skkn một số biện pháp chỉ đạo nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “ Một số biện pháp chỉ đạo nhằm đảm bảo chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non”
2.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác quản lý, chỉ đạo trong trường
mầm non
3. Tác giả:
Họ và tên:

Nguyễn Thị Thúy

Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 27/12/1962
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm mầm non
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng Trường Mầm non Phả Lại
Điện thoại: 0915368043
4. Đồng tác giả : Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu : Trường mầm non Phả Lại-Thị xã
Chí Linh.
Địa chỉ : Khu dân cư Phao Sơn- Phường Phả Lại – Thị xã Chí Linh _ Hải
Dương.
Điện thoại: 03203.881048.
7.Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Đội ngũ giáo viên, cơ sở
vật chất, trang thiết bị, đồ dùng…..
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2013-2014 đến học kỳ
I năm học 2014-2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ


quan trọng đối với sức khỏe trẻ thơ, nó góp phần nâng cao sức khỏe và trí tuệ
trong xã hội ngày càng phát triển hiện nay.
Xuất phát từ nguyên nhân đó là một cán bộ quản lý tôi chọn đề tài
nghiên cứu về “ Một số biện pháp chỉ đạo nhằm đảm bảo chất lượng vệ sinh
an toàn thực phẩm trong trường mầm non”. Đây là trách nhiệm của người
trực tiếp chỉ đạo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường, đồng thời nó
cũng là một thông điệp giúp cho toàn xã hội hãy quan tâm đến sức khỏe và
cùng nhau thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là trường mầm non là
2


nơi có tổ chức ăn bán trú.
2/ Điều kiện,thời gian,đối tượng áp dụng sáng kiến:
+Điều kiện áp dụng:
- Về nhân lực: Toàn bộ cán bộ giáo viên trong trường mầm non
- Về cơ sở vật chất trang thiết bị: Các bếp ăn trong trường, điều kiện về
cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho công tác bán trú.
+ Thời gian : Từ năm học 2013-2014 đến học kỳ I năm học 2014-2015
+ Đối tượng áp dụng: các bếp ăn và các lớp trong trường mầm non.
3/ Nội dung sáng kiến:
Sáng kiến đã đưa ra số giải pháp hữu hiệu có tính khả thi mang lại lợi ích
thiết thực cụ thể sau:
- Đảm bảo an toàn về vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ăn bán trú tại
trường
- Đảm bảo nâng cao sức khỏe của trẻ, trẻ được phát triển bình thường,
giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ
- Bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ về nuôi dưỡng cho giáo
viên.
- Tuyên truyền tận dụng được sự giúp đỡ của các ban nghành và của phụ
huynh về kinh phí, để hỗ trợ cơ sở vật chất phục vụ cho bán trú.

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1/ Hoàn cảnh nẩy sinh sáng kiến
Nhu cầu duy trì sự sống của con người đó là thực phẩm, thực phẩm
không những chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con
người phát triển, nhưng ngược lại chính thực phẩm có thể cũng là nguồn thực
phẩm tạo ra ngộ độc gây hậu quả cho con người, nếu như con người không tuân
theo nguyên tắc vệ sinh an toàn thực phẩm.
Như vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang là mối quan tâm lớn của
toàn xã hội. Vệ sinh an toàn thực phẩm nó liên quan từ khâu sản xuất chế biến
đến khâu tiêu dùng, chính vì vậy công tác này đòi hỏi tính liên nghành cao và
là việc làm của toàn xã hội. Đối với nghành giáo dục trong đó bậc học mầm
non có vị trí vô cùng quan trọng trong việc thực hiện nghiêm túc vệ sinh an
toàn thực phẩm, cơ sở mầm non là nơi tập chung đông trẻ ăn bán trú tại trường,
bản thân trẻ còn non nớt chưa chủ động và có ý thức được đầy đủ về dinh
dưỡng , do đó nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm trong trường mầm non thì hậu
quả sẽ xảy ra khôn lường. Chính vì lẽ đó mà vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
cần được các nhà quản lý chỉ đạo thực hiện nghiêm túc.
Ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có
cuộc sống đầy đủ , sung túc hơn , trình độ dân trí cũng ngày càng được nâng
cao . Chính vì vậy việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng được gia đình và xã hội đặc
biệt quan tâm. Vậy quan tâm như thế nào cho đúng mực để cho cơ thể phát
triển khoẻ mạnh học tốt, phát triển cân đối , các chất dinh dưỡng cung cấp cho
cơ thể có hiệu quả… Điều trước tiên ta phải có một chế độ ăn uống cân đối ,
hợp lý, khoa học, nhằm giúp trẻ ăn uống ngon miệng , những tiêu chuẩn đó đã
đầy đủ đối với trẻ trong cuộc sống hiện nay .Nhưng yếu tố đó chưa hẳn đã là
tiêu chí hàng đầu mà vấn đề không thể thiếu được là các chất đó phải đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu cung cấp, cho đến khâu tiêu dùng , chế
biến... Mà thực phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với con người , nếu sử
dụng thực phẩm không tốt, không đảm bảo vệ sinh rất rễ gây ngộ độc. Vì vậy
vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí rất quan trọng đối với sức khoẻ con

