SỞ GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nam Hà
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 10
QUA MỘT SỐ GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ TI NA
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:.........VĂN............
- Lĩnh vực khác: .......................................................
Có đính kèm:Các sản phẩm không thể hiện trong bản in Báo cáo NCKHSPƯD
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2015 - 2016
1
BM02-LLKH
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên:
Thạc sĩ
- Năm nhận bằng:
2013
- Chuyên ngành đào tạo:
văn học Việt Nam
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm:
văn
- Số năm có kinh nghiệm:
15
- Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm
ứng dụng đã có trong 5 năm gần đây:
+ Vận dụng trò chơi trong giảng dạy phân môn tiếng Việt
+ Ứng dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực trong
dạy đọc hiểu văn bản dân gian lớp 10
2
MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ....................................................................................... 5
giáo viên
HS:
học sinh
KNS:
kĩ năng sống
THPT:
trung học phổ thông
TN:
thực nghiệm
UNESSCO: (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa
4
RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 10 QUA MỘT SỐ
GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do khách quan
Nếu có theo dõi báo chí hoặc tin tức trong những chương trình thời sự
của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động
lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo dục và Đào tạo phải góp
phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh
trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết
vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn cầu hóa,
5
vừa hợp tác vừa cạnh tranh”. Với tính chất là một môn học công cụ, môn
Ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp,
nhận thức về xã hội và con người. Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ,
môn Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm
mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT nói chung, đặc
biệt là năm học 2014 – 2015 khi dạy môn Ngữ văn lớp 10, tôi thấy phần văn
bản 10 là kho kĩ năng sống nếu người giáo viên biết cách khai thác. Điều này
tuy không khó nhưng để thực hiện được thì đòi hỏi người giáo viên phải thật sự
tâm huyết với nghề và hết lòng vì học sinh thân yêu mới có khả năng giáo dục
các em tự tìm tòi, học hỏi, tự vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc
sống.
2. Lý do chủ quan
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng về các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, sự hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra những tác động phức tạp ảnh
hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Tình
trạng xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên trong đó có
cả học sinh đã gây nhiều bức xúc trong xã hội. Các em đánh nhau, thậm chí là
cư xử vô lễ với giáo viên và những người xung quanh. Lí do ấy đến từ đâu nếu
không phải vì sự thiếu hụt các kĩ năng sống?
Trước thực trạng trên, trong những năm qua Bộ giáo dục đã xác định lại
tìm tòi, khám phá song lại thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị tác động bởi cả những
yếu tố tích cực và tiêu cực. Chính vì thế nếu không được giáo dục, rèn luyện kỹ
năng sống các em thường dễ rơi vào lối sống ích kỷ, sự phát triển lệch lạc về
nhân cách, thậm chí là rơi vào hố đen của các tệ nạn xã hội. Chính vì vậy, việc
giáo dục kĩ năng sống trở thành nhiệm vụ cấp bách, bởi giúp trang bị cho HS có
những khả năng, tâm thế xã hội, để các em biết cách xử sự, ứng phó tích cực,
thể hiện mình và trau dồi nhân cách, biết sống hữu ích, tránh những va vấp
trong cuộc đời.
Theo thống kê của các nhà tâm lí học, để đạt thành công trong cuộc sống
kĩ năng mềm còn gọi là kĩ năng sống chiếm 85%, kĩ năng cứng( trí tuệ lô-gic)
chỉ chiếm 15%. Vì vậy dạy học hiện nay nói chung, dạy văn nói riêng phải tăng
cường dạy kĩ năng sống cho HS.
Điều 2, luật giáo dục năm 2005, đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; ... hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc”.
Phương pháp dạy và học trong những năm gần đây cũng được đổi mới
theo hướng : "... phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh; ...; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh". [1, 17]
Như vậy có thể thấy, để phù hợp với đà tiến và yêu cầu của xã hội,
nghành giáo dục hiện nay đã có sự chú trọng đến việc trang bị những kĩ năng
sống cần thiết cho HS bởi đây là một yêu cầu cấp thiết để các em có thể đáp ứng
được nhu cầu xã hội.
