cạnh đó, môi trường xã hội, văn hóa Đồng Nai vừa phát triển khá
năng động, sáng tạo vừa là môi trường phức tạp. Thực tế này đòi hỏi sự tăng
cường xây dựng và rèn luyện KNS cho học sinh. Để làm được điều đó không
đâu thích hợp hơn môi trường giáo dục. KNS trở thành một phần không thể
thiếu của bài dạy ở các bộ môn khác nhau. Tuy nhiên, việc làm này chỉ dừng ở
mức độ tích hợp và cũng chưa có những nội dung cụ thể, chủ yếu phát xuất từ
chính tâm huyết của giáo viên dẫn đến việc rèn kĩ năng sống ở mỗi môn học,
mỗi giáo viên còn mang tính gượng ép, làm lấy lệ, qua loa. Thậm chí không có
cũng chẳng sao bởi mục tiêu của giáo viên là dạy bài dể học sinh có thể đáp ứng
nhu cầu thi cử là chính.
Môn Ngữ văn là một trong ba môn học công cụ nên có thể kết hợp nhiều
nội dung giáo dục trong quá trình dạy học. Ngoài việc trang bị kiến thức, bồi
dưỡng cảm xúc thẩm mỹ. Nhiều bài học hướng đến việc giúp học sinh nhận
thức được các giá trị trong cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng xử có văn
hóa trong các tình huống giao tiếp đa dạng của cuộc sống. KNS là yếu tố cần
thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời kì hội nhập. Xuất phát từ nhu cầu
đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lồng ghép kỹ năng sống vào trong chương trình
học của học sinh.
Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020”
(Dự thảo lần thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến
của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động

mục tiêu của giáo dục đồng thời có nhiều nỗ lực để đổi mới theo hướng tích cực
hóa hoạt động của học sinh, gắn giáo dục với thực tiễn cuộc sống. Lồng ghép kĩ
năng sống vào các môn học trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với giáo
dục hiện nay.
Bản thân tôi là môt giáo viên đã có thời gian dạy văn trên 10 năm và dạy ở
cả ba khối 10,11,12 nên tôi nhận thấy: Học sinh THPT đặc biệt là các em ở đầu
cấp do sự thay đổi tâm sinh lý, đặc điểm lứa tuổi và đặc biệt là việc thiếu các kĩ
năng sống nên thường có những suy nghĩ và hành động nông nổi, cảm tính, dễ
bị lôi kéo bởi những tác động xấu ... dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Như
vậy, hình thành các kỹ năng sống tối thiểu cho các em là việc làm cần thiết. Đặc
biệt, với môn Ngữ văn việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong các tiết học,
được tích hợp trong các giờ học và còn được trải nghiệm qua thực tế sẽ tạo nên
hiệu ứng giúp các em trong việc tu dưỡng đạo đức, hướng thiện và nâng cao
năng lực học tập, sáng tạo. Từ đó, các em có nhận thức đúng đắn trong việc
thực hiện nội qui, qui định của nhà trường và tự giác thực hiện.
Với mong muốn được góp một tiếng nói nhỏ nhằm tạo hiệu quả thật sự
trong giờ đọc hiểu văn bản đồng thời giúp học sinh của mình nhất là lứa tuổi
đầu cấp THPT có khả năng thích ứng với cuộc sống mới, biết tự chủ, sống có

6


bản lĩnh có nhân cách, tôi chọn đề tài “Rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 10
qua một số giờ đọc hiểu văn bản”.
II.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
Chúng ta biết rằng, các em HS không phải là những chiếc bình cần
đổ đầy kiến thức mà các em là những ngọn đuốc cần thắp sáng, vậy hơn ai hết
GV cần phải cố gắng giữ và thổi bùng ngọn lửa ấy trong tâm hồn các em. Lứa
tuổi học sinh cấp III là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, ham

bài học ý tứ, sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng.