2.2. Khó khăn:
-Bên cạnh những thuận lợi không tránh khỏi những khó khăn ,đội ngũ
nuôi dưỡng tuổi đời cao, không chuyên ngành nuôi dưỡng vì hàng năm nhiều
khi thay đổi công việc.
6


-Bếp ăn còn một bếp diện tích chưa đảm bảo.
-Trường chưa tập chung tại một điểm nên việc kiểm tra đôi khi còn gặp
khó khăn.
* Khắc phục những khó khăn tận dụng những điều kiện thuận lợi của nhà
trường đưa ra những biện pháp , giải pháp, áp dụng đề tài nghiên cứu để việc
áp dụng đề án mang tính chất khả thi, vì vậy trước tiên tôi phải điều tra thực
trạng của nhà trường để có kế hoạch cụ thể và triển khai việc áp dụng đề tài.
2.3. Điều tra thực trạng năm trước : ( Năm học 2013-2014)
Để có kết quả chăm sóc nuôi dưỡng năm nay cao hơn năm trước thì việc
điều tra thực trạng nhìn lại để đánh giá kết quả của năm trước và có biện
pháp tốt cho năm sau là vô cùng quan trọng .
Vậy khi thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành điều tra cụ thể như sau :
2.3.1. Điều tra một số đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho bán trú.
2.3.2. Điều tra trình độ và sức khoẻ của cán bộ giáo viên nuôi dưỡng đủ
điều kiện
2.3.3. Điều tra kết quả số trẻ ăn bán trú .
2.3.4. Điều tra sức khoẻ của trẻ năm 2013-2014
2.4. Cụ thể kết quả một số vấn đề điều tra:
* Bảng 1 : Về một số trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho bán trú
Nội dung điều tra
Xoong Xoong

Khu


Năm học
Tủ

Bếp

Bình

lạnh

ga

nước

Bình ủ Máy
nóng

lọc
2013- 2014

4

6

15

6

Nhìn vào bảng điều tra thực trạng về cơ sở vật chất một số đồ dùng phục
vụ cho bán trú của năm trước tôi thấy còn một số hạn chế như:

20132014
Tỷ lệ

8

chỉ

7

ra
lớp

450

87,5%

%

Trẻ ăn bán trú

Trẻ không ăn bán trú

Số

Cân

Số trẻ

Số


g
3

7

95,5%

4,5%

2,3%

30%

70%

%
-Nhìn vào bảng điều tra tôi thấy số cán bộ giáo viên nuôi dưỡng chiếm

87,5% các đồng chí có đầy đủ sức khỏe, có chuyên môn về nuôi dưỡng.Có
chứng chỉ của chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh cấp.
-Số trẻ không ăn bán trú tại trường còn chiếm tỷ lệ 2,3%
-Số trẻ ăn bán trú tại trường tỷ lệ sức khỏe
-Đây là một việc làm mà tôi cũng như Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt
quan tâm,ngay từ đầu năm học,Ban giám hiệu đã khảo sát số trẻ đến lớp,kiểm
tra cơ sở vật chất,đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho bán trú,để có kế hoạch
9