Các môn học trong trường phổ thông của chúng ta hiện nay đều có khả
năng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho HS. Trong đó, gần gũi nhất có l là
Văn học. Bởi Văn học là nhân học, từ trước đến nay đây vẫn là một bộ môn
thuận lợi để “ thay thái độ, đổi hành vi” của HS một cách dễ nhất thông qua các
Bên cạnh những thuận lợi đó trong quá trình giảng dạy tôi cũng gặp
không ít khó khăn khi tích hợp rèn KNS cho HS.
- Học sinh chưa thực sự ham học, nhiều em xem ngữ văn là một môn học
khô khan, chưa thấy được sự liên hệ cần thiết giữa kiến thức với kĩ năng sống.
Vì thế, các em cũng không có sự đầu tư, chuẩn bị nhiều cho bài học,chưa mạnh
dạn trình bày suy nghĩ của mình.
- Học sinh ít có khả năng cảm nhận tác phẩm, học đối phó với việc thi cử
là chính, máy móc thiếu sự chiêm nghiệm, sáng tạo khi tiếp cận tác phẩm. Ngay
cả về phía giáo viên cũng chỉ chú trọng vào việc truyền giảng kiến thức chứ
không mấy mặn mà với việc rèn KNS cho học sinh.Thói quen chú trọng vào
kiến thức mang tính lý thuyết của giáo viên s là cản trở lớn khi triển khai giáo
dục kĩ năng sống, loại hình giáo dục nhằm tạo thói quen, thái độ, hành vi ứng
xử phù hợp với các tình huống của cuộc sống.
- Việc học Ngữ văn đã khó, học các văn bản cách thời điểm các em đang
sống quá xa lại càng khó hơn. Ngoài ra, tiếp cận một văn bản lại là mảng kiến
thức đòi hỏi các em phải có sự suy luận, có sự hiểu biết sau đó lại phải tích hợp
8
với nội dung giáo dục kĩ năng sống, điều này không hề đơn giản, nhất là với đối
tượng học sinh lớp 10 chưa có nhiều hiểu biết về thực tế cuộc sống.
- Hạn chế về mặt thời gian cũng là vấn đề quan trọng trong việc lồng
ghép kĩ năng sống vào tiết dạy. Vì một tiết học thường đi rất nhanh để hoàn
thành phần lí thuyết, đôi khi hết giờ mà học sinh chưa thực hiện được một kĩ
năng nào. Ngoài ra, không có một tiết dạy kĩ năng sống riêng cho học sinh, điều
này cũng khó với giáo viên vì nếu quá chú trọng vào giáo dục kĩ năng sống thì
lại chậm tiến độ bài dạy theo phân phối chương trình, mà dạy cho kịp nội dung
bài đôi khi lại rất khó lồng ghép kĩ năng sống.
học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên và với nhau trong quá
trình giáo dục. Trải nghiệm có nghĩa là người học cần được đặt vào các tình
9
huống để trải nghiệm và thực hành.Tiến trình giáo dục kĩ năng sống không thể
hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận
thức dẫn đến hình thành thái độ sau đó mới là thay đổi hành vi. Giúp người học
thay đổi hành vi theo hướng tích cựclà mục đích cao nhất của giáo dục kĩ năng
sống. Để đạt được điều này thì việc giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện xuyên
suốt quá trình học tập và rèn luyện của các em.
1. Các kĩ năng sống cơ bản :
Có nhiều kĩ năng sống khác nhau. Trong phạm vi đề tài, tôi tạm xếp các
kĩ năng thành ba nhóm cụ thể nhằm tìm ra những giải pháp thiết thực phù hợp
với thực tiễn, đặc điểm học sinh của từng lớp, mà tiến hành việc rèn kĩ năng
sống cho các em.
- Nhóm kĩ năng nhận thức
- Nhóm kĩ năng xã hội.
- Kĩ năng quản lí bản thân.
