Khoá luận tốt nghiệp
học
Bùi Thị Hằng - K48 ĐH Nông
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp đã có truyền thống từ bao đời nay,
nền nông nghiệp ngày càng phát triển cùng với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Năng suất các sản phẩm nông nghiệp tăng lên đáng kể và trở
thành nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Sản phẩm nông
nghiệp càng tăng cao thì việc sử dụng hợp lý hơn các chất phế thải từ nông
nghiệp như rơm rạ, lõi ngô, thân cây ngô… ngày càng được chú trọng nhằm
sử dụng tối đa sản phẩm và giảm thiểu việc gây ô nhiễm môi trường.
Sơn La là vựa ngô lớn của nước ta, sau mỗi vụ thu hoạch ngô lượng cơ
chất như lõi ngô dư thừa khá lớn, người dân thường sử dụng làm chất đốt, làm
thức ăn gia súc, làm tàn dư che phủ đất chưa sử dụng được tối đa sản phẩm từ
nông nghiệp. Mặt khác việc trồng thử nghiệm nấm Sò trên cơ chất lõi ngô cho
năng suất cao hơn, thời gian thu hoạch lâu hơn so với rơm rạ, bông phế thải.
Chính vì vậy, để mở ra hướng đi mới trong nông nghiệp và tăng thêm thu
nhập cho người dân Tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung thì
việc nuôi trồng nấm ăn phải được chú trọng đưa vào sản xuất phổ biến và
chuyên sâu bởi hiện nay sản phẩm nấm ăn vẫn chưa đủ cung cấp cho thị
trường nội địa, giá thành khá cao và ổn định.
Nấm Sò dễ thích nghi với nhiều kiểu khí hậu, có hai loại nấm Sò là
nhóm nấm Sò chịu nóng (24 – 28oC) và nhóm nấm Sò chịu lạnh (13 -20oC).
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất đới với người dân trồng nấm là
nguồn giống nấm. Những vùng thuận tiện giao thông đi lại, gần trung tâm thì
việc cung cấp và vận chuyển giống nấm dễ dàng, ngược lại ở khu vực vùng
sâu, vùng xa trong quá trình vận chuyển giống nấm có thể bị dập nát khi cấy
giống không đảm bảo chất lượng giống, chưa kể đến chất lượng gống chưa
- Tuân thủ đúng các nguyên tắc và các bước trong quá trình nuôi cấy.
- Theo dõi các chỉ tiêu liên quan ở mỗi giai đoạn.
- Đánh giá được một số chỉ tiêu liên quan đến chất lượng giống.
2
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm và sợi nấm, vai trò của
giống nấm
2.1.1. Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm
Bào tử của các loại nấm ăn, nấm dược liệu không chỉ khác nhau về màu
sắc, kích thước mà còn có thể rất khác nhau về hình thái cấu tạo, nhất là cấu
tạo bề mặt của bào tử [2].
Nấm có nhiều loại, bào tử nấm của các loại nấm Sò cũng khác nhau về
màu sắc, hình dạng và khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ. Trong điều
kiện tự nhiên, vào giai đoạn sinh trưởng, thành nấm Sò sẽ phát tán bào tử nhờ
gió, bào tử rải ra khắp mọi nơi, gặp điều kiện môi trường thích hợp sẽ hình
thành hệ sợi nấm sơ cấp với một nhân. Hệ sợi nấm sơ cấp phát triển đầy đủ
tạo nên một mạng rời để hình thành hệ sợi nấm thứ cấp, sau đó có sự kết hợp
của hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể nấm hoàn chỉnh [2].
Căn cứ vào màu sắc của bào tử người ta chia các loại nấm ăn ra thành 5
nhóm:
- Nhóm bào tử màu trắng (Lentinus edodes, Pleurotus ostreatus..).
- Nóm bào tử màu đỏ (Volvariella volvacea…).
- Nhóm bào tử màu nâu (Agaricus bisporus, Agaricus bitosquis…).
Quả nấm hay quả thể (fruit body) là cơ quan sinh sản, cũng tức là cơ
quan sinh bảo tử của các loại nấm bậc cao. Đó chính là phần thu hái để ăn của
các loại nấm ăn. Tùy loại nấm mà quả nấm có hình thái cấu tạo, màu sắc, kích
thước không giống nhau [2].