mua bổ xungđồ dùng mới và đồ dùng thay thế…
-Mốn có dược đồ dùng trang thiết bị đảm bảo đáp ứng nhu cầu phục vụ
bán trú của trẻ,tôi đã tham mưu với lãnh đạo địa phương cũng như các ban
ngành đoàn thể đặc biệt là lực lượng phụ huynh hỗ trợ kinh phí, đồ dùng giúp
đỡ nhà trường mua sắm thay thế đồ dùng phục vụ cho công tác chăm sóc trẻ,
góp phần đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
-Ngoài ra nhà trường còn tổ chức các buổi hội thảo với phụ huynh nhằm
tuyên truyền kiến thức cho mọi người thấy được tầm quan trọng của công tác
vệ sinh an toàn thực phẩm đối với đời sống con người .Tất cả đều được cha mẹ
học sinh cán bộ giáo viên nhiệt tình tham gia ủng hộ.
-Muốn cho công tác giáo dục trẻ đạt kết quả được tốt thì trước hết phải
huy động trẻ đến lớp đảm bảo đủ về số lượng. bằng công tác tuyên truyền vận
động, nhà trường đã có sự phối kết hợp với các đoàn thể địa phương để vận
động trẻ ra lớp, tuyên truyên về công tác chăm sóc giáo dục đặc biệt là ăn bán
trú tại trường, bên cạnh đó nhà trường đã lồng ghép với các buổi sinh hoạt 8/3,
các cuộc họp phụ huynh về nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm,ở các nhóm
lớp giáo viên xây dựng góc tuyên truyền về dinh dưỡng từ tranh ảnh báo, 10 lời
khuyên vàng về dinh dưỡng, các loại rau củ quả và các con vật, lồng ghép vào
các chủ đề môn học, giáo viên đựơc dự các lớp tập huấn, hội thi , hội giảng.
Năm qua nhà trường đã tổ chức thành công hội thi: “Bé khỏe bé tài năng”.Đã
được phụ huynh tham gia ủng hộ đạt kết quả tốt, qua hội thi giúp phụ huynh
hiểu thêm và đồng tình ủng hộ nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục
trẻ.
Hơn nữa nhà trường rất chú trọng quan tâm đến bữa ăn hàng ngày của

bán hàng, mời khách hàng về ký cam kết hợp đồng thực phẩm như: thịt
cá,trứng ,rau củ quả…Nguồn cung cấp thực phẩm đó phải có đủ điều kiện cung
cấp thường xuyên và có trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm,đảm bảo về giá cả phù hợp ổn định,hợp lý phù hợp với điều
kiện thực tế hiện tại của thị trường. Thực phẩm hợp đồng phải tươi sống, có
nguồn gốc rõ ràng và được kiểm tra mỗi khi giao nhận,nếu thực phẩm không
đảm bảo thì nhà trương kiên quyết cắt hợp đồng không hợp đồng nữa.
Người bán hàng phải là người làm ra mặt hàng mình đăng ký , biết giữ
đúng hợp đồng, đúng thời gian qui định thực phẩm phải tươi ngon không ẩm
11


mốc ôi thiu ….
Ví dụ: Trường tôi hợp đồng thịt, cá tôm hay rau củ quả… tôi đã mời
những khách hàng đó đến gặp gỡ ban giám hiệu để thỏa thuận đưa ra những
yêu cầu của nhà trường nếu khách hàng chấp thuận thì ký cam kết với nhà
trường về tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời cũng làm
hợp đồng đăng ký bán hàng cho nhà trường, nhà trường yêu cầu 3 tháng hợp
đồng một lần, nếu hợp đồng không đảm bảo yêu cầu sẽ hủy hợp đồng.
Với việc mua sản phẩm tận gốc như vậy thì giá cả ổn định , mặt hàng
đảm bảo , phụ huynh yên tâm hơn khi gửi con vào trường, hơn nữa tránh được
nguy cơ ngộ độc thực phẩm….
Khi chủ hàng đem sản phẩm tới giao cho nhà trường nhân viên nhà bếp
phải kiểm tra kỹ chất lượng sản phẩm , đồng thời ban giám hiệu thường xuyên
kiểm tra.
3.3.1.. Chọn mua thực phẩm an toàn:
Hàng ngày giáo viên nuôi dưỡng nhận thực phẩm, ban giám hiệu cũng
thường xuyên kiểm tra việc giao nhận thực phẩm.Người cán bộ quản lý phải
nhận thức được thế nào là thực phẩm an toàn và phổ biến nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ cho giáo viên nuôi dưỡng về việc lựa chọn thực phẩm an toàn.