Để lồng ghép trọn vẹn các nhóm kĩ năng sống là điều khó, vì vậy trong
quá trình thực nghiệm, tôi thường chú trọng rèn cho các em hai nhóm kĩ năng
cơ bản là kĩ năng nhận thức và kĩ năng quản lí bản thân. Bởi tôi xét thấy đây là
hai nhóm kĩ năng các em phải sử dụng trong nhiều tình huống của cuộc sống.
2. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống thông qua một số giờ đọc hiểu
văn bản
Giáo dục kỹ năng sống không phải là nói cho các em biết thế nào là đúng
thế nào là sai như ta thường làm. Cũng không phải là rao truyền những lời hay
ý đẹp để học sinh s quên nhanh. Các phương pháp cổ điển như giảng bài, đọc
chép s thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin đến
huống, đóng vai, chơi trò chơi, bày tỏ ý kiến… Qua đó, các em s được trải
nghiệm và tự rèn luyện kỹ năng sống cho bản thân.
Có thể dễ dàng nhận thấy, số lượng phân môn cũng như thời gian dành
cho môn Ngữ văn tương đối nhiều, tạo điều kiện không nhỏ để giáo viên có thể
tích hợp rèn luyện các KNS cho HS thông qua các giờ dạy. Bởi đây là môn học
có khả năng rèn kĩ năng sống cho học sinh khá cao. Xuyên suốt chương trình ở
các cấp học, lớp học, gần như mỗi bài học đều có thể tích hợp rèn luyện KNS
cho HS ở những mức độ nhất định.
Tuy nhiên, với chương trình ngữ văn 10, vì hạn chế và nhiều lí do khách
quan tôi chỉ đi sâu vào việc rèn kĩ năng sống cho HS ở một số giờ đọc hiểu văn
bản tiêu biểu để giúp các em nhận thức được các giá trị cuộc sống, hình thành
lối sống, cách ứng xử có văn hóa trong các tình huống giao tiếp nhất định. Đồng
thời, giúp các em định hướng để thực hành đúng cách, điều chỉnh những hiểu
biết và kỹ năng còn sai lệch từ phía các em.
Phần văn bản ngữ văn 10 có trên 10 tác phẩm và một số đoạn trích
(không kể phần đọc thêm). Mỗi tác phẩm và đoạn trích có nội dung giáo dục
khác nhau. Do đó, giáo viên phải dựa vào tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục
và khai thác thêm, chọn hình thức phù hợp với mỗi bài học và đối tượng học
sinh. Ở đây, tôi xin đề xuất những giải pháp sau.
a. Tiến trình dạy học:
* Sự chuẩn bị của giáo viên:
- Giáo viên chuẩn bị kĩ năng cần giáo dục thông qua bài học.
- Đưa ra hệ thống câu hỏi để học sinh chuẩn bị bài ở nhà.Để có một giờ
học sôi nổi, thành công, người GV cần nắm chắc mục đích, yêu cầu bài học để
chuẩn bị được một hệ thống câu hỏi khoa học.
11
Lưu ý: Khi đưa câu hỏi, giáo viên cần chú ý đến tính hệ thống và linh
Tên bài
dạy
GV
- Chuẩn bị ở nhà: Xác định nội dung có thể tích hợp rèn kĩ
năng sống, sau đó đặt câu hỏi hay đưa ra tình huống giả
định với từng nhân vật:
+ Qua cảm nhận của em, An Dương Vương là một vị vua
có công hay có tội? Vì sao?
+ Nếu là An Dương Vương em sẽ xử lý thế nào khi biết
12
con gái yêu của mình chính là kẻ phản bội?
+ Trách nhiệm của chúng ta đối với Đất nước hiện nay là
gì?
+ Qua sự hóa thân của những nhân vật, em học được điều
gì về cách ứng xử trong cuộc sống của người Việt Nam?
+ Qua cảm nhận của em, An Dương Vương là một vị vua
có công hay có tội?