Quả thể nấm bao gồm: Cuống nấm, mũ nấm, phiến nấm.
- Mũ nấm: Là phần trên của quả nấm, phía trên thường hơi lõm. Mũ
nấm mọc trên cuống nấm (stipe), mặt dưới của mũ nấm có rất nhiều phiến
nấm (gill, lamellae) có kích thước khác nhau.
Hình dạng: Mũ nấm thường có dạng mép phẳng, dạng mép lồi lõm,
dạng hình tròn, dạng phễu, dạng chiếc ô, dạng mép cuốn lên, dạng bán
nguyệt, dạng vỏ sò…
4
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
- Phiến nấm: Là mặt dưới của mũ nấm. Hình dạng khác nhau: Dạng
mép trơn nhẵn, dạng mép răng cưa, dạng mép lượn sóng, dạng tỏa cong, dạng
tỏa thẳng, dạng tỏa vươn lên…có độ dài ngắn khác nhau.
- Cuống nấm: Cuống nấm có thể nằm chính giữa mũ nấm, nằm lệch
tâm hoặc nằm ở một bên có hình dạng khác nhau: Hình viên trụ, hình chùy,
hình cong, hình con thoi, hình sợi mảnh…
Cuống nấm có thể nhẵn, có lông tơ hoặc vẩy, có thể rỗng hoặc là chắc.
Ngoài ra trên cuống nấm có khi có vòng nấm, ở gốc cuống nấm có bao nấm.
Nấm sò mọc tập chung thành từng cụm, khi già phát tán thành bào tử, nhiều
nước dập nát. Ngoài ra nấm cò hình thái biến dị như: San hô, cuống dài… [2].
2.1.3. Vai trò của giống nấm
- Nấm Sò hoàng bạch (Pleurotus cornucopiae Roll).
- Nấm Sò kim đỉnh (Pleurotus citrinopileatus Sing)....
- Nấm Sò tím (Pleurotus ostreatus Quél) [3].
2.1.5. Giá trị của nấm sò
Nấm Sò không chỉ ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao. Trong
nấm Sò khô lượng Protein chứa khoảng 20%. Trong Protein này có đầy đủ
8 loại axit amin không thay thế và một lượng lớn Vitamin [3].
Lượng chứa một số Vitamin của nấm Sò tính trên 100g nấm khô như
sau:
Bảng 1: Hàm lượng Vitamin của nấm Sò trên 100g nấm Sò khô
Vitamin (mg/100g nấm khô)
P.Sajor
- caju
P.florida
nus
Vitam
Vitamin
Axit
Vitamin
in C
B1
nicotinic
1412
[3]
6
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
Nấm Sò chứa một lượng đáng kể các nguyên tố vi lượng được thể hiện
trong bảng sau:
Bảng 2: Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong 100g nấm Sò khô
Nguyên tố vi lượng (mg/100g nấm khô)
Na
Ca
Mg
P
Fe
Cu
Zn
Mn
1.0
9.9
0.0010
P.Porrigens
89
79
94
985
12.4
3.6
7.8
0.0014
[3]
Ngoài giá trị dinh dưỡng phong phú, nấm Sò còn có giá trị dược liệu,
nấm không gây sơ cứng động mạch và không làm tăng lượng Cholesterol
trong máu, nấm còn chứa nhiều vitamin và các chất kháng sinh rất tốt cho cơ
thể. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nấm Sò cùng một số loại nấm ăn khác có tác
dụng phòng trị một số bệnh như: Làm hạ huyết áp, chống béo phì, chống ung
đó nấm Mỡ là 1.424.000 tấn, nấm hương là 393.000 tấn... Năm 1994 tổng
sản lượng nấm trên thế giới lên tới 4.909.000 tấn… Trong đó các nước sản
xuất nấm chủ yếu là Trung Quốc 2.850.000 tấn (chiếm 53.79% tổng sản
lượng nấm ăn trên thế giới), Hoa Kỳ 393.400 tấn (chiếm 7.61%), Nhật Bản
360.100 tấn (chiếm 7.34%), Pháp 185.000 tấn...[5]
Hiện nay các nước trên thế giới đang tập chung nghiên cứu và phát
triển mạnh mẽ các công trình nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu. Khu vực
bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp là chính.