3.3.2 Bảo quản thực phẩm:
Như chúng ta đã biết khi con người ta ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn có
thể gây bệnh nghiêm trọng nhất là trẻ em ,Để giảm bớt nguy cơ nhiễm độc thực
phẩm ngưòi quản lý nhà trường phải chỉ đạo đôn đốc giáo viên nuôi dưỡng
nghiêm túc thực hiện các qui định về bảo quản thực phẩm như sau:
-Thức ăn sống và thức ăn chín tuyệt đối không để lẫn với nhau, không để
thực phẩm sang ngày khác nếu không có tủ lạnh bảo quản. những thực phẩm
như mì chính , mắm muối, dầu , mỡ …phải để vào chai lọ đậy lắp để đúng nơi
qui định của nhà bếp , tránh ruồi muỗi, chuột … khi mùa đông rau hiếm do vậy
mà ta lên mua một số các loại quả như : bí đỏ, bí xanh, khoai tây, khoai sọ… để
trong thời hạn có thể cho phép . không được mua dư thừa thực phẩm để hôm
sau, bếp ăn nhất thiết phải có kho, dụng cụ có nắp đậy , có tủ lạnh, tủ chạn để
dụng cụ
3.4. Phòng nhiễm, khuẩn, nhiễm bẩn nơi chế biến và dụng cụ ăn uống:
Như chúng ta đã biết bữa ăn của trẻ được đảm bảo vệ sinh an toàn thì
13


chúng ta phải chấp hành và tuân theo những qui định như sau ;
+Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra đôn đốc tổ nuôi dưỡng vệ sinh
dụng cụ chế biến , vì dụng cụ chế biến là nơi vi khuẩn rất rễ xâm nhập , do vậy
nếu ta không thường xuyên liên tục vệ sinh hàng ngày trước khi chế biến thì
ngộ độc thực phẩm sẽ xảy ra , hơn nữa phải có dụng cụ chế biến thực phẩm
sống riêng , đồ chín riêng. Không để chung thực phẩm sống với thực phẩm
chín. Ví dụ khi ta thái thịt sống phải thái riêng thớt , thái đồ chín phải riêng dao
thớt. Dụng cụ như xoong, nồi , bát thìa phải rửa tráng nước sôi , để đúng nơi
qui định , phải có cửa đóng tránh bụi…
+ Bếp nấu ăn phải đủ ánh sáng và không khí , bếp phải qui định đúng
bếp một chiều , không có bụi , có đủ dụng cụ chế biến và dụng cụ ăn uống cho
trẻ, phải sử dụng nước sạch .Ngoài ra nhà bếp phải có bảng tuyên truyền 10

bình ủ ấm cho trẻ uống.
Đối với trường bán trú có rất nhiều các loại chất thải khác nhau như :
nước thải ,khí thải, rác thải ….Nước từ nhà bếp, nước từkhu vệ sinh tự hoại,
nước thải từ thiên nhiên, các loại ni lông, giấy lộn, đồ sinh hoạt thừa như vỏ
sữa…Nếu không có biện pháp sử lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường. Các loại
rác thải là nơi giúp các lọai vi trùng, côn trùng phát triển và sinh sống và đem
nguồn bệnh đến nơi để thức ăn gây lên các mầm bệnh, ngộ độc, Do vậy các
chất thải phải được đưa ngay vào thùng rác có nắp đậy, rác thải đựơc nhà
trường ký kết với ban vệ sinh môi trường hàng ngày đem đi xử lý. Trường có
cống thoát nước ngầm để không có mùi hôi, Khu vệ sinh luôn luôn được cọ rửa
hàng ngày .
Đặc biệt muốn giữ gìn được an toàn thực phẩm ,môi trường phải trong
sạch, chính vì vậy ,nhà trường thực hiện hưởng ứng xây dựng môi trường xanh
sạch đẹp, là một trong các tiêu trí hưởng ứng phong trào xây dựng “trường học
thân thiện học sinh tích cực” , nhà trường đã phát động đến mỗi cán bộ giáo
viên , toàn thể cha mẹ học sinh cùng nhau xây dụng môi trường xanh sạch đẹp,
mọi người đồng tình hưởng ứng, cho lên cảnh quan môi trường lớp học luôn
sạch đẹp có nhiều cây xanh .
Mọi ngưòi đều phải chấp hành bảo vệ cảnh quan môi trường, giáo dục trẻ
có ý thức bảo vệ môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định, đồ chơi của trẻ đẹp và
an toàn, phát động mọi người từ cán bộ giáo viên ,nhân viên , phụ huynh , học
15