7


2. Cơ sở thực tiễn:
Các kĩ năng sống còn được giáo dục thông qua phương pháp học tập tích
cực, dựa trên sự tương tác giữa nội dung bài học và sự trải nghiệm của người
lĩnh hội hoặc quá trình đối thoại, tương tác giữa các cá nhân với nhau. Do đó,
việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào các nội dung của môn Ngữ văn tương
đối thuận lợi, không cần phải đưa thêm thông tin, kiến thức mà chỉ cần tích hợp
một cách khoa học để bộ môn ngày càng thiết thực, gần gũi với đời sống hơn.
Đó là sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ
hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm Kĩ năng sống trong quá trình học
tập.
a.Thuận lợi:
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chuyên đề tôi
đã có một số thuận lợi sau:
- Trường có cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học tương đối đầy đủ. Và
đặc biệt là sự chỉ đạo tổ chức hướng dẫn sâu sắc của Sở giáo dục, tôi luôn có
điều kiện nắm bắt các chuyên đề.
- Sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai thường xuyên tổ chức các chuyên đề
văn học, các lớp tập huấn thay sách, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng
dạy, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích hợp rèn kĩ
năng sống cho HS.
- Được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến nhiệt tình của quý Thầy, cô trong
tổ chuyên môn.
- Đối tượng học hiện nay cũng có nhiều điều kiện để tự chủ trong việc
tiếp cận một tác phẩm văn học.
b. Khó khăn

Khi thực hiện nhiệm vụ lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào các tiết học
văn bản, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn (chưa có tài liệu cho giáo viên và
học sinh, kế hoạch thực hiện, tiêu chí đánh giá, quy định thời lượng của tiết
dạy…). Hơn nữa, tổ chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác
với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn
học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu
lạc bộ,...) cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện, điều này quả
là không dễ.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống, mỗi quan niệm diễn đạt theo một
cách khác nhau, thường gắn với một bối cảnh cụ thể, với một nền giáo dục nhất
định. Theo định nghĩa của UNESSCO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là
kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như:
tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với
người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông,
tư duy bình luận phê phán, ra quyết định, giao tiếp hiệu quả và thương thuyết.
Kĩ năng sống là khả năng tâm lí xã hội, nội dung bao gồm tri thức, thái độ, giá
trị và kĩ năng giúp con người giải quyết có hiệu quả những tình huống , những
vấn đề nhằm đáp ứng hoạt động của cuộc sống một cách tích cực (Hội thảo
khoa học tiếp tục đổi mới quản lí giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục đào
tạo các tỉnh phía Nam).
Có nhiều kĩ năng sống khác nhau, tùy hoàn cảnh, môi trường sống, điều
kiện sống mà GV cần định hướng cho HS một cách phù hợp. Đối với học sinh
đầu cấp THPT thì việc tác động ấy phải dựa trên tâm lí, khả năng học tập của
từng đối tượng. Muốn vậy người thầy vừa phải có khả năng sư phạm vừa phải
có nghệ thuật giao tiếp. Trên cơ sở đó, giúp học sinh nắm được gía trị của văn
bản, để tiếp tục trang bị, hoàn thiện thêm vốn sống trong cuộc đời.

9


nhận thức để thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn. Giáo dục kỹ năng
sống là giúp HS nâng cao năng lực để tự lựa chọn những giải pháp khác nhau.
Quyết định phải phát xuất từ chính các em. Vì thế nội dung bài học phải hết sức
gần gũi với cuộc sống hay tồn tại ngay trong cuộc sống. HS cần có điều kiện để
cọ xát những ý kiến khác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp
dụng một cách chủ động có thế các em mới thay đổi hành vi.
Xuất phát từ yêu cầu trên, nhiều phương pháp được áp dụng để đem lại
hiệu quả trong việc rèn kĩ năng sống như sinh hoạt hay thảo luận theo nhóm,
theo cặp, động não, sắm vai, phân tích tình huống, tranh luận, trò chơi, huy
động tối đa nghe, nhìn, vận động… góp phần nâng cao khả năng tiếp nhận và sự
tương tác giữa kiến thức tại lớp với thực tế cuộc sống. Điều này giúp đem lại