+ Nếu là An Dương Vương em sẽ xử lý thế nào khi biết con
gái yêu của mình chính là kẻ phản bội?
+ Trách nhiệm của chúng ta đối với Đất nước hiện nay là
gì?
+ Qua sự hóa thân của những nhân vật, em học được điều
gì về cách ứng xử trong cuộc sống của người Việt Nam?
An
Dương
khí bảo vệ nước nhà, ngăn chặn giặc phương Bắc xâm lược.
Nhưng ở phần sau, An Dương Vương đã chủ quan khinh
địch, lơ là trong công tác phòng bị, thậm chí khi quân Triệu
13
Đà tiến sát đến chân thành vẫn ung dung ngồi đánh cờ.
Chính điều này là nguyên nhân dẫn đến nỗi “cơ đồ đắm
biển sâu”.
+ Việc An Dương Vương chém đầu Mị Nương cho thấy
thái độ dứt khoát khi phải lựa chọn giữa việc nước với việc
nhà. Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên mối quan hệ cá
nhân, gia đình. Đồng thời cũng phải ra sức phấn đấu, học
tập, rèn luyện để trở thành chủ nhân tương lai của đất
nước.
Tương tự như vậy, qua nhân vật Mị Châu hay Trọng Thủy
các em có thể nhận thức những vấn đề sau:
+ Với nhân vật Mị Châu, tác giả dân gian đã đặt ra bài
học đớn đau về trách nhiệm công dân với quốc gia, dân
tộc.Trước hết, nàng đã ngộ nhận về mối quan hệ tình cảm
vợ chồng riêng tư khi không có bất cứ sự nghi ngờ nào về
đề nghị của Trọng Thủy. Bởi đơn thuần, Mị Châu xem đó là
cách chứng minh cho tnh yêu chân thành của nh dành cho
chồng. Bên cạnh đó, nàng cũng rất nông nổi khi không chú
ý đến câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy khi chia tay và vẫn
làm theo tình cảm một cách mù quáng dẫn đường để Trọng
Thủy truy đuổi trên đường trốn chạy cùng vua cha. Và có lẽ
bài học đau đớn nhất đó chính là vì tình yêu cá nhân mà
nàng đã đẩy trăm dân vào cơn khốn cùng điêu linh. Mặc dù
dại ấy?
+ Từ cách sống và quan niệm sống của nhân vật trữ tình
trong bài thơ em hiểu thế nào là sống “Nhàn”?
+ Để sống nhàn như vậy con người cần có những phẩm
chất gì? Hướng phấn đấu rèn luyện của bản thân em?
Để rèn kĩ năng giao tiếp ứng xử, GV có thể sử dụng một
số câu hỏi sau:
+ Nếu được lựa chọn, em có chọn cách sống như nhân vật
trữ tình trong văn bản hay em sẽ chọn cách sống khác? Vì
sao?
+ Xét về phương diện xã hội, triết lí sống nhàn của Nguyễn
Bỉnh Khiêm liệu còn phù hợp với đời sống của chúng ta
hiện nay không? Vì sao?
- Thực hiện tại lớp: cho các em thảo luận nhanh theo kỹ
thuật khăn trải bàn, cử đại diện trình bày kết quả (thúc đẩy
sự thi đua giữa các nhóm bằng hình thức cộng điểm nhóm).
- Kết quả: 35/40 HS đạt kĩ năng nhận thức, và hình thành
kĩ năng giao tiếp ứng xử. Biết cách lựa chọn thái độ sống.
Có ý thức giữ gìn nhân cách và phẩm giá.
- Học sinh suy nghĩ, giải quyết vấn đề GV đặt ra.
- Học sinh có thể thảo luận nhóm để đưa ra cách nhìn
nhận, đánh giá của bản thân, lựa chọn cách sống phù hợp
đảm bảo sự phát triển hài hòa cả thể chất và nhân cách. Có ý
thức lựa chọn cuộc sống, cách sống đẹp. Đồng thời biết trân
trọng và sống hòa hợp với thiên nhiên.
Hs
- Kết quả: qua quá trình tham gia hoạt động, làm việc
cùng nhau, các em s tự hình thành kỹ năng giao tiếp ứng
xử với môi trường xã hội và môi trường thiên nhiên. Trong
GV
+ Từ nỗi hổ thẹn của nhân vật trữ tình trong bài hãy
trình bày suy nghĩ của mình về lí tưởng sống của tuổi trẻ
hiện nay.
- Thực hiện tại lớp: cho các em thảo luận nhanh theo kỹ
thuật khăn trải bàn, cử đại diện trình bày kết quả (thúc đẩy
sự thi đua giữa các nhóm bằng hình thức cộng điểm nhóm).
Cuối cùng để đánh giá quá trình hiểu và vận dụng của các
em, tôi cho các em làm một bài kiểm tra nhỏ (15 phút).
Tỏ
Lòng
- Kết quả: 36/40 HS có thể nhận ra những kĩ năng sống
thông qua văn bản và ứng dụng những KNS ấy vào trong
cuộc sống thực tiễn của bản thân.
HS
Từ những vấn đề GV đặt ra, HS thảo luận và xác định
cách nhìn nhận đánhgiá đúng về trách nhiệm bản thân đối
với môi trường xã hội xung quanh, với bản thân gia đình và
rộng hơn là quốc gia, dân tộc. Có ý thức rèn luyện, phấn đấu
tài năng và phẩm chất để có thể trở thành rường cột nước
nhà. Như vậy quan niệm lập công danh của người xưa rất
16
Trao
Duyên
+ Nếu gặp phải người có hoàn cảnh như Kiều em sẽ
đối xử với họ như thế nào?
- Kết quả:
GV có thể nhận xét để định hướng cho HS: trong bi
kịch tình yêu của Kiều và Kim Trọng, người chịu nhiều đau
khổ nhất là Kiều nhưng nàng không nghĩ đến bản thân mình
mà chỉ nghĩ đến Kim Trọng. Kiều đã quên mình để nghĩ tới
người khác, đó là một sự hi sinh cao qúy trong tình yêu.
17
Nàng đã cho đi và không nghĩ mình được nhận lại gì. Đoạn
thơ đã đem đến cho chúng ta bài học thật ý nghĩa trong cuộc
sống. Đó là bài học cho và nhận. Liên hệ giáo dục HS trong
thực tế khi tiếp xúc với những hoàn cảnh không may phải có
thái độ cư xử phù hợp.
- Học sinh suy nghĩ, giải quyết vấn đề GV đặt ra.
- HS s động não, thảo luận và trình bày ý kiến theo yêu
cầu và thời gian quy định của GV.
- Học sinh thảo luận theo nhóm nhỏ rút ra bài học kĩ
năng sống cho bản thân.
HS
- Kết quả: nhận thức tình cảm gia đình, đạo hiếu làm
- Nếu được viết lại phần kết thúc chuyện em s viết như thế nào? Tại sao
em chọn cách kết thúc như vậy?
Tùy vào ý kiến của các em, GV s định hướng để HS rút ra những kỹ
năng sống cho bản thân.
- Kỹ năng nhận thức: Công bằng và hạnh phúc chỉ đến khi con người biết
đấu tranh với cái xấu, cái ác và sự gian tà. Từ đó củng cố niềm tin của các em
vào l phải bởi l chính s thắng tà. L phải, công lí cũng không lệ thuộc vào số
lượng người giữa hai phái chính tà. Bè cánh xấu xa chỉ tồn tại nhất thời. Chính
nghĩa s thắng miễn là người quân tử có ý chí và không ngại sự thiệt hại đến
bản thân mình.
- Kỹ năng giao tiếp, ứng xử: thể hiện rõ trong câu kết văn bản. Người anh
hùng không thể hèn kém khư khư ôm cái thiện cho riêng mình “Kẻ sĩ không nên
kiêng sợ sự cứng cỏi...”. Thực tếđể tồn tại và phát triển đôi khi con người phải
trả giá, hy sinh. Trong thực tế cuộc sống, người tốt, người dám làm việc chính
nghĩa chưa chắc s nhận kết quả tốt đẹp trước mắt nhưng không vì thế mà sống
hèn kém, nhu nhược, không dám đấu tranh.