Những nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 - 1000 tấn/năm được cơ
giới hoá cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái chế biến do máy móc thực
hiện. năng suất nấm trung bình của các nước này đạt 40 - 60% so với nguyên
liệu ban đầu (nấm Mỡ, nấm Sò) [5].
Khu vực Châu Á triển khai sản xuất nấm theo mô hình vừa và nhỏ.
Nghề trồng nấm của khu vực này cũng phát triển mạnh mẽ, một số loại
nấm ăn được nuôi trồng khá phổ biến như: Nấm Hương, nấm Sò, Mộc Nhĩ,
8
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
Nấm Mỡ. Bắt đầu từ những năm 90 tại đây đã phát triển toàn diện và tập
trung quy mô nghiên cứu về sinh vật, di truyền học phòng trừ sâu bệnh hại
và chế biến dược phẩm từ nấm. Ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự
đi vào từng hộ nông dân, sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc
lớn nhất thế giới, Trung Quốc được coi là nước sản xuất và xuất khẩu với
sản lượng lớn nhất, năm 1995 có sản lượng là 3.000.000 tấn, chiếm 60%
tổng sản lượng thế giới. Đồng thời Trung Quốc cũng là nước suất khẩu
vào Nam, với những thành công thu được đáng kể, với công nghệ nuôi trồng
cũng được cải thiện rõ rệt, năng suất được nâng lên [5].
Miền Bắc nấm được trồng nhiều ở các tỉnh như: Thái Bình, Ninh Bình,
Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội... Hiện nay các nhà khoa học đã có trong tay
một số lượng lớn khá phong phú về các giống nấm và công nghệ nuôi trồng
nấm thông qua các quá trình nghiên cứu và trao đổi quốc tế [5].
Về giống nấm: Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều giống nấm
khác nhau, nhưng hiện nay nước ta đang tập chung phát triển một số loại nấm
chính là nấm Rơm, nấm Sò, Mộc Nhĩ, nấm Mỡ, nấm Hương, nấm Linh Chi.
Với điều kiện khí hậu từng vùng khác nhau có thể nói nước ta trồng được nấm
quanh năm, nước ta có một số Trung tâm sản xuất giống nấm có uy tín như:
Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Trung tâm Công Nghệ Sinh Học Ứng Dụng –
Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Sinh học - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ
Chí Minh [5].
Các giống nấm đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồn
giống khác nhau, một số giống nấm nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc,
Italia, Nhật Bản…Một số khác thì được sưu tầm trong nước.
Về năng suất và sản lượng: Năng suất tính theo các loại nấm khác nhau
là rất khác nhau. Nấm sò có năng suất cao nhất đạt trung bình 700 kg nấm
tươi/1000 kg nguyên liệu khô, Mộc Nhĩ 600 kg, nấm Hương 500 kg, nấm Mỡ
200 kg, nấm Rơm 100 kg, cuối cùng là nấm Linh Chi 75 kg. Nhìn chung năng
suất nấm của nước ta chỉ bằng 50 – 70 % với năng suất bình quân trên thế
giới. Còn về sản lượng với sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài
nước, cũng như sự mở rộng thị trường, tổng sản lượng nấm các loại được sản
xuất ở nước ta hiện nay khoảng 100.000tấn/năm. Trong đó xếp theo thứ tự
10
Khoá luận tốt nghiệp
11
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
là 853.265 người chiếm 82% dân số trong tỉnh), thu nhập bình quân đầu
người chưa cao. Đồng thời đây là khu vực có khí hậu rất thuận lợi cho sự phát
triển nghề trồng nấm. Có ẩm độ cao (trung bình 80%), nhiệt độ khá ổn định
(trung bình 26.7o C).
Nguyên liệu dùng để trồng nấm tại nơi đây rất sẵn có. Tính đến năm
2003 diện tích đất nông nghiệp của Sơn La chiếm 191.828ha. Trong đó diện
tích trồng lúa chiếm 38.465ha, diện tích trồng ngô chiếm 64.664ha. Những
nguồn nguyên liệu này có thể tận dụng vào nuôi trồng nấm để mang lại giá trị
kinh tế cao, giúp tạo công ăn việc làm cho bà con nông dân.