10


hiệu quả và sự hứng thú trong quá trình học tập của các em. Dưới đây là một số
phương pháp tiêu biểu mà tôi áp dụng trong quá trình đứng lớp của mình để
hình thành kĩ năng sống cho HS
- Phương pháp động não.
- Phương pháp thảo luận nhóm.
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay còn gọi là phương nghiên cứu
các trường hợp điển hình)
- Phương pháp trò chơi
Các phương pháp này có thể vận dụng linh hoạt trong từng giờ dạy theo từng
đối tượng cụ thể.
3. Tổ chức thực hiện giải pháp
Để rèn luyện kỹ năng sống cho HS, cách hữu hiệu nhất là để cho các em
thực hành trong những tình huống cụ thể ở mỗi bài học. Và các phương pháp
hiệu quả nhất đó là: thảo luận, phân tích trường hợp điển hình, giải quyết tình

hoạt của câu hỏi với đối tượng học sinh nhằm kích thích ham muốn tìm hiểu và
học tập của các em.
- Chọn lựa phương pháp, kỹ thuật dạy học, xác định nội dung cần tích
hợp, thời điểm tích hợp, cách tích hợp như thế nào cho phù hợp với từng bài
dạy.
- Giám sát, nhận xét và chốt lại vấn đề cần giáo dục.
(GV đóng vai trò là người khơi gợi)
* Sự chuẩn bị của học sinh:
- Học sinh nhận câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà từ giáo viên (tìm hiểu và soạn
trước ở nhà).
- Tại lớp, khi được yêu cầu HS sẽ trình bày vấn đề theo thời gian quy
định.
- Qua sự định hướng của GV, HS tự rút ra bài học từ đó hình thành kĩ
năng sống, và chủ động vận dụng vào cuộc sống.
b. Quá trình tiến hành tại lớp:
Có bốn bước chính để tiến hành rèn KNS cho HS qua giờ dạy tại lớp.
Trước hết là khám phá. Ở bước này, giáo viên cần tìm hiểu xem học sinh
đã biết được diều gì, còn chưa biết gì về vấn đề đặt ra trong tác phẩm, văn bản.
Sau đó cần phải có sự kết nối nội dung mới của bài dạy (muốn vậy GV và
HS phải giải quyết tất cả những kiến thức mới).
Tiếp đến là bước thực hành. Với bước này, giáo viên sẽ lần lượt đặt ra
những tình huống, những nội dung, những trò chơi có thể vận dụng kiến thức
mới lĩnh hội.
Cuối cùng là bước vận dụng. Tùy theo từng hoàn cảnh, từng đối tượng
học sinh, giáo viên ứng dụng bài tập tình huống phù hợp để rèn KNS cho các
em .
c. Giáo án thực nghiệm:
Tên bài
dạy


Trọng
Thủy

+ Qua sự hóa thân của những nhân vật, em học được
điều gì về cách ứng xử trong cuộc sống của người Việt
Nam?
- Thực hiện: Tại lớp chia HS theo nhóm hoặc cá nhân,
cho các em thảo luận và bày tỏ quan điểm với thời gian tích
hợp từ 3’ đến 5’ tùy theo tình huống hay câu hỏi.Từ việc HS
trả lời những câu hỏi trên, GV có thể rèn kỹ năng giao tiếp,
ứng xử cho HS bằng cách ứng dụng kỹ thuật viết sáng tạo
cho HS trả lời câu hỏi:
- Nếu bản thân em rơi vào tình huống tương tự như
Mị Châu em sẽ hành động thế nào? Vì sao?
- Kết quả: Qua những câu trả lời của các em, giáo dục
học sinh kỹ năng nhận thức và kỹ năng giải quyết các vấn
đề nảy sinh trong cuộc sống. Đồng thời, rèn giũa cho HS kĩ
năng xác định giá trị bản thân, sống có trách nhiệm với cộng
đồng, kĩ năng giải quyết vấn đề, không thụ động để chấp
nhận nghịch cảnh. Và từ đó giúp các em trân trọng và đánh
giá đúng bản thân mình và những sự việc xảy ra xung quanh
để tìm ra cách ứng xử phù hợp.
Hs