sinh, luôn chấp hành bảo vệ môi trường, đặc biệt là hưởng ứng “ xây dựng
trường học thân thiện – học sinh tích cực ”.
3.6. Kiểm tra quá trình chế biến:
Muốn đảm bảo tiêu trí về vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu hợp đồng
thực phẩm đến khâu chế biến và sử dụng, một biện pháp không thể thiếu, nếu
như chúng ta chỉ đưa ra tiêu chí mà không thực hiện nghiêm túc, do đó vấn đề

thể chất chiếm vị chí vô cùng quan trọng, chính vì vậy phải có sự kết hợp chặt
chẽ giữa cô nuôi và cô dạy trên lớp.
+Cô nuôi phải chế biến thức ăn cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm từ khâu hợp đồng thực phẩm đến khâu chế biến và cho trẻ ăn. Ngoài
những qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm, cô nuôi phải đảm bảo bữa ăn
của trẻ phải đủ chất và đủ lượng . Thay đổi thường xuyên các món ăn theo tuần
,theo mùa, lên thực đơn về các bữa ăn của trẻ. Ban giám hiệu thường xuyên
kiểm tra các bữa ăn hàng ngày của trẻ , thường xuyên nhắc nhở giáo viên phải
đậy vung cơm, canh…Giữ ấm về mùa đông, tránh ruồi muỗi lây bệnh….
Một việc quan trọng trong công tác chăm sóc trẻ, các bữa ăn của trẻ hàng
ngày phải để thức ăn lưu nghiệm trong lọ thuỷ tinh và để bảo quản trong tủ
lạnh, có tác dụng khi ngộ độc xảy ra, thì thức ăn lưu nghiệm đó giúp bác sĩ xác
định nhanh chóng và xem ngộ độc có phải từ thức ăn hay không, để có biện
pháp điều trị kịp thời. Tôi thường xuyên kiểm tra cả 2 bữa chính và phụ, để
theo dõi trẻ có ăn hết xuất không, bữa ăn của trẻ có đủ chất, đủ lượng không, có
đảm bảo vệ sinh hay không.
Với sự chỉ đạo chặt chẽ, kết hợp với sự năng động và trách nhiệm nghề
nghiệp, tôi luôn tìm tòi và trao dồi với giáo viên nuôi dưỡng giúp trẻ ăn ngon
miệng, ăn hết xuất, bữa ăn cân đối đảm bảo vệ sinh.
Giáo viên phải rèn cho trẻ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, rửa mặt,
rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, rèn các thói quen hành vi văn minh như
ăn không nói chuyện, không ho, ngáp, bốc thức ăn, biết để thức ăn rơi vãi vào
đĩa.…Biết vứt rác đúng nơi qui định, sử dụng đúng đồ dùng cá nhân.
Trong tiết dạy cô phải lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh trong
ăn uống để trẻ có được biểu tượng về dinh dưỡng, trong môn học
ví dụ: Môn khám phá khoa học: cô tổ chức cho trẻ quan sát theo từng
chủ đề , chủ điểm về các con vật hay các loại rau, hoa quả… để giúp trẻ biết
17



18


Hơn nữa nhà trường thường xuyên kết hợp với trạm ytế khám sức khoẻ định kỳ
cho trẻ để chuẩn đoán ngăn ngừa những bệnh thường gặp ở trẻ.
4/ Kết quả trước và sau khi thực hiện áp dụng sáng kiến:
4.1/ Bảng số 1: Về cơ sở vật chất trang thiết bị đồ dùng phục vụ bán trú
Nội dung điều tra
Năm
học
20132014
20142015
Số
tăng

Tủ

Bếp

Bình

Bình ủ

May

Xoong

Xoong

Nguồn


15

6

4

57

12

3

4

8

19

10

4

62

17

4

0

Năm

Số cô

được

Số trẻ

nuôi

cấp

ra lớp

Trẻ ăn bán trú
Số trẻ
Cân


97,7%

95,5%

4,5%

2,3%

40%

480

468

12

0

0

0

100%

97,5%

2,5%

0

-Giáo viên nuôi dưỡng : Đã được nhà trường gửi đi tập huấn và được cấp
chứng chỉ đến thời điểm này được là 8/8 đ/c so với năm học trước tăng 12,5%
- Số trẻ năm học 2014-2015 tăng so với năm học 2013-2014 là 30 cháu
đặc biệt :
- Số trẻ ăn bán trú tại trường đạt tỷ lệ 100% .
- Số trẻ có sức khoẻ bình thường năm học 2013-2014 là 95,5% Nhưng
năm học 2014-2015 đạt 97,5 %
-Số trẻ suy dinh dưỡng năm học 2013-2014 là 4,5 % nhưng năm học
2014-2015 đến thời điểm này giảm còn 2,5%.
-Năm học 2014-2015 không còn trẻ không ăn bán trú mà số trẻ ăn bán
trú đạt 100%
4.3. Đối với đội ngũ giáo viên :
-Giáo viên tổ nuôi dưỡng cũng như giáo viên đứng lớp đều nắm vững
những nội dung cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm, những nguyên nhân và
biện pháp phòng tránh ngộ độc thực phẩm .
-Biết chọn mua thực phẩm tươi sạch , các thao tác chế biến thực phẩm
theo đúng qui trình , lên thực đơn hợp lý …
20


-Biết vận dụng các nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào việc chăm
sóc nuôi dưỡng các cháu trong trường. Chính vì vậy phụ huynh tin tưởng và
gửi con vào trường đông hơn, số trẻ ăn bán trú đạt 100%.
-Các cháu luôn có một khẩu phần ăn ngon miệng , chất lượng dinh
dưỡng cân đối hợp lý, luôn thay đổi món ăn theo tuần , theo mùa , đảm bảo vệ
sinh , trẻ khoẻ mạnh tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm .Đặc biệt cán bộ giáo viên
làm tốt công tác này cho lên nhà trường không có trường hợp ngộ độc xảy ra.
5. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng:
+ Về nguồn nhân lực: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình yêu
nghề mến trẻ, luôn học hỏi kinh nghiệm trao dồi kiến thực nghiệp vụ.

bộ giáo viên có một kiến thức cơ bản về mọi mặt, trong công tác chăm sóc giáo
dục trẻ ở trường mầm non, đặc biệt là cách giữ vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non. Vì vậy bản thân tôi đã không ngừng phát huy những thành
tích đã đạt được, trên cơ sở đó tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của mình để
cùng nhau đưa chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đáp ứng với xu thế của xã hội
ngày càng phát triển trong đó có giáo dục mầm non.
Thường xuyên đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo có hiệu quả về công tác
chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Là một cán bộ quản lý tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa và chuyển tải những
kinh nghiệm vốn có của bản thân để trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp ở các
trường bạn. Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các bậc cha mẹ học sinh và cộng
đồng, thấy được tầm quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
trong trường mầm non trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.Với sáng kiến: “
Một số biện pháp chỉ đạo nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non” của tôi đưa ra đã đem lại hiệu quả thiết thực được áp dụng
trong nhà trường, đồng thời nó có thể áp dụng được trong tất cả các trường
mầm non trong toàn thị xã với những biện pháp tôi đã thực hiện ở trên.
2. KHUYẾN NGHỊ:
*Đối với Sở giáo dục và phòng giáo dục:
Hàng năm tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên những kiến thức cơ
bản về cách giữ vệ sinh và vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. đặc biệt
chú trọng tổ chức thông qua các hội thi, hội thảo... Bổ xung cung cấp tài liệu có
22


liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm và một số biện pháp phòng chống ngộ
độc thực phẩm trong nhà trường.
Đầu tư cơ sở vật chất cho các bếp ăn, kết hợp với trung tâm ytế dự phòng
thị xã, có kế hoạch hàng năm phun thuốc diệt ruồi ,muỗi…
* Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non:

các cấp góp ý kiến để đề tài của tôi được hoàn hảo hơn, góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
Tôi xin trân thành cám ơn!

24


Giáo viên nuôi dưỡng đang chế biến thực phẩm

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status