Người dân ở đây đã biết trồng nấm từ rất lâu, rất nhiều người đã tự đi
học hỏi nghề trồng nấm từ ở nơi xa về để phát triển kinh tế gia đình, các
giống nấm được trồng chủ yếu ở đây là nấm Sò và mộc Nhĩ, nấm Rơm. Trong
đó chủ yếu người dân trồng nấm Sò, loại nấm này dễ trồng, năng suất cao và
nguồn nguyên liệu sẵn có. Trong mấy năm gần đây việc trồng thử nghiệm
nấm Sò trên cơ chất lõi ngô đã mang lại kết quả rất khả quan, trồng nấm Sò
trên cơ chất lõi ngô mang cho năng suất cao, thời gian cho thu hoạch lâu hơn
trên bông phế thải, trên rơm rạ.
Tại Sơn La có một xí nghiệp sản xuất giống nấm chất lượng tốt cung
cấp giống nấm cho tỉnh và các tỉnh lân cận, ngoài ra trung tâm còn kết hợp
với Trung tâm Khuyến nông tỉnh đi về các huyện mở lớp hướng dẫn nuôi
trồng chăm sóc các loại nấm. Nguồn giống nấm được cung cấp tại Sơn La chủ
yếu từ 2 nguồn:
- Xí nghiệp sản xuất giống nấm và chế biến nấm xuất khẩu Sơn La.
ứng cho bà con nông dân, mặc dù nơi đây người dân đã biết sử dụng nấm ăn
từ lâu đời. Việc trồng nấm Sò cũng đã xuất hiện cách đây khoảng chục năm
nhưng chủ yếu với quy mô nhỏ lẻ và tập chung chủ yếu vẫn ở một số xã xung
quanh thị trấn như: Thị trấn Thuận Châu, Thôm Mòn, Chiềng Ly,... Nguồn
giống nấm bà con nông dân chủ yếu mua của Công ty xuất nhập khẩu Sơn La.
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm, thời gian, đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1. Địa điểm nghiên cứu
13
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
Thí nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm Khoa Nông Lâm.
Trường Đại học Tây Bắc - Huyện Thuận Châu - Tỉnh Sơn La.
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được bắt đầu từ ngày 15/07/2010 đến hết ngày 15/11/2010.
3.1.3. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Giống nấm Sò trắng (Pleurotus florida) mua tại Trung tâm Công nghệ
Sinh học – Viện Di truyền Nông nghiệp Hà Nội.
- Phế phẩm lõi ngô.
- Khoai tây, thạch Agar, giá đậu xanh, đường Glucose, bột nhẹ, nước
vô trùng, Streptomycin.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Phân lập, nhân giống nấm Sò từ bào tử thu được từ quả thể nấm.
- Nuôi cấy bào tử nấm trên môi trường PDA để tạo ra giống cấp 1.
mỗi bịch ta cấy 3 lớp giống, trên cùng ta rải đều một lớp giống nữa trên bề
mặt nguyên liệu. Dùng ống nhựa và bông làm cổ túi, lấy dây nịt buộc lại tạo
miệng túi có nút bông ở giữa.
- Ươm bịch: Sau khi cấy giống ta tiến hành ươm bịch, bịch nấm đặt
trên giá, khoảng cách giữa các bịch là 5 – 10cm. Thời gian ươm bịch kéo dài
khoảng 20 ngày (kể từ khi cấy giống) thì tiến hành treo bịch, khi sợi nấm phát
triển mạnh và hệ sợi nấm có màu trắng đồng nhất và rắn chắc.
- Rạch bịch: Tháo cổ nút bông và buộc xoáy miệng túi thật chặt, sau
đó treo bịch nấm theo chiều nút bông quay xuống dưới. Dùng dao lam sắc
rạch 5 – 6 đường chéo xung quanh túi, chiều dài vết rạch dài 4 – 5cm, không
rạch sâu vào bên trong cơ chất chỉ rạch nhẹ tay ở màng túi. Msỗi bịch treo
cách nhau 10 – 15cm để tránh khi nấm mọc ra chạm vào nhau.
- Tưới nước: Sau khi treo bịch và rạch bịch từ 3 – 5 ngày, cụm nấm bắt
đầu mọc lên, ta tiến hành tưới nước bên ngoài túi. Tưới ở dạng phun sương,
lượng nước ít nhưng kéo dài thời gian tưới sao cho mỗi lần tưới lượng nước
phủ đều trên bề mặt mũ nấm là được.
* Thu cây mẹ: Khi cây nấm mẹ phát triển đến thời kì cho thu hoạch, ta
tiến hành hái nấm, chọn cây nấm to khoẻ nhất trên cụm nấm (cây nấm to, dày,
15
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
cánh nấm mập, cân đối giữa thân gốc thon đều tới cánh nấm) cắt ngang cuống
nấm sát với cụm nấm, lấy các cây nấm này để phân lập giống gốc.
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được phân lập trên 5 cây nấm mẹ.
* Các chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sinh trưởng của quả thể nấm mẹ
vào đĩa Petri cần chú ý cho dung dịch trải đều trên mặt đĩa, lớp thạch dày từ 3
– 5 mm.
Để tạo thạch nghiêng ta tiến hành đổ dung dịch dinh dưỡng đồng nhất
vào các ống nghiệm có kích thước 1.5 x 20 cm. Dùng phễu có gắn ống cao su
để tránh dung dịch dính lên thành ống nghiệm. Dung dịch trong cao 1/4 chiều
dài ống nghiệm. Sau khi đổ xong ta làm nút bông nút chặt miệng ống nghiệm,
cứ 5 ống ta buộc lại và bịt bằng túi nilone chịu nhiệt sau đó cho vào nồi hấp
thanh trùng, dựng cho ống nghiệm đứng và hấp ở nhiệt độ 120 oC, 1.5atm
trong 150 phút. Hấp xong đưa ống nghiệm ra kê lên một thanh gỗ cao 1.5cm
để tạo thạch nghiêng. Các ống thạch nghiêng sau khi hấp xong đưa ra để 5
phút thì thạch đông lại.
Để kiểm tra môi trường PDA nấu có bị nhiễm nấm lạ hay không, ta đưa
các ống nghiệm vào trong tủ ấm điều chỉnh tủ ở nhiệt độ 30 – 37 oC trong 48 –
72 giờ, đưa ra nếu không thấy có hiện tượng nhiễm nấm lạ nấm có màu cánh
dán là đạt. Thạch đĩa dùng cấy bào tử nấm khi phân lập giống gốc, thạch
nghiêng dùng để nhân giống gốc và giống cấp 1.
3.3.2.1. Phân lập giống gốc từ quả thể nấm
Chọn cây nấm to, dày, cánh nấm mập cân đối giữa thân gốc thon đều
tới cánh nấm, cắt ngang cuống nấm sát với cụm nấm. Gói cây nấm đã chọn
trong túi nilone sạch và đưa vào Box cấy. Sau đó bật đèn UV trong 30 phút để
đảm bảo thanh trùng tuyệt đối.
- Phương pháp cấy: Dùng tay xé đôi cánh nấm theo chiều dọc. Dùng
kim khêu mô nấm ở khoang dày nhất của thân nấm rồi chuyển sang ống
thạch. Mỗi lần lấy mẩu mô mới ta lại dùng tay xé một phần cánh nấm Sò để
tạo ra một phần mới ở cánh nấm, để lần lấy mẩu mô mới không bị dính vào
vết lấy trước đó (trên một cánh nấm có thể phân lập được nhiều mẩu ống
17
cấy khuẩn lạc và 10 dòng nấm cấp 1.
18
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
*Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tốc độ ăn lan (cm/2ngày).
- Thời gian sinh trưởng (ngày).
+ Thời gian sinh trưởng của khuẩn lạc được tính từ ngày cấy đến ngày
hình thành khuẩn lạc dùng để cấy lên thạch nghiêng tạo thành các dòng.
+ Thời gian sinh trưởng của các dòng tính từ ngày cấy đến khi hệ sợi
nấm ăn lan hết bề mặt thạch có thể nhân giống cấp 1.
3.3.3. Nhân giống cấp 1
Giống cấp 1 là giống được cấy truyền từ nguồn giống gốc nhân từ bào
tử nấm bằng cách nuôi cấy khuẩn lạc và phân lập từ quả thể nấm. Môi trường
nhân giống cấp 1 là môi trường thạch nghiêng (PDA) được làm tương tự môi
trường nhân giống gốc. Từ một ống giống gốc khi cấy sang môi trường giống
cấp 1 ta nhân với tỉ lệ 1/25.
* Kỹ thuật cấy truyền giống gốc sang giống cấp 1: Ta mở miệng ống
nghiệm và hơ trên ngọn lửa đèn cồn, đốt que cấy cháy đỏ sau đó nhúng vào
cồn thật lạnh. Dùng que cấy chia bề mạt hệ sợi nấm thành từng miếng nhỏ
như hạt đỗ và chuyển sang ống thạch nghiêng mới (đặt vào phần chính giữa
bề mặt thạch). Sau đó hơ miệng ống nghiệm đã cấy giống và dùng bông sạch
đã hấp khử trùng nút miệng ống nghiệm.
* Nuôi sợi giống nấm cấp 1: Sau khi cấy, ta đưa các ống giống cấp 1
và bảo quản trong tủ ấm ở 25 oC, theo dõi hàng ngày sự phát triển của hệ sợ
trộn bột nhẹ vào chai, lượng thóc cho vào chai là 2/3 chai (0.3kg thóc luộc),
tạo nút cổ chai bằng bông sạch và bịt đầu chai bằng nilone chịu áp suất cao.
Môi trường cấp 2 phải được hấp thanh trùng ngay. Thời gian hấp thanh trùng
môi trường này trong vòng 150 phút, áp suất 1.5atm, nhiệt độ 120oC.
Môi trường giống nấm cấp 2 sau khi hấp thanh trùng phải để qua 1
ngày mới tiến hành cấy giống. Vì sau khi thóc luộc chín và hấp thanh trùng,
tinh bột trong thóc chuyển hoá thành đường (quá trình này gọi là quá trình
Caramen hoá), để qua 1 ngày cho quá trình này ổn định ta mới tiến hành cấy
giống. Một ống giống cấp 1 khi nhân truyền sang giống cấp 2 với tỉ lệ 1/2.
* Kỹ thuật cấy truyền: Giống cấp 1 đạt tiêu chuẩn cấy sang giống nấm
cấp 2 là giống có hệ sợi nấm ăn lan đều trên bề mặt thạch, có màu trắng sữa.
20
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
Ta dùng que cấy nhẹ nhàng nới lỏng hệ sợi nấm và cắt đôi lớp thạch
trong ống nghiệm thành 2 phần đều nhau, gạt miếng thạch sang chai giống
cấp 2, lắc nhẹ tay cho miếng thạch ở chính giữa chai. Khi giống cấp 1 đã cấy
vào chai, ta hơ nút bông và cổ chai trên ngọn lửa đèn cồn rồi nút chai giống
đã được cấy lại.
* Nuôi sợi giống nấm cấp 2: Chuyển các chai giống nấm cấp 2 sang
phòng nuôi cấy hoặc để trong tủ giữ ấm ở nhiệt độ 25 oC. Theo dõi hệ sợi nấm
ăn lan và loại bỏ những chại bị nhiễm nấm lạ. Trong 3 ngày đầu sau khi cấy
giống cần theo dõi chặt chẽ, nếu chai giống nào có hiện tượng miếng thạch
khô, các sợi nấm không có hiện tượng ăn lan, hoặc bị nhiễm nấm mốc xanh
thì phải loại ngay.
cấy truyền sang giống cấp 3 với tỉ lệ 1/30.
* Kỹ thuật cấy truyền: Mở miệng nút bông chai giống cấp 2, hơ qua
ngọn lửa đèn cồn, dùng que cấy gạt bỏ lớp thạch còn sót lại và đánh tơi hạt
thóc có hệ sợi nấm cấp 2 trong chai giống (chú ý đánh theo hình tròn xoáy từ
trái sang phải hoặc từ phải sang trái tránh làm đứt và làm nát sợi nấm nhiều
nhất). Mở nút bông túi giống cấp 3, một tay cầm túi môi trường giống cấp 3,
một tay cầm chai giống cấp 2 và lắc nhẹ các hạt giống trong chai cấp 2 sang
túi cấp 3. Cấy xong hơ nút bông và nút túi giống cấp 3 lại. Tiếp tục cấy các túi
giống khác cho tới khi hết chai giống thì lau dọn sạch sẽ Box cấy và que cấy,
vì 2 chai giống là 2 hệ sợi khác nhau.