- Thảo luận nhóm hay làm việc cá nhân tìm câu trả lời các
câu hỏi được GV đưa ra bằng các hình thức.
- Trình bày trước lớp (cá nhân hay đại diện nhóm) hay làm
bài kiểm tra nhỏ theo thời gian quy định:

13

bị Rùa vàng kết tội và chấp nhận cái chết để chuộc tội song
nàng không thể có cơ hội chuộc tội với dân, với đất nước.
Thế nhưng, truyện không kết thúc ngay sau khi Mị Châu bị
vua cha chém đầu mà còn nối dài bằng chi tiết máu Mị
Châu hóa thành trai ngọc và Trọng Thủy phải chết trong
giếng. Như vậy, qua những chi tiết này tác giả dân gian còn
gửi gắm đến chúng ta bài học về sự cảm thông với những
người trót mắc lỗi lầm nhưng đã biết nhận ra và tìm cách
sửa chữa lỗi lầm. Tuy nhiên, không phải lỗi lầm nào cũng
có thể sửa chữa và tha thứ.
- Kết quả: nhận thức được vai trò và trách nhiệm cá nhân,
không lơ là, chủ quan trong bất cứ vấn đề gì mà trước tiên
đó là việc học. Biết suy nghĩ và hành động tích cực khi gặp

14


căng thẳng, không làm tổn hại đến bản thân và những người
xung quanh, xây dựng và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp.
Nhàn

- Xác định kĩ năng sống: Kĩ năng nhận thức và kĩ năng giao
tiếp ứng xử.
- Chuẩn bị ở nhà: Xác định nội dung có thể tích hợp rèn kĩ
năng sống, sau đó giúp HS nhận thức được giá trị của cuộc
sống đẹp một cách toàn vẹn thông qua các câu hỏi:
+ Theo em, tại sao nhân vật trữ tình lại nhận mình là kẻ
dại khi tìm đến nơi vắng vẻ? Em nhận định thế nào về cái
dại ấy?
+ Từ cách sống và quan niệm sống của nhân vật trữ tình

xử với môi trường xã hội và môi trường thiên nhiên. Trong

15


hoàn cảnh hiện nay, đất nước hòa bình, dân chủ. Mỗi người
trong chúng ta đều có điều kiện làm chủ bản thân. Trong
mọi lúc, mọi nơi hãy sống và cống hiến! Hãy tránh xa
những mưu toan tính toán, tranh giành thiệt hơn. Hãy phấn
đấu trong công việc nhưng không đặt nặng danh lợi, vì danh
lợi mà đánh mất mình! Hãy sống thân thiện, gắn bó với
thiên nhiên. Đó là một lối sống đẹp.
- Xác định kĩ năng sống: kĩ năng nhận thức và kĩ năng giao
tiếp ứng xử.
- Chuẩn bị ở nhà:
Để rèn kĩ năng nhận thức, GV cần hướng học sinh đến
chỗ: nhận thức được vị trí, vai trò và nhiệm vụ của thanh
niên trong đời sống. Xác định được những giá trị bản thân
từ đó hướng đến cách sống có bản lĩnh.
Một số câu hỏi có thể áp dụng để đạt đến đích nhận thức
cho HS:
+ Em hãy cho biết những nhân tố nào tạo nên vẻ đẹp
của trang nam nhi thời Trần?
GV

+ Nguyên nhân nào dẫn đến nỗi thẹn của nhân vật trữ
tình trong văn bản?
+ Có khi nào em cảm thấy thẹn không? Vì sao? Liên hệ
với nỗi thẹn của nhân vật trữ tình trong văn bản em rút ra
bài học gì cho bản thân?

