Một số biện pháp quản lý chỉ đạo, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non - Pdf 41

SÁNG KIẾN CẢI TIÊN KỸ THUẬT
"Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
trong trường Mầm non"

1. Phần mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Sinh thời Bác Hồ kính yêu đã từng nói: “Trẻ em hôm nay
Thế giới ngày mai”
Đúng vậy, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất
nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh, gánh vác mọi công việc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm
sóc, nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển. Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con
người ngày càng được nhận thức đúng đắn và được đánh giá toàn diện. Trẻ em là
những chủ nhân tương lai đất nước, chính vì thế ngay từ tuổi ấu thơ, trẻ phải được
hưởng chế độ chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt về
đức - trí -thể - mỹ.
Đặc biệt, trẻ trong giai đoạn từ 0- 6 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển nhanh hơn
bất kỳ giai đoạn nào khác trong cuộc đời. Đây là giai đoạn cơ thể trẻ rất non nớt,
dễ bị lây nhiễm các chất độc hại từ các loại thực phẩm không an toàn. Giai đoạn
này bản thân trẻ nhỏ chưa ý thức được việc chăm sóc sức khỏe của bản thân. Sự
phát triển của trẻ phụ thuộc rất lớn vào việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe của


người lớn. Muốn trẻ khoẻ mạnh, thông minh thì vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
vô cùng quan trọng, mà cốt lõi là công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ở
các trường Mầm non.
Hiện nay, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là mối quan tâm đặc
biệt của toàn xã hội. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng rất lớn đối
với sự phát triển của con người nhất là thể chất của trẻ, nếu bị ngộ độc thực phẩm,
nhẹ thì trẻ có thể bị suy nhược cơ thể dẫn đến suy dinh dưỡng, nặng có thể dẫn đến
tử vong. Vì thế, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đòi hỏi có tính liên

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình nói riêng và có thể áp dụng rộng rãi đối với các trường
mầm non trong tỉnh và trên toàn quốc nói chung.

2. Phần nội dung

2.1. Thực trạng của đề tài:
Trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm ở các địa
phương, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng của nhiều người. Nhà trẻ, mẫu
giáo là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn non nớt, chưa chủ động, ý thức
được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh, an toàn thực phẩm, nếu để xảy ra ngộ độc


thực phẩm trong các cơ sở GDMN thì hậu quả thật khôn lường. Vì vậy, giáo dục
dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng mô hình thực phẩm
sạch, đề phòng ngộ độc thức ăn là vấn đề có ý nghĩa thực tế vô cùng quan trọng.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước
phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Các vụ ngộ
độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng. Tại các nước đang phát triển, tình
trạng lại càng trầm trọng hơn nhiều, hơn 2,2 triệu người tử vong hàng năm do bị
nhiểm độc thực phẩm (tiêu chảy), trong đó phần lớn là trẻ em. Theo ước tính của
WHO, ở một số nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong do ngộ độc thực phẩm chiếm
1/3 đến 1/2 tổng số trường hợp tử vong.
Thực trạng vi phạm an toàn thực phẩm ở nước ta rất đáng báo động. Theo
báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm năm
2014 (tính đến ngày 15/12), toàn quốc ghi nhận 189 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn
5.000 người mắc, 4.100 người đi viện và 43 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ
năm 2013, số vụ ngộ độc thực phẩm tăng 22 vụ. Tuy nhiên, số người mắc giảm
402 người, số người đi viện giảm 901 người, nhưng số người tử vong tăng 15
người (54%).
Từ các số liệu nêu trên cho thấy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói


- Một số hộ nông dân chăn nuôi, trồng các rau màu chưa ý thức được sự
nguy hiểm của các loại hóa chất đối với sức khỏe con người.
Từ những thuận lợi, khó khăn trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Trước
tình hình thực trạng về chất lượng an toàn thực phẩm của nhà trường, tôi suy nghĩ
tìm tòi và sử dụng một số biện pháp quản lý chỉ đạo, nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm trong trường mầm non như sau:
2.2 Một số biện pháp thực hiện:
2.2.1. Bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh dưỡng, thực hiện
tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ.
Định kỳ đầu năm học, nhà trường tổ chức tập huấn chuyên môn cho cán bộ
giáo viên, nhân viên dinh dưỡng về các nội dung tiếp thu ở Sở Giáo dục, theo tài
liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên... Một
trong những nội dung quan trọng là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong việc
tổ chức ăn cho trẻ tại trường mầm non, chú trọng vấn đề kiến thức thực hành dinh
dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến và vệ sinh
ăn uống cho trẻ.
Ví dụ: Nội dung chọn thực phẩm tươi sạch thì cung cấp cho giáo viên, nhân
viên biết:
+ Nếu là thực phẩm sống: Chỉ lựa chọn những thực phẩm còn tươi mới,
không bị dập nát, không có mùi, màu lạ.
+ Nếu là thực phẩm chín: Không mua khi thấy bày bán gần nơi cống rãnh,
bụi bẩn, bùn lầy, nước đọng, để lẫn lộn thực phẩm sống và chín, không có dao thớt


dùng riêng, không có giá kê cao, không có dụng cụ che đậy, màu sắc loè loẹt
không tự nhiên và không có đồ bao gói.
+ Nếu là thực phẩm bao gói sẵn: Không mua khi không có nhãn hàng hoá,
có nhãn mác nhưng không ghi hạn dùng, không ghi rõ nơi sản xuất.
+ Nếu là đồ hộp: Không mua khi hộp không có nhãn mác, không có hạn sử

lm nhim v nuụi dng cú k nng tt, cú kinh nghim ch bin mún n cho tr
kốm kp nhng nhõn viờn cha cú kinh nghim thc hin tt cụng tỏc dinh
dng tr.
Thụng qua cỏc hỡnh thc bi dng ú m mi mt cỏn b, giỏo viờn, nhõn
viờn trong trng nm c nhng ni dung cn thit trong cụng tỏc chm súc sc
kho, v sinh mụi trng, v sinh ATTP trong trng mm non v cng ng, góp
phần giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dỡng trong năm học.


2.2.2. Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp
và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá
nhân cho trẻ.
- Vệ sinh khu vực bếp: Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều nhằm tránh
không để thực phẩm sống, chưa làm sạch và thức ăn chín, sạch chung một lối đi.
Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng để tránh lúc nấu
nướng phải đứng lên, ngồi xuống hoặc đi lại nhiều lần, đồng thời tránh được các
loại côn trùng, chuột vào bếp. Các khu vực hoạt động của bếp phải có biển đề rõ
ràng: Nơi tiếp nhận thực phẩm, khu sơ chế thực phẩm, khu tinh chế, khu nấu chín,
khu chế biến thực phẩm chín, khu chia ăn.
Nhà bếp có bảng phân công trong ngày: Người nấu chính, người nấu phụ,
người tiếp phẩm, sơ chế thực phẩm, vệ sinh dụng cụ.
Bếp ăn có bảng thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày và
công khai tài chính cụ thể rõ ràng.
Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp
theo lịch hàng ngày, tuần và tháng.
Ví dụ: Hàng ngày, khi nấu nướng xong phải dọn dẹp, sắp xếp đồ dùng, dụng
cụ vào đúng nơi quy định, lau chùi quét dọn sạch sẽ, mở quạt thông gió, mở các
cửa sổ để thông gió cho khô, thoáng nhà bếp trước khi đóng cửa ra về.
- Vệ sinh đồ dùng, dụng cụ nhà bếp:
Chén bát và nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi,

dựng môi trường sư phạm xanh-sạch-đẹp. Đây là phong trào đã được cán bộ viên
chức và toàn thể cha mẹ học sinh, các cháu học sinh đồng tình hưởng ứng, cho nên
cảnh quan môi trường, lớp học luôn xanh mát. Bảo vệ chăm sóc tạo cảnh quan môi
trường, bỏ rác đúng nơi quy định trong sân trường, đồ chơi đẹp-sạch-an toàn và
lành mạnh đó là những gì tất cả cán bộ giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh đã
hưởng ứng tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
- Vệ sinh đối với cô nuôi, nhân viên nhà bếp:
Nhân viên dinh dưỡng đã được học và có chứng chỉ bồi dưỡng những kiến
thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, qua đó nắm rõ trách nhiệm của mình là phải
đảm bảo nuôi dưỡng trẻ khoẻ mạnh và an toàn.
Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân
trong quá trình chế biến ăn cho trẻ như: mặc quần áo đồng phục ở trường, mang
tạp dề, đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ. Rửa tay bằng xà
phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh, qua
mỗi công đoạn chế biến. Có khăn lau tay riêng và được giặt phơi khô hàng ngày.
Phải tuân thủ đúng quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo một
chiều, không tuỳ tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống,
chín lẫn lộn. Không được ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi nếm thức
ăn còn thừa phải đổ đi.


Khi chia ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang và chia bằng dụng cụ, không dùng
tay bốc, chia thức ăn. Thực hiện nghiêm túc việc cân, đoong chia thức ăn cho trẻ
đảm bảo định lượng.
Nhân viên nhà bếp 6 tháng phải khám sức khoẻ định kỳ, được bố trí nơi thay
quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ.
- Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên và cô phụ tại lớp:
Chỉ đạo các giáo viên rửa tay bằng xà phòng trước khi chia ăn và cho trẻ ăn,
sau khi đi vệ sinh. Đầu tóc, quần áo gọn gàng, đeo khẩu trang khi chia thức ăn và
cho trẻ ăn, có dụng cụ chia thức ăn riêng, không dùng tay bốc. Chuẩn bị đủ bàn

nhà trường và phụ huynh nhằm đảm bảo nguồn thực phẩm an toàn cho trẻ.
Đối với những nơi không thể hợp đồng mua thực phẩm sạch tận gốc nuôi
trồng sản xuất, thì nhà trường ký hợp đồng mua thực phẩm sạch với các quầy hàng
có uy tín ở địa phương, các quầy hàng của phụ huynh có con em học tại trường.
- Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng phát triển mô hình VAC của nhà trường:


Bản thân luôn chú trọng phát triển mô hình vườn “Vườn rau của bé”, một
mặt vừa khoanh luống trồng các loại rau phù hợp với địa phương, phù hợp với độ
tuổi của trẻ, một mặt phải xây dựng đường đi lối lại giúp trẻ quan sát, tham quan
và có thể chăm sóc được vườn rau cùng với cô giáo.
Ngoài ra, xung quanh trường còn có vườn rau sạch làm bằng các lốp xe ô tô
củ cho cô và trẻ cùng chăm bón. Vườn rau này cũng là nguồn cung cấp rau lớn
nhất cho nhà bếp và thật sự là vườn rau sạch để có những bữa canh thật an toàn và
ngon miệng cho trẻ.
Tuyên truyền vận động cộng đồng nuôi trồng, sản xuất thực phẩm sạch để
cung ứng cho nhà trường, vận động các gia đình có con gửi ở trường hoặc các hộ
gia đình xung quanh trường nuôi trồng thực phẩm sạch để cung ứng cho bếp ăn
nhà trường.
Nghiêm túc thực hiện việc ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp thực phẩm.
Bản hợp đồng thực phẩm có xác nhận của hiệu trưởng nhà trường, đại diện hội phụ
huynh, nhân viên dinh dưỡng và nhà cung cấp thực phẩm.
Phối hợp với Y tế địa phương và cơ quan quản lý nông nghiệp tuyên truyền
tác hại của việc sử dụng các loại hoá chất trong nuôi trồng sản xuất và bảo quản
thực phẩm cho các hộ nông dân.
b. Chỉ đạo công tác tiếp phẩm và giao nhận thực phẩm.
Chỉ đạo nhân viên nhà bếp tuyệt đối không mua thực phẩm không rõ nguồn
gốc, quá hạn sử dụng (đối với những thức ăn chế biến sẵn) không mua thực phẩm
đã qua sơ chế, chế biến nhưng không rõ nguồn gốc, nơi sản xuất, giấy phép đăng


Khi lưu mẫu cần ghi đầy đủ ngày, giờ, tên người lấy mẫu thức ăn và niêm phong
cẩn thận. Trong tủ lạnh chỉ để lưu mẫu thực phẩm, tuyệt đối không để chung với
các loại thực phẩm khác.
Hàng tháng, ban giám hiệu kiểm tra thường xuyên việc chế biến và lưu mẫu
thực, góp ý điều chỉnh kịp thời những sai sót sau khi kiểm tra. Cuối tháng có nhận
xét ưu điểm, tồn tại và đề ra hướng khắc phục tồn tại để nhân viên dinh dưỡng
khắc phục sửa chữa và thực hiện tốt tháng tới.
2.2.4. Chỉ đạo theo dõi biểu đồ, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm
chủng mở rộng và các dịch bệnh khác:
Việc theo dõi biểu đồ, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm chủng mở rộng,
phòng chống dịch bệnh là việc không thể thiếu trong trường mầm non. Vì vậy, bản
thân đã tham mưu với hiệu trưởng xây dựng kế hoạch, chỉ đạo nhân viên y tế thực
hiện nghiêm túc việc theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ phát triển về cân nặng và
chiều cao.
Thực hiện nghiêm túc việc chuyển biểu đồ cho trẻ theo từng độ tuổi tức là
theo dõi liên tục (nhà trẻ - mẫu giáo bé - mẫu giáo nhỡ - mẫu giáo lớn). Thực hiện
đúng tin thần của cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung.
Quản lý tiêm chủng, giám sát dịch bệnh trong nhà trường. Nhân viên y tế
nắm vững lịch tiêm chủng hiện nay của các loại vác xin, kế hoạch tiêm phòng Sởi


mũi II, phòng sởi Rubella...và giám sát các bệnh truyền nhiễm trong chương trình
tiêm chủng Quốc gia.
Chỉ đạo nhân viên văn phòng xử lý và chuyển tải kịp thời các công văn liên
quan đến các dịch bệnh đối với cộng đồng như:
Công văn số 807/GD-ĐT ngày 12/9/2014 về việc triển khai chiến dịch tiêm
vắc xin Sởi-Rubella trong trường học; Công văn số 1315/NVY-SYT ngày
30/9/2014 về việc tăng cường phòng, chống dịch đau mắt đỏ trên địa bàn;
Công văn 886/GD-ĐT ngày 08/10/2014 về việc triển khai thực hiện Kế
hoạch số 328/KH-YTDP về giám sát VSATTP bếp ăn tập thể tại các trường học;

Bên cạnh đó, chỉ đạo giáo viên đưa nội dung giáo dục môi trường, vệ sinh an
toàn thực phẩm vào các giờ hoạt động, nhằm giúp trẻ tích cực tham gia giữ vệ sinh
đảm bảo an toàn thực phẩm như: lao động tự phục vụ, giữ vệ sinh môi trường, rèn
thói quen vệ sinh cá nhân và các hành vi văn minh nơi công cộng, tạo môi trường
thân thiện trong trường lớp mầm non.
Ví dụ: Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào các chủ đề
Bản bản thân, gia đình... Ở các chủ đề này chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích
hợp những nội dung sau:


- Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất, rèn luyện hành vi văn
minh trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn; ngồi ăn ngay ngắn,
không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải tự xúc ăn gọn gàng, tránh đổ vãi, ăn
từ tốn, nhai kỹ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.
- Tập tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường: Tự cất, dọn đồ dùng
ăn uống sau khi ăn, lấy gối lên giường đi ngủ.
- Tập luyện thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, đi vệ sinh đúng nơi qui
định. Giữ gìn vệ sinh môi trường như không khạc nhổ nơi công cộng, vứt rác
đúng nơi qui định.
Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động góc qua trò chơi “Bán hàng” chủ đề "Gia
đình, thế giới thực vật" khi mua hàng các cháu phải biết chọn thực phẩm tươi ngon,
thực phẩm không bị rập nát. Qua trò chơi “Nấu ăn” các cháu biết rửa tay và vệ
sinh đồ dùng, rửa sạch thực phẩm trước khi chế biến, phải biết ăn chín uống sôi.
Hoặc đối với chủ đề "Thế giới thực vật" cho trẻ làm quen các loại rau, quả
thông qua trò chơi học tập “Phân nhóm thực phẩm” thì cần phải chuẩn bị những lô
tô về các loại rau ăn củ, rau ăn quả, rau ăn lá và trò chơi“Thi xem ai nhanh” yêu
cầu trẻ lấy đúng và xếp nhanh, phân loại nhóm chất dinh dưỡng theo yêu cầu của
cô giáo. Qua các trò chơi giúp trẻ nhận biết và nhớ lâu các nhóm thực phẩm trẻ biết
nhóm nào nên ăn nhiều và nhóm nào ăn hạn chế.
2.2.6. Tham mưu mua sắm cơ sở vật chất.

- Nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc công tác tiếp phẩm, quy trình
chế biến, chia ăn, hợp đồng thực phẩm với các nhà cung cấp, lưu mẫu thức ăn hàng
ngày. Chất lượng bữa ăn tại trường cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,
thay đổi thực đơn theo mùa đảm bảo đủ lượng và chất cần thiết cho sự phát triển
của trẻ.
- Giáo viên biết kết hợp lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ qua các hoạt động như tổ chức bữa ăn, các hoạt động khác
trong ngày cho trẻ tại trường mầm non.
- Nhà bếp đã được trung tâm y tế dự phòng kiểm tra và công nhận bếp đạt vệ
sinh an toàn thực phẩm. Dụng cụ: chén, thìa, ly được kiểm định đạt yêu cầu theo
đúng quy định.
- Hội thi “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, thân thiện và hiệu quả” cấp
huyện trường đạt giải 3. Từ đó, góp phần giúp nhà trường thực hiện tốt công tác
dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm.
2. Đối với trẻ:
- Hiểu được vệ sinh an toàn thực phẩm rất quan trọng đối với đời sống con
người, biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường thông qua các giờ học tích hợp,
vui chơi, ca dao, đồng dao…
- Biết được một số lao động để giữ vệ sinh nơi công cộng, vệ sinh môi
trường như: không vứt rác, khạc nhổ nơi công cộng, biết bỏ rác đúng nơi quy định,
vệ sinh lớp học hàng ngày…và biết được công tác giữ vệ sinh rất quan trọng đối
với sức khoẻ con người.


- Trong năm học nhà trường không có trường hợp ngộ độc dịch bệnh xảy ra,
100% trẻ được ăn bán trú tại trường, đảm bảo an toàn, vệ sinh cá nhân sạch sẽ gọn
gàng, 100% trẻ được tiêm chủng đúng lịch, khám sức khỏe theo định kỳ 2 lần/năm,
được cân đo theo dõi biểu đồ phát triển 3 lần/năm. Nhờ vậy, tỷ lệ suy dinh dưỡng
cuối năm về cân nặng 2,5%, giảm so với đầu năm 4,4%; về chiều cao tỷ lệ thấp còi
3,2 giảm so với đầu năm 4,6%.

chức bán trú. Tăng cường các hoạt động giáo dục vệ sinh đối với nhân viên dinh
dưỡng và vệ sinh cá nhân trẻ.
- Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện tốt việc tạo nguồn thực phẩm
sạch. Thực hiện nghiêm túc công tác tiếp phẩm và giao nhận thực phẩm. Yêu cầu
trong chế biến và bảo quản thực phẩm.
- Thực hiện tốt việc theo dõi biểu đồ, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm
chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh cho trẻ.
- Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra của ban giám
hiệu đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Đặc biệt, chú trọng việc
kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.


- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền với cộng đồng và xã hội về công tác chăm
sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong trường mầm non.
- Thường xuyên đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo có hiệu quả về công tác
chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
Là một cán bộ quản lý tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa và mong muốn chuyển
tải những kinh nghiệm nhỏ của bản thân để trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp ở các
trường bạn. Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các bậc cha mẹ học sinh và cộng
đồng thấy được tầm quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong
trường mầm non trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
3.2. Kiến nghị đề xuất.
* Đối với UBND huyện:
Đầu tư kinh phí để xây dựng bếp ăn bán trú cho các trường mầm non đảm bảo theo
quy trình chế biến một chiều và mua sắm trang thiết bị bên trong đảm bảo an toàn
cho trẻ.
* Đối với Phòng GD&ĐT
- Tham mưu với các cấp hỗ trợ kinh phí và mua sắm trang cấp trang thiết bị, dụng
cụ phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, đặc biệt các dụng cụ phục vụ công
tác bán trú.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status