* Nuôi sợi giống nấm cấp 3: Cấy xong ta chuyển các túi giống cấp 3
sang phòng nuôi có điều hoà nhiệt độ ở 24 - 26 oC. Theo dõi sự phát triển của
hệ sợi nấm, phát hiện các túi nhiễm nấm lạ phải lợi bỏ kịp thời.
* Bố trí thí nghiệm: Giai đoạn nhân giống cấp 3 (giống thương phẩm)
được tiến hành trên 2 chai giống cấp 2 với tỉ lệ 1/30. Chọn 2 chai giống cấp 2
có hệ sợi nấm ăn lan nhanh, khoẻ mạnh để nhân giống cấp 3.
*Các chỉ tiêu theo dõi:
- Thời gian sinh trưởng (ngày): Thời gian sinh trưởng được tính từ ngày
cấy đến khi hệ sợi nấm ăn lan hết môi trường thóc luộc trong túi. Theo dõi
ngẫu nhiên 10 túi giống cấp 3 từ mỗi dòng nấm cấp 2 nhân sang.
22
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
- Tỉ lệ nhiễm bệnh (%): Tỉ lệ bệnh được tính bằng tổng số bịch giống
nhiễm trên tổng số bịch giống sản xuất.
23
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Hằng – K48 ĐH Nông học
lót ở đáy kệ, để thoáng khí), sau đó đem nguyên liệu đã ráo nước rắc đều
xung quanh cột thông khí và ấn nhẹ tay. Sau khi đã cho hết nguyên liệu vào ta
lấy bạt hay nilone phủ kín cột đống ủ nhưng không phủ kín cột thông khí.
Sau 3 ngày mở đống ủ ra và tiến hành đảo đều, ta nắm nguyên liệu
nếu không thấy nước ứa ra kẽ tay thì nguyên liệu khô ta phải hoà nước vôi
tưới thêm, ngược lại nếu nguyên liệu ướt quá ta cần đảo tơi ra rồi để một lúc
bay hơi bớt sau đó phủ nilone hoặc bạt kín như ban đầu và ủ tiếp 3 – 4 hôm
nữa, sau đó đảo lần 2. Thời gian ủ từ 8 – 10 ngày khi đống ủ lên men, nguyên
liệu toả nhiệt có màu vàng sáng đạt độ ẩm phù hợp là có thể ươm bịch.
- Kỹ thuật cấy giống, ươm và rạch bịch trong túi nilone màng
mỏng:
Kỹ thuật cấy giống, ươm bịch và rạch bịch được thực hiện tương tự
như giai đoạn nuôi cây mẹ thu bào tử.
- Chăm sóc và phòng trừ sinh vật hại:
Sau khi bịch đã rạch được 4 - 5 ngày, nấm bắt đầu chui ra khỏi túi
nilone khi đó ta bắt đầu tưới nước hằng ngày, tưới theo dạng phun sương. Sao
cho sau khi tưới 1 lượng nước nhỏ vừa phủ khắp bịch nấm và đọng lại một
lớp nước trên bề mặt mũ nấm.
Tỉ lệ nhiễm bệnh được tính:
Tổng số bịch nhiễm bệnh
Tỉ lệ bệnh =
- Các chỉ tiêu sinh trưởng:
+ Chiều dài cuống nấm (cm).
+ Đường kính mũ nấm (cm).
- Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất
+Số cây trên cụm.
+ Khối lượng trung bình của một cụm (kg).
+ Năng suất của bịch: Tổng khối lượng thu hái/ bịch theo dõi (kg).
Chỉ tiêu này tiến hành theo dõi ở mỗi lần nhắc lại là 5 bịch và theo dõi
2 ngày một lần kể từ khi cụm nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch.
3.3.7. Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, IRRISTAT.
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
25