rộng hơn là quốc gia, dân tộc. Có ý thức rèn luyện, phấn đấu
tài năng và phẩm chất để có thể trở thành rường cột nước
nhà. Như vậy quan niệm lập công danh của người xưa rất
gần gũi với việc xác định mục tiêu, lý tưởng sống của thanh
niên hiện nay.
- Xác định kĩ năng sống: kĩ năng nhận thức và kĩ năng ứng
xử.
- Chuẩn bị ở nhà: xác định nội dung có thể tích hợp rèn kĩ kĩ
năng nhận thức cho HS, từ tấm gương phẩm hạnh của Kiều,
GV sử dụng một số câu hỏi gợi mở :
+ Nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Kiều là gì?
+ Em có suy nghĩ gì về hoàn cảnh và cách ứng xử
của Kiều trong đêm trao duyên qua mười hai câu đầu?
“Cậy em, em có chịu lời
.....................................
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
+ Từ cách thức Kiều thuyết phục và trao duyên cho
Vân, em học tập điều gì khi phải thuyết phục người khác?
+ Qua quyết định trao duyên của Kiều, em thấy gia
đình có vai trò và ý nghĩa như thế nào đối với mỗi người?
+ Trách nhiệm của các thành viên trong gia đình với
nhau là gì?
+ Theo em xã hội hiện nay còn những hoàn cảnh như
Thúy Kiều không? Có nên học tập theo cách ứng xử của
Kiều không? Em rút ra bài học gì từ nhân vật Thúy Kiều
trong đêm trao duyên?
Giáo dục kỹ năng giao tiếp, ứng xử: Một số câu hỏi
có thể sử dụng:

Trao

- Kết quả: nhận thức tình cảm gia đình, đạo hiếu làm
người, lòng kính yêu cha mẹ, anh chị em trong gia đình, tình
yêu chung thủy và sự quan tâm chăm sóc chu đáo đối với
người mình yêu ngay cả khi bản thân phải chịu sự hi sinh
thiệt thòi.
Biết cảm thông chia sẻ với những người xung quanh nhất
là những người thân trong gia đình. Khi phải đối mặt với
những khó khăn trong cuộc sống không được đổ lỗi cho
hoàn cảnh hay ngụy biện không dám vượt qua nghịch cảnh.
Đồng thời, giúp HS có thái đô ứng xử khéo léo trước mọi
tình huống, cẩn thận trước những cám dỗ của xã hội.

Ngoài ra, GV có thể ứng dụng những thao tác trên để giúp hình thành kỹ
năng sống cho HS ở những văn bản khác của lớp 10 và cả những văn bản ở lớp
11 hoặc 12.
Ví dụ:
Bình ngô đại cáo:
GV có thể giúp HS nhận thấy:
Quan niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi : yên dân – trừ bạo (xuất phát từ
quan niệm nho giáo) không khô khan, xa lạ với cuộc sống hiện nay. Hay đó là
tư tưởng, quan niệm quá to lớn, ngoài tầm suy nghĩ không thiết thực với đời
sống đương thời. Thật ra, trong cuộc sống hiện nay, nhân nghĩa đơn giản là sống

18


tử tế. Cách ứng xử có văn hóa giữa con người với con người như biết nói lời
cảm ơn và xin lỗi, biết cảm thông, chia sẻ với người khác. Từ đó, HS có hướng
phấn đấu trở thành công dân tốt.
Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên:

bước mang tính hệ thống. Muốn vậy câu hỏi và tình huống giả định đưa ra cho
các em cần phải đi từ mức độ thấp đến cao, từ dễ đến khó và có sự liền mạch
giữa các khối lớp. Tránh tình trạng đánh trống bỏ dùi hay liên hệ một cách khiên
cưỡng, khập khiễng trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến
tính thời đại của vấn đề đưa ra cho các em HS rèn luyện KNS.