Chí Khí anh hùng:
Giúp HS nhận thấy, quan niệm anh hùng khác xưa: Anh hùng là những
người dám nghĩ, dám làm, dám theo đuổi ước mơ. Tuy nhiên cũng phải xác
định mục tiêu sao cho phù hợp với năng lực bản thân và hoàn cảnh thực tế để có
thể thành công trong cuộc sống.
Qua quá trình thực nghiệm, người thực hiện nhận thấy tuy có sự hỗ trợ rất
lớn từ BGH và tổ chuyên môn xong vẫn còn tồn tại một số khó khăn như sau:
Hiện nay hoạt động giảng dạy mới chỉ nhằm mục đích chủ yếu là truyền
thụ kiến thức và đánh giá qua kiểm tra, thi cử với tỷ số lên lớp, tốt nghiệp, đỗ
cao đẳng, đại học mà chưa có tiêu chuẩn, tiêu chí về giáo dục KNS cho
HS. Việc rèn luyện kĩ năng sống cho HS đa phần là dựa vào kinh nghiệm và bản
lĩnh đứng lớp của GV vì thế để đạt hiệu quả, GV cần phải thực hiện theo các
bước mang tính hệ thống. Muốn vậy câu hỏi và tình huống giả định đưa ra cho
0
3
0
0
4
2
1
5
6
6
6
10
11
7
13
Dựa vào bản thống kê tần số điểm kiểm tra trước tác động của hai lớp ĐC
và TN, tôi tiếp tục phân loại kết quả kiểm tra như sau
Điểm yếu
0
0
2
0
0
3
0
0
4
0
0
5
1
4
6
40
42
21
Biểu đồ phân bố điểm kiểm tra 15 phút sau tác động
Từ bảng thống kê tần số điểm kiểm tra sau tác động của lớp ĐC và lớp TN,
tôi tiếp tục phân loại kết quả kiểm tra như sau.
Điểm yếu
Bảng so sánh điểm trung bình trước và sau tác động
Với những kết quả trên, tôi có thể khẳng định rằng, việc giáo dục kĩ năng
sông cho học sinh qua một số giờ đọc hiểu văn bản đã giúp HS có một số kĩ
năng sống cơ bản, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
V.ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Bài học kinh nghiệm:
- GV phải lựa chọn bài giảng, nắm bắt mục tiêu bài học và vận dụng linh hoạt
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực phù hợp để rèn luyện kỹ năng sống
cho HS một cách linh hoạt.
- GV cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài thật tốt để có thể tích lũy kiến thức
và kỹ năng qua từng văn bản.
- GV phải đóng vai trò tác động tích cực đến hoạt động của các em tại lớp, phát
huy năng lực ở mỗi học sinh để nâng cao hiệu quả giờ dạy.
2. Những kiến nghị sau khi thực hiện đề tài:
- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc rèn KNS cho HS.
Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung theo hướng hoàn thiện
hơn.
- Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, nhằm đánh giá đúng năng lực cảm thụ và
ứng dụng vào đời sống thực tế.
- Tăng cường sự phối hợp của các lực lượng trong nhà trường để nâng cao hiệu
quả việc rèn luyện kĩ năng sống cho HS nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại
“học để biết, học để làm, học để chung sống”.
23
KẾT LUẬN
Như vậy việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng
Biên Hòa, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ti Na
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2005), Luật giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Sách giáo khoa Ngữ văn 10 - tập 1, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
3. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 10 - tập I1, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
4. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng
môn Ngữ văn lớp 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2008),Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
6. Bộ Giáo dục - Đào tạo ( 2010),Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở
trường THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
7. Bộ Giáo dục - Đào tạo ( 2011),một số kĩ năng cần thiết dành cho học sinh
trung học phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
25