THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
+ Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Dương Thị Hồng Trà.
- Ngày tháng/ năm sinh: 9/ 4/ 1987.
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mầm Non.
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Mầm non- Trường Mầm non Sao Mai.
- Điện thoại: 0936.802.227
4. Đồng tác giả ( không có)
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu ( Nếu có): Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9/ 2014 đến tháng 2/2015
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
(ký, ghi rõ họ tên)
SÁNG KIẾN
Dương Thị Hồng Trà
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
- Phát huy khả năng hiểu biết và phát triển ngôn ngữ của cá nhân trẻ. Trẻ được
nói những gì mà trẻ biết thông qua ngôn ngữ diễn đạt một cách mạch lạc.
+ Khả năng áp dụng của sáng kiến ( Tính khả thi của các giải pháp):
Phát triển ngôn ngữ qua các tiết học
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các trò chơi
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua đọc thơ, ca dao, đồng dao
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi
Tất cả các giải pháp phát triển ngôn ngữ trên đều được thực hiện thông
qua các trò chơi, các tiết học, các hoạt động và được thực hiện ở mọi lúc mọi
nơi một cách có hiệu quả nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Sáng kiến phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng đã đem lại những hiệu
quả thiết thực cho trẻ thông qua vốn từ vựng và ngữ pháp của trẻ được tăng lên
rõ rệt so với đầu năm học, trẻ mạnh dạn trong giao tiếp với bạn bè và có khả
năng nói được câu một cách đầy đủ, diễn đạt được ý muốn của mình thông qua
ngôn ngữ.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
Sáng kiến này muốn được áp dụng rộng rãi trong trường mầm non thì
trước tiên phải được sự thống nhất và nhất trí thực hiện của ban giám hiệu
trường mầm non nơi sáng kiến được đưa ra thực hiện. Bản thân sáng kiến phải
đem lại giá trị thực hiện và hiệu quả cao.
Mong ban giám hiệu tổ chức nhiều tiết học chuyên đề phát triển ngôn ngữ
để giáo viên có điều kiện giao lưu học hỏi kinh nghiêm giảng dạy của bạn bè,
về phía giáo viên cần có giọng điệu truyền cảm, phát âm chuẩn, gần gũi giao
lưu với trẻ. Có như vậy thì trẻ mới mạnh dạn giao tiếp, từ đó vốn từ ngữ mới
được mở rộng.
Những tiết học phát triển ngôn ngữ cần có sự đầu tư về thời gian, công
sức, đổi mới phương pháp dạy và học, sử dụng những dụng cụ trực quan sinh
động tạo hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động một cách hiệu quả nhất.
trong độ tuổi 24-36 tháng, nên tôi đã chọn và nghiên cứu sáng kiến:
“ Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng”.
4
2. Cơ sở lý luận của vấn đề:
“ Trẻ lên ba cả nhà học nói”.
Do đặc điểm phát triển và nhu cầu giao tiếp của trẻ ở giai đoạn 24 - 36
tháng tuổi phát triển rất nhanh và mạnh mẽ. Vì vậy cần phát triển ở trẻ năng lực
quan sát, nhận biết các đồ vật, các hiện tượng khác nhau, đồng thời cho chúng
làm quen với những hoạt động sinh hoạt và lao động của người lớn. Điều quan
trọng là giúp trẻ nắm vững từ và cách sử dụng từ theo ý mình. Giúp trẻ phát âm
các từ, các cụm từ rõ ràng, chính xác, sử dụng các từ, các câu đơn giản để trả
lời câu hỏi khi giao tiếp. Giúp trẻ biết biểu đạt hiểu biết, tình cảm, nhu cầu của
bản thân, biết sử dụng các từ chỉ lễ phép khi nói chuyện với người lớn, thân
thiện khi nói chuyện với bạn bè, mạnh dạn, hồn nhiên trong giao tiếp, biết thể
hiện sự diễn cảm trong khi đọc thơ, kể chuyện.
Ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con
người và các sự vật- hiện tượng gần gũi xung quanh . Đối chiếu với tình hình
thực tế, tôi nhận thấy sự chênh lệch về vốn từ của trẻ ở cùng một độ tuổi trong
cùng một nhóm lớp là khá lớn.