19


IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Để đánh giá kết quả, tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm ở lớp 10C8
(40 HS) và lớp đối chứng 10C9 (42 HS). Mẫu được chọn khảo sát chất lượng là
bài kiểm tra 15 phút bằng hình thức tự luận (phụ lục). Sau khi chấm, tôi tiến
hành phân loại điểm của các bài kiểm tra ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
như sau:
Bảng tổng hợp phân loại điểm kiểm tra 15 phút trước tác động
Điểm số

Lớp thực nghiệm (10C8)

Lớp đối chứng (10C9)

1

0

0

2


13

14

8

8

10

9

1

0

10

0

0

Tổng

40

42

Biểu đồ phân bố điểm trước thực nghiệm



1

40

Lớp
ĐC

1

17

24

0

42

Nhận xét: Qua bảng thống kê, ta có thể thấy, trước tác động điểm của hai
lớp khá đồng đều nhau. Sau khi dạy xong các văn bản thuộc giai đoạn văn học
Lí – Trần, tôi tiến hành kiểm tra bài viết tự luận 1 tiết tại lớp, kết quả như sau:

Bảng phân loại điểm kiểm tra 15 phút sau tác động
Điểm số

Lớp thực nghiệm (10C8)

Lớp đối chứng (10C9)

1

4

6

11

14

7

16

15

8

8

8

9

4

2

10

0




Lớp
TN

0

12

24

4

40

Lớp
ĐC

0

18

23

2

42

Nhận xét: từ kết quả phân loại và thống kê trên ta thấy, sau tác động, lớp
thực nghiệm có số điểm khá giỏi nhiều hơn. Điều này đồng nghĩa với việc học

Như vậy việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng
là học sinh THPT để rèn luyện KNS cho học sinh vẫn chủ yếu dựa vào phương
pháp đổi mới trong giảng dạy bộ môn nhưng mọi vấn đề giáo viên đưa ra để dẫn
dắt học sinh tìm hiểu và cảm thụ tác phẩm cần rõ ràng, ngắn gọn cụ thể và phù
hợp với hoàn cảnh, đối tượng học sinh. Giáo viên cần không ngừng học hỏi, rèn
luyện để đáp ứng yêu cầu đổi mới. Tạo sự tác động đến suy nghĩ và cách nhìn
nhận của học sinh về việc học môn Ngữ Văn. Kết quả trong giờ học Văn chính
là kết quả của thầy và trò cùng hoạt động trong một thời gian dài tìm hiểu,
tương tác lẫn nhau. Tuy phải trải qua một thời gian dài tương tác nhưng kết qủa
lại bền vững.
Người giáo viên dạy Ngữ văn phải tạo được sự đồng cảm, tin yêu học
sinh. Làm được điều đó có nghĩa là thầy đã hướng học sinh đến đích học tập
chủ động, tích cực, đồng thời có thể biến những kiến thức sách vở thành những
bài học bổ ích trong cuộc sống của bản thân.
Tóm lại qua mỗi tác phẩm văn học, qua mỗi bài giảng, GV sẽ liên hệ một
đôi điều vừa có tác dụng giáo dục kĩ năng sống, vừa giáo dục đạo đức nhân
cách, giúp các em có khả năng đối diện hội nhập tốt cuộc sống, tránh được
những va vấp không đáng có đồng thời chuẩn bị tốt cho tương lai. Câu nói của
Mac-xim Gooc-ki quả thật chính xác “Văn học là nhân học”. Văn là người. Dạy
văn cũng là dạy làm người. Để đối diện khó khăn, trở ngại và vươn lên trong
cuộc sống, con người trong xã hội hiện đại không chỉ cần có kiến thức, mà còn

24


cần phải có kĩ năng mềm để giao tiếp, ứng xử, thể hiện bản lĩnh.... Thông qua
các giờ dạy, giáo viên văn phải truyền được cho các em những bài học này. Nó
là hành trang cho các em bước đi ở chặng đường tiếp theo. Trái tim luôn có
những cung bậc cảm xúc khác nhau. Gõ nhẹ vào nơi ấy sẽ có vô vàn điều bí
mật. Hãy chọn lựa, làm mới mỗi bài dạy để thấm thía hơn lời nói “ Văn học là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status