skkn PHÁT TRIỂN đội NGŨ GIÁO VIÊN THEO HƯỚNG TIẾP cận NĂNG lực tại TRƯỜNG TRUNG cấp KINH tế kỹ THUẬT ĐỒNG NA - Pdf 37

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC TẠI TRƯỜNG
TRUNG CẤP KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐỒNG NAI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, thế giới ngày nay đang phát
triển rất nhanh chóng về mọi mặt. Cùng với sự phát triển đó, giáo dục nước ta
đứng trước cơ hội mới và những thức thách mới và đang thực hiện cuộc đổi mới và
cải cách sâu rộng với xu hướng đại chúng hoá và đa dạng hoá. Khi qui mô đào tạo
tăng nhanh mà các nguồn lực tại các cơ sở đào tạo: đội ngũ giáo viên, chương trình
đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị… còn hạn chế và chưa đủ khả năng đáp ứng,
tất yếu sẽ không tránh khỏi nỗi băn khoăn, lo ngại về chất lượng đào tạo của toàn
xã hội nói chung và của từng sơ sở đào tạo nói riêng. Chiến lược phát triển giáo
dục 2011 - 2020 đã nhấn mạnh một trong những tồn tại và bất cập của nền giáo
dục nước ta:
“Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới… Năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục còn thấp. Các chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và phụ cấp theo lương, chưa thỏa
đáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáo dục, chưa tạo được động lực
phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục” [1].
Nguyên nhân của vấn đề trên là:
“Tư duy về giáo dục chậm đổi mới. Một số vấn đề lý luận mới về phát triển
giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chưa nhận thức đúng vai trò quyết
định của đội ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới quản lý nhà nước
về giáo dục. Chưa nhận thức đầy đủ và thiếu chiến lược, quy hoạch phát triển
nhân lực của cả nước, của các bộ ngành, địa phương; thiếu quy hoạch mạng lưới
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Các chính sách tuyển và sử dụng nhân lực sau
đào tạo còn nhiều bất cập” [1].
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định vai trò, vị trí quyết định của người thầy

chung”.
Quản lý là: phân công, điều hành, phối hợp hài hòa giữa các thành viên với
các công việc và nguồn lực trong cơ quan, trong cộng đồng để hoàn thành một
cách hiệu quả các nhiệm vụ, các mục tiêu, các kế hoạch ... đã được đưa ra.
1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức.
Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo
dục bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo,
kiểm tra.
1.3. Khái niệm năng lực và năng lực thực hiện
William Blank phát biểu “Năng lực của con người thể hiện ở khả năng thực
hiện. Chỉ có tri thức không thôi sẽ ít có giá trị”. Như vậy có thể hiểu:
- Sự thực hiện là: Một quy trình có thể quan sát được, đòi hỏi cả kiến thức, kỹ
năng và thái độ để làm một việc gì đó theo tiêu chuẩn thực hiện được chấp nhận và
đem lại một sản phẩm, dịch vụ hay một quyết định (Quy trình là các bước được
thực hiện theo một trình tự thích hợp để hoàn thành một kỹ năng).
- Tiêu chuẩn thực hiện được chấp nhận: Tiêu chuẩn này thường xuất phát từ
thực tế sản xuất, kinh doanh. Tiêu chuẩn có thể là mức độ chất lượng của sản phẩm
hoặc thời gian đòi hỏi để hoàn thành một kỹ năng hoặc bao gồm cả 2 nội dung
trên.
Trang 2


- Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ,
công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ và công việc
đó. Năng lực thực hiện là các kĩ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối với một người
để thực hiện hoạt động có kết quả các công việc trong một nghề. Như vậy năng lực
thực hiện bao gồm: Các kĩ năng thực hành, giao tiếp, giải quyết vấn đề và các kĩ

học tập; Đào tạo theo năng lực thực hiện gắn rất chặt chẽ với nhu cầu của người sử
dụng lao động và các tiêu chuẩn của công nghiệp.
Theo John Collum thì: Đặc điểm của đào tạo theo năng lực thực hiện là định
hướng đầu ra, người có năng lực thực hiện là người: Có khả năng làm được gì (liên
quan tới nội dung chương trình đào tạo); Có thể làm được tốt như mong đợi (liên
quan tới việc đánh giá kết quả học tập của người học). John Collum cho rằng hai
Trang 3


thành phần chủ yếu của hệ thống đào tạo theo năng lực thực hiện là: Dạy và học
các năng lực thực hiện; Đánh giá và xác nhận các năng lực thực hiện.
Như vậy có thể thấy rằng: Điều quan trọng nhất trong đào tạo theo năng lực
thực hiện là học viên phải đạt được tiêu chuẩn thực hiện công việc được đề ra ngay
từ đầu. Quá trình học tập, thời gian cần thiết để tiếp thu được năng lực và địa điểm
đào tạo chỉ có vị trí quan trọng thứ hai.
Đào tạo theo năng lực thực hiện sẽ tạo ra khả năng công nhận kiến thức đã có:
công nhận các kỹ năng nghề cụ thể có được theo cách nào, dù là - đào tạo chính
quy hay không chính quy - cũng không quan trọng, miễn là học viên có thể thực
hiện công việc đạt tiêu chuẩn quy định thì năng lực đó vẫn được công nhận và
được cấp chứng chỉ. Đồng thời, phương pháp này cũng giúp xác định được những
khiếm khuyết trong đào tạo và như vậy, học viên sẽ dễ dàng hơn trong việc đào
tạo, tự đào tạo nâng cao hoặc bồi dưỡng kỹ năng của mình và duy trì khả năng làm
việc bền vững trong hoạt động nghề nghiệp [7].
2.1. Cấu trúc chuẩn năng lực
Theo Nguyễn Đăng Trụ cấu trúc chuẩn năng lực được xác định thông qua:
1. Tên đơn vị năng lực - là một mô tả phạm vi các hoạt động, kiến thức, kĩ
năng và thái độ và sản phẩm mong đợi, quyết định hoặc dịch vụ.
2. Mô tả đơn vị năng lực – là một phát biểu rõ ràng và chính xác bao phủ
được đơn vị năng lực bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ. Mô tả cung cấp
thông tin bổ sung liên quan tới mục đích của đơn vị năng lực.

- Tiêu chuẩn năng lực giáo viên định hướng làm được và đánh giá khách
quan;
2.3. Trọng tâm và yêu cầu đào tạo giáo viên theo chuẩn năng lực
Đào tạo theo chuẩn năng lực đặt trong tâm vào:
- Việc giải quyết vấn đề, hơn là tập trung vào giải quyết nội dung;
- Việc đánh giá kết quả học tập của học viên dựa vào các tiêu chí và tiêu
chuẩn nghề nghiệp của giáo viên;
- Sự thành công của chương trình đào tạo giáo viên được đánh giá theo tỉ lệ
người tốt nghiệp được hành nghề dạy học, hơn là dựa trên tỷ lệ tốt nghiệp đạt khá
giỏi.
Yêu cầu đào tạo theo chuẩn năng lực
Đào tạo theo chuẩn năng lực đòi hỏi cơ sở đào tạo giáo viên phải thay đổi các
quy trình và những cơ chế liên quan tới:
- Xây dựng chương trình: các cơ sở đào tạo giáo viên phải có khả năng xác
định và áp dụng chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện;
- Phải cấu trúc lại chương trình đào tạo, cũng như cách tổ chức quá trình đào
tạo;
- Phải thay đổi hoàn toàn quy trình đánh giá và kiểm tra để có thể tiến hành
đánh giá các năng lực thực hiện qua hành động của giáo viên trong các môi trường
thay đổi;
- Phải thay đổi hoàn toàn cách bố trí lớp học và xưởng thực hành sao cho
giống với điều kiện làm việc thực tế;
- Ngoài ra cũng cần thay đổi quy trình dạy và học, các quy trình giải quyết
vấn đề đang trở thành tiêu chuẩn trong cách tổ chức đào tạo theo năng lực thực
hiện.
2.4. Đặc điểm về tổ chức, quản lí quá trình dạy học theo chuẩn năng lực
- Hoàn thành chương trình đào tạo khi chứng tỏ là đã thông thạo tất cả các
năng lực thực hiện được xác định trong chương trình, không phụ thuộc vào thời
lượng (số giờ hay tiết học) thực học;


lộ trình và các điều kiện, cơ chế cần thiết để thực hiện được mục tiêu đã đề ra.
- Tổ chức đợt học tập chính trị đầu năm học cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lí quán triệt kế hoạch, nhiệm vụ của nhà trường cùng với các mục tiêu, quan
điểm từ Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định của Chính phủ về
đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo
dục. Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư đã xác định: "Xây dựng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm
chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo”.
Mục tiêu cụ thể đối với giáo viên trung cấp chuyên nghiệp là: Đào tạo và bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn; bổ sung giáo viên cho một số lĩnh vực mới;
bảo đảm toàn bộ giáo viên dạy nghề có trình độ đào tạo quy định và được đào tạo,
bồi dưỡng về sư phạm. Về công nghệ mới, nâng tỉ lệ giáo viên có trình độ sau đại
Trang 6


học lên 10% vào năm 2010. Phát triển đội ngũ giáo viên thỉnh giảng bao gồm các
công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, giảng viên các trường cao
đẳng, đại học và các viện nghiên cứu công nghệ.
- Lãnh đạo nhà trường cần tổ chức các hội nghị với các lực lượng và các tổ
chức chính trị xã hội trong trường thảo luận và quán triệt quan điểm chỉ đạo và
nhiệm vụ trong công tác quản lí phát triển nhân lực để làm rõ cơ chế phối hợp giữa
các lực lượng, tổ chức trong và ngoài nhà trường.
Theo đó, các nhiệm vụ chủ yếu trong quản lí phát triển đội ngũ nhân lực
gồm:
+ Khắc phục những bất hợp lí về số lượng và cơ cấu đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục
+ Nâng cao chất lượng toàn diện đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục.
+ Tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo và cán bộ quan lý giáo

3. Tăng cường chỉ đạo công tác quản lí phát triển đội ngũ giáo viên lực
lượng quyết định trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo
Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Do
đó, việc quản lí phát triển nhân lực trường có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Từ đó, nâng cao chất
lượng của từng đơn vị, từng bộ phận trong nhà trường. Trên cơ sở đó, nhà trường
phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt tới mục tiêu giáo dục của nhà nước đề ra
với chất lượng cao.
Để chỉ đạo có hiệu quả hoạt động này, bên cạnh việc lãnh đạo thực hiện tốt
các quy định trong các khâu tuyển dụng, bổ nhiệm, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng và
đảm bảo đúng chế độ, chính sách đãi ngộ, người Hiệu trưởng cần chú trọng tới
việc thực hiện các biện pháp cụ thể sau:
* Xây dựng tập thể sư phạm nhà trường thành một khối đoàn kết thống nhất:
Trong bất kì tập thể nào cũng vậy, sự đoàn kết tập thể luôn là một sức mạnh bảo
đảm cho sự thành công của tổ chức. Trong việc xây dựng một tập thể sư phạm
đoàn kết vững mạnh đã được nhiều nhà khoa học và quản lí giáo dục đặc biệt quan
tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ tâm lí xã hội đặc biệt quan trọng của
người hiệu trưởng.
Muốn có một tập thể sư phạm đoàn kết, thống nhất, từ ngày thành lập trường
năm 2008 đến nay, Hiệu trưởng nhà trường đã làm tốt các việc sau đây:
- Xây dựng sự đoàn kết trong cán bộ quản lí: Sự đoàn kết trong ban giám
hiệu sẽ là yếu tố đầu tiên quyết định sự đoàn kết trong tập thể sư phạm nhà trường.
Điều đó thể hiện ở sự phân công phân nhiệm cụ thể rõ ràng, phù hợp, sự thống
nhất ý chí và hành động hướng về mục tiêu, sự phối hợp, hỗ trợ và thiện cảm với
nhau trong công tác và đời sống thường ngày, ở sự hăng say, nhiệt tình, chủ động,
sáng tạo với công việc được giao, và mỗi cán bộ quản lí không ngừng hoàn thiện
mình để trở thành thủ lĩnh trong lĩnh vực mình quản lí. Mọi người hiểu nhau, tôn
trọng tài năng và cá tính của nhau, thúc đẩy nhau tiến bộ. Giữa họ cần có sự dung
hợp, hài hoà về mặt tâm lí, chính hiệu trưởng phải là linh hồn là trung tâm của sự
đoàn kết nhất trí đó.

2.1. Kế hoạch hóa, tuyển dụng
Nhận thức tầm quan trọng của công tác xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên
đảm bảo về số lượng, đạt chuẩn về chuyên môn, chính trị, có phẩm chất đạo đức
tốt, đáp ứng mục tiêu đào tạo, Nhà trường có Kế hoạch tuyển dụng trên cơ sở chỉ
tiêu được Sở nội vụ phê duyệt, Kế hoạch được xây dựng dựa trên cơ sở qui mô
phát triển Nhà trường và đề nghị của các khoa, phòng. Công tác tuyển dụng được
thực hiện đảm bảo tính khách quan, công bằng và minh bạch.
Các kế hoạch về tuyển dụng và phương án nhân sự đều được thông qua bởi
Trang 10


Hội đồng trường, Hội nghị công nhân viên chức, có các kế hoạch xây dựng định
hướng vào cuối năm học trước khi xây dựng cụ thể thành các văn bản tuyển dụng
công khai trên các thông tin đại chúng.
Đối với các giáo viên tuyển mới, nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực
chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ mới, Hiệu trưởng ban hành quyết định phân
công hướng dẫn tập sự, giáo viên mới sẽ được giáo viên có nhiều kinh nghiệm
hướng dẫn và giúp đỡ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Mỗi giáo viên mới phải
thực hiện 2 báo cáo theo chuyên môn giảng dạy trước Hội đồng tuyển dụng và
được đánh giá, rút kinh nghiệm. Giáo viên mới còn được tham gia Hội thi giáo
viên dạy giỏi cấp trường - môi trường học tập kinh nghiệm đồng nghiệp, nơi thể
hiện năng lực chuyên môn và cũng là nơi mà mỗi giáo viên được Hội đồng đánh
giá, rút kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
2.2. Phân công nhiệm vụ
Việc phân công nhiệm vụ cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong đó có
giáo viên được thực hiện hàng năm được thông qua trong Hội nghị công chức viên
chức đảm bảo nguyên tắc dân chủ và phù hợp với trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của từng cá nhân.
Số tiết chuẩn của giáo viên được Nhà trường xây dựng theo quy định của Bộ
giáo dục và Đào tạo và được cụ thể hóa trong Quy chế chi tiêu nội bộ của trường.

phạm của giáo viên, tạo điều kiện để giáo viên có cơ Hội thể hiện năng lực sáng
tạo, đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng từng bộ môn và nâng cao
chất lượng dạy học, hàng năm Nhà trường tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp
trường. Thực hiện theo Kế hoạch tổ chức Hội thi, Nhà trường thành lập Ban tổ
chức và các Ban giúp việc bao gồm Ban thư ký, Ban ra đề thi, Ban coi thi, Ban
giám khảo. Ban tổ chức và Ban giáo khảo gồm Hiệu trưởng, các Phó hiệu trưởng,
các trưởng phòng/khoa để việc tổ chức được thực hiện nghiêm túc, việc đánh giá
đảm bảo tính khách quan, công bằng, chính xác. Ngoài ra Hiệu trưởng, các Phó
hiệu trưởng và các Trưởng khoa là những giáo viên có chuyên môn vững vàng và
nhiều năm kinh nghiệm đã nhận xét và đóng góp ý kiến sau khi giáo viên hoàn
thành phần thi giảng dạy đã giúp giáo viên học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, từ đó
nâng cao năng lực, nghiệp vụ sư phạm.
Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của
giáo viên. Năm học 2011 - 2012 Hội thi có 22/22 giáo viên tham dự (tỉ lệ 100%),
19/22 giáo viên đạt (tỉ lệ 86.4%), 03 giáo viên không đạt (tỉ lệ 13,6%); trong đó có
01 giáo viên đạt loại giỏi (tỉ lệ 4,5%). Năm học 2012 - 2013 Hội thi có 19/21 giáo
viên tham gia (tỉ lệ 90.4%), 15 giáo viên đạt (tỉ lệ 78.9%), 04 giáo viên không đạt
(tỉ lệ 21.1%); trong đó có 04 giáo viên đạt loại giỏi (tỉ lệ 21.1%). Năm học 2013 2014 có 28 giáo viên tham gia (tỉ lệ 100%), 24 giáo viên đạt (tỉ lệ 85.7%), 04
không đạt (tỉ lệ 14.3%); trong đó có 06 giáo viên đạt loại giỏi (tỉ lệ 21.4%) [3].
Năm học 2015 - 2016 có 22 giáo viên tham dự; Kết quả: 8 giáo viên đạt danh hiệu
giáo viên dạy giỏi trung cấp chuyên nghiệp cấp trường năm học 2014-2015; dự giờ
thường xuyên và đột xuất 25 lượt giáo viên, kiểm tra toàn diện 4 khoa đều đạt yêu
cầu.
2.3.2. Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp quốc gia
Trong năm học 2011 - 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thi giáo
viên dạy giỏi cấp TCCN toàn quốc lần thứ IX diễn ra vào tháng 8/2012 tại Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa, Nhà trường đã cử 02 giáo viên tham gia, trong đó có một
giáo viên chuyên ngành chính trị và một giáo viên chuyên ngành tin học. Kết thúc
Hội thi, một giáo viên đạt giải nhì và một giáo viên đạt giải ba.
Năm học 2014 - 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thi giáo viên dạy

kế hoạch dạy học; Vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; Sử
dụng phương tiện, thiết bị dạy học; Xây dựng môi trường dạy học; Đánh giá kết
quả học tập của học sinh; Quản lí hồ sơ dạy học
- Tiêu chuẩn 3: Năng lực giáo dục gồm 5 tiêu chí: Lập kế hoạch các hoạt
động giáo dục; Giáo dục qua các hoạt động dạy học; Giáo dục qua công tác chủ
nhiệm lớp và các hoạt động giáo dục khác; Hỗ trợ, hướng dẫn nghề nghiệp, việc
làm cho học sinh; Đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh
- Tiêu chuẩn 4: Năng lực hợp tác trong dạy học và giáo dục gồm 2 tiêu chí:
Hợp tác, phối hợp với đồng nghiệp trong trường; Hợp tác, phối hợp với đồng
nghiệp ngoài trường
- Tiêu chuẩn 5: Năng lực phát triển nghiệp vụ sư phạm gồm 2 tiêu chí: Bồi
dưỡng, tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; Đổi mới dạy học và giáo dục
Việc đánh giá chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên của Nhà trường được thực
hiện dân chủ, công khai với quy trình chặt chẽ. Cuối mỗi năm học, giáo viên tự
đánh giá chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên; tiếp đến cấp khoa đánh giá; cuối
cùng là cấp trường đánh giá. Thông qua việc đánh giá mỗi giáo viên, Nhà trường
có cơ sở để xem xét chất lượng đội ngũ giáo viên cũng như chất lượng giảng dạy,
là cơ sở để đánh giá viên chức cuối năm.
Năm học 2014 - 2015, kết quả đánh giá: có 14 giáo viên được đánh giá xếp
loại khá đạt 64%, 8 giáo viên mức trung bình chiếm tỷ lệ 36% [4].

Trang 13


2.4 Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển
- Xây dựng và ban hành quy định về công tác tuyển dụng viên chức và thực
hiện tuyển dụng viên chức đúng quy định hiện hành; thực hiện khá tốt công tác đào
tạo bồi dưỡng viên chức, đặc biệt là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có
trình độ trên chuẩn, đến nay trường có 8 thạc sĩ; 01 nghiên cứu sinh và 8 viên chức
đang theo học chương trình cao học; 05 viên chức hoàn thành và 3 viên chức đang

bồi dưỡng chính trị hè, tập thể các phòng, khoa đạt giải tham gia Hội thi nấu ăn
mừng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, tập thể các phòng khoa đạt thành tích thi đấu Hội
thao cấp trường chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, các chi đoàn đạt giải
Hội thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.

Trang 14


Ngoài việc chi trả chế độ tiền lương theo quy định của nhà nước, Nhà trường
thực hiện chi thu nhập tăng thêm so với lương 30% từ tháng 01/2013 đến tháng
4/2014, từ tháng 5/2014 thu nhập tăng thêm so với lương 20%. Đối với các loại
phụ cấp như phụ cấp ưu đãi nhà giáo, phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, phụ cấp
trách nhiệm theo chức vụ, công việc theo nghề, phụ cấp độc hại, phụ cấp dư giờ,
phụ cấp ưu đãi nghề y sĩ, phụ cấp tiền cơm trưa mỗi người 200.000 đồng/tháng và
các loại tiền thưởng cuối năm, phụ cấp thêm 20% so với lương đối với giáo viên có
trình độ thạc sĩ đều được Nhà trường thực hiện đầy đủ.
Do điều kiện đi lại, làm việc khó khăn của viên chức Nhà trường hợp đồng
thuê xe đưa rước giáo viên từ Biên Hòa đến Nhơn Trạch và ngược lại góp phần
động viên, khích lệ công chức, viên chức nỗ lực và tích cực hoàn thành công việc
tốt hơn. Ngoài ra, Công đoàn trường hàng năm đều tổ chức các hoạt động tham
quan du lịch hè để toàn thể công chức viên chức được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí
tạo sự gắn bó đoàn kết sau một năm nổ lực làm việc. Ngoài ra, thời gian nghỉ hàng
năm của giáo viên là 08 tuần hàng năm bao gồm: nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ các ngày
lễ khác theo quy định của bộ luật lao động.
Giáo viên hoàn thành định mức giờ chuẩn giảng dạy được hưởng lương và
các khoản phụ cấp theo quy định chung của Nhà nước, ngoài ra nếu vượt định mức
và tích cực tham gia công việc khác do Trường phân công sẽ được hưởng thu nhập
tăng thêm theo Quy chế chi tiêu nội bộ của Trường. Nếu không hoàn thành định
mức do các điều kiện khách quan, được Hiệu trưởng chấp thuận vẫn được hưởng
lương và các khoản phụ cấp theo quy định và phải bổ sung định mức giờ chuẩn

trọng trong xã hội. Trong lịch sử Việt Nam, người thầy là người chăm lo, dẫn dắt
thế hệ trẻ; là người có lòng yêu nghề tha thiết, luôn coi trọng tri thức, lấy dạy chữ,
dạy người làm lẽ sống của mình. Đó là người truyền đạt kiến thức, là nhà giáo dục
Trang 15


trong việc hình thành và phát triển kỹ năng sống, đạo đức cho học sinh, là tấm
gương sáng cho học sinh noi theo. Đây là những người coi trọng danh dự, lương
tâm, gìn giữ khí tiết, xác lập vị trí của mình trong xã hội bằng tài năng, đức độ, học
vấn, cống hiến. Hiện nay, do việc đổi mới công nghệ và toàn cầu hoá, hội nhập
quốc tế về giáo dục, trong nền giáo dục mới có sự chuyển đổi cơ bản vai trò, vị trí
của người thầy.
Công nghệ mới đang làm thay đổi thế giới việc làm, buộc phải thay đổi trong
lĩnh vực giáo dục, đặc biệt thúc đẩy cải cách giáo dục phổ thông và dạy nghề.
Nhiệm vụ của giáo dục là thực hiện việc đào tạo nhằm có được các khả năng đa
dạng, đào tạo liên ngành cũng như đào tạo người lao động có tri thức, có khả năng
dự đoán các vấn đề, tìm tòi và khai thác kiến thức, đề xuất ra các giải pháp. Do đó,
nhiệm vụ người dạy cũng cần phải thay đổi: người thầy không phải chỉ đơn thuần,
là người truyền thụ kiến thức mà là người thúc đẩy việc học hành. Quá trình toàn
cầu hoá trao đổi, dịch vụ tài chính, sản xuất và việc làm từ các nước có chi phí lao
động cao đến các nước chi phí lao động thấp cũng có tác động mạnh đến giáo dục.
Khả năng phát hiện và khai thác kiến thức trở thành chìa khoá của cạnh tranh quốc
tế. Kỷ nguyên thông tin cũng có ảnh hưởng đến giáo dục và đào tạo theo nghĩa dựa
trên việc khai thác các công nghệ thông tin hiện đại để xử lý và quản trị thông tin.
“Xã hội tri thức” ra đời từ sự thay thế mô hình kinh tế công nghiệp bằng mô hình
kinh tế dựa trên kiến thức, thông tin và các công nghệ thông tin. Vì vậy, giáo dục
và dạy nghề phải thích ứng nhanh với các thay đổi liên quan đến thế giới việc làm.
Sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và toàn cầu hoá cũng ảnh hưởng đến
giáo dục và đào tạo. Đó là việc học tập phải được tiến hành suốt đời và phải cố
“học cách học” để chủ động nắm bắt tri thức. Vai trò của giáo dục là làm sao cho

cho nhà giáo. Sử dụng có hiệu quả chất xám của đội ngũ giáo viên, đồng thời xác
định các đòi hỏi về tinh thần trách nhiệm của họ. Xây dựng và hoàn thiện các tiêu
chuẩn nghiệp vụ, các định mức lao động của giáo viên.
Hiện nay, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên không thể hiện rõ tính
chuyên nghiệp của một trường nghề. Tình trạng bất cập trong việc bồi dưỡng, phát
triển năng lực hành nghề cho học sinh là do những hạn chế về thời lượng và chất
lượng giảng dạy, đồng thời gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức thực hành,
thực tập. Bên cạnh đó, thực tế khả năng nghiên cứu khoa học của giáo viên hiện
nay chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến hoạt động nghiên cứu khoa học của
các cơ sở dạy nghề nói chung và khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của giáo
viên nói riêng còn rất hạn chế. Để giải quyết được bất cập này cần thiết sắp xếp, tổ
chức lại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề; đa dạng hoá hình thức
đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; đổi mới hoạt động của các trường sư phạm kỹ thuật;
các khoa sư phạm dạy nghề để đào tạo, bồi dưỡng sư phạm dạy nghề, nâng cao kỹ
năng nghề cho giáo viên; khuyến khích các tổ chức nghiên cứu khoa học tham gia
công tác đào tạo, bồi dưỡng sư phạm nghề cho giáo viên qua đó phát triển công tác
nghiên cứu khoa học của các các cơ sở dạy nghề cũng như nâng cao năng lực
nghiên cứu khoa học của giáo viên.
Bên cạnh đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo nguồn lực
phát triển đội ngũ giáo viên cho toàn hệ thống, huy động đóng góp của người học
theo quy định của pháp luật, huy động các nguồn lực xã hội hoá, đầu tư của các tổ
chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc phát triển đội ngũ giáo viên.
Đối với Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Đồng Nai, giải pháp cấp thiết
và trước mắt cần phải có kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên theo giai đoạn,
trong đó cần thiết nhất là chế độ đãi ngộ đối với giáo viên có trình độ thạc sĩ và
đang học cao học, nghiên cứu sinh, tiếp tục duy trì thu nhập tăng thêm 20% cho
giáo viên có trình độ thạc sĩ và xây dựng quy chế đãi ngộ cho giáo viên đang học
cao học, nghiên cứu sinh. Đây chính là kế hoạch để giữ chân người giỏi để thực
hiện đề án nâng cấp trường lên Cao đẳng trong tương lai

Trang 18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status