Qua quá trình tìm hiểu thực tế, tôi nhận thấy vốn từ của trẻ không phụ
thuộc vào điều kiện vật chất, kinh tế của gia đình mà liên quan rất nhiều đến
thời gian giao lưu trò chuyện với trẻ. Cô và cha mẹ có lắng nghe trẻ kể chuyện
về sinh hoạt và bạn bè hay không? Có thường xuyên kể chuyện cho bé nghe và
hướng dẫn bé kể lại không? Ngày nghỉ bé có được đi chơi công viên hay đi
thăm họ hàng hay không?...Tất cả những điều đó không chỉ làm tăng số lượng
vốn từ của trẻ, sự hiểu biết nghĩa của từ, cách dùng từ của trẻ mà còn làm
phong phú hiểu biết và xúc cảm của trẻ.
3. Thực trạng của vấn đề
mun ca mỡnh thụng qua li núi. Vỡ th tr hay b bt t khi núi. Bờn cnh ú
cũn mt s tr phỏt õm cha chun, cũn núi ngng, núi lp nhiu
VD: n cm thỡ núi l n mm, Khụng cú thỡ núi l Hụng cú
hay mu xanh thỡ núi l Mu xn ...
6
- Đa số phụ huynh bận công việc hoặc một lí do khách quan nào đó ít có
thời gian trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói. Trẻ được đáp ứng quá đầy đủ về
nhu cầu mà trẻ cần.
Ví dụ: Trẻ chỉ cần chỉ tay hay nhìn vào đồ dùng, đồ vật nào là đã được
đáp ứng ngay mà không cần dùng lời để yêu cầu hoặc xin phép. Đây cũng là
một trong những nguyên nhân của việc chậm phát triển ngôn ngữ.
- Với những khó khăn như thế tôi phải dần dần khắc phục, sửa đổi và
hướng dẫn trẻ phát triển ngôn ngữ một cách đúng đắn nhất qua giao tiếp và tập
cho trẻ làm quen với các thể loại văn học như: Thơ, ca, truyện kể..Cho trẻ tự
giới thiệu về bản thân, tự nói lên ý muốn của mình trong các hoạt động hàng
ngày ở trường.
* Khảo sát thực trạng về việc phát triển ngôn ngữ được thống kê qua bảng sau :
Thời
Sốtrẻ
trẻ
Tháng Trẻ có ngôn ngữ 25
điểm
Nội dung KS
KS
9/
mạch lạc
0
0%
15
60%
10
40%
tiếp
Qua khảo sát thực trạng trên tôi thấy: Trẻ mới đến trường vẫn còn quấy
khóc nhiều nên việc giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ vẫn còn nhiều hạn
chế. Trẻ ít giao tiếp nên vốn ngôn ngữ chưa phát triển, vẫn còn nhiều trẻ phát
âm chưa chuẩn, nói chưa đầy đủ câu. Bên cạnh đó người giáo viên phải thực sự
tâm huyết với nghề, yêu thương trẻ như con, chăm sóc trẻ ân cần, chu đáo, có
như vậy trẻ mới hợp tác và cởi mở với cô và các bạn. Trẻ sẽ tích cực giao tiếp
với cô cũng như với các bạn trong các hoạt động hàng ngày, từ đó mà ngôn ngữ
của trẻ cũng dần được tăng lên một cách rõ rệt. Qua các hoạt động thực tiễn
7
hàng ngày mà tôi đã thực hiện trên trẻ một cách trực tiếp, tôi đã mạnh dạn tìm
ra một số giải pháp biện pháp thực hiện như sau:
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
Để đạt được hiệu quả cao, giáo viên phải linh hoạt áp dụng nhiều
phương pháp trong chăm sóc và giáo dục trẻ như: Tổ chức hoạt động, các buổi
Nhưng vì biểu tượng của trẻ còn chưa đầy đủ nên đôi lúc tôi đã bổ sung
câu trả lời cho trẻ giúp trẻ nói rõ ràng, đủ nghĩa. Trong trường hợp trẻ khó nói
được cả câu một cách đầy đủ tôi sẽ giới thiệu các đặc điểm của vật theo phương
pháp kể chuyện và yêu cầu trẻ nhắc lại theo mình.
Trong quá trình cho trẻ quan sát vật thật không chỉ giải thích cho trẻ hiểu
những gì đang xảy ra mà còn phải phát triển khả năng suy nghĩ của trẻ. Dạy trẻ
tập sử dụng các giác quan để so sánh đồ vật, hình thành giữa chúng sự giống và
khác nhau :
+ Ví dụ: Khi dạy trẻ: Nhận biết tập nói: Quả Cam - Quả Táo
Sau khi cho trẻ quan sát, gọi tên quả và nêu một số đặc điểm của quả, tôi cho
trẻ sờ, cảm nhận bằng xúc giác và tập so sánh sự giống nhau ( Quả Cam và quả
Táo đều tròn) và phân biệt sự khác nhau giữa hai quả( Quả Cam vỏ sần, quả
Táo vỏ nhẵn )...
Như vậy quan sát vật thật có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Ngoài ra tôi còn sử dụng rộng rãi các bức tranh để phát
triển ngôn ngữ của trẻ, bởi vì khi xem tranh sẽ gợi mở được tính tò mò, ham
hiểu biết, trẻ rất nhạy cảm với các hình ảnh có màu sắc. Cô cho trẻ xem tranh
và trò chuyện theo tranh về các hoạt động sinh hoạt của trẻ như:
- Tranh bé ngủ dậy
- Tranh mẹ chải đầu cho bé
- Tranh mẹ đưa bé đi học
- Tranh mẹ tắm cho bé
- Tranh cả nhà ngồi ăn ở bàn.
+ Khi cho trẻ xem tranh này, cô kể cho trẻ nghe về các sự vật, sự việc, con
người, con vật và các hành động được thể hiện trong tranh. Cô dùng các câu
nói ngắn gọn, dễ hiểu, sau đó đặt những câu hỏi đơn giản như Ai? Cái gì? Làm
gì? Con gì?...để trẻ trả lời, nhớ và nói được nội dung tranh bằng một số câu đơn
giản.
9
Nó kêu Ối...ối...ối .
10
Đối với trẻ 24 - 36 tháng tuổi, quá trình chơi và sự phát triển nội dung
chơi phụ thuộc vào nhiều người xung quanh trẻ. Chọn thời gian, địa điểm, cung
cấp đồ chơi là chưa đủ mà cần phải cung cấp cho trẻ những hiểu biết về thế giới
xung quanh
Trong quá trình trẻ chơi cạnh nhau, tôi đã gợi ý cho trẻ vào chơi cùng
nhau bắng cách : Các con hãy nhìn bạn Hùng kìa , bạn Hùng đang xếp gara ôtô
đấy ! con có muốn xếp giống như bạn không? Bạn Hùng ơi! Bạn xếp chiếc gara
lớn, còn bạn Dũng sẽ xếp giúp bạn chiếc gara nhỏ nhé! Hai bạn cùng thi xem ai
xếp đẹp hơn nhé. Tôi gợi mở để trẻ giúp đỡ lẫn nhau : “ Bạn Hùng hướng dẫn
bạn Dũng cùng xếp nào. Trẻ sẽ nói : “Bạn phải xếp thế này này”. Đôi khi trẻ
còn đánh giá hoạt động của bạn, của mình (Cậu xếp kém quá, tớ biết xếp đây
này ). Hoặc trẻ còn dùng lời nói để ngăn chặn một hành động nào đó của bạn:
“Đừng động vào đây”
Ngoài ra tôi còn sử dụng một số trò chơi học tập nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ như trò chơi : “ Hãy nói lại cho đúng”
+ Mục đích : Tập cho trẻ chú ý lắng nghe, phân biệt sự thay đổi trong tiếng nói
+ Luật chơi : Ai nói sai sẽ nhảy lò cò
+ Cách chơi : Cho trẻ đứng vòng cung, yêu cầu cả lớp lắng nghe và nói lại cho
đúng. Lúc đầu cô cho cả lớp lắng nghe và nói lại, sau đó cô cho cá nhân nói lại.
VD : + Cô nói hai tiếng có cùng chữ cái đầu nhưng khác âm : Cân –
Cơm, Chuối - Chiếu , Tai -Tay , Mắt - mũi ...
+ Cô nói hai tiếng có cùng âm chính chỉ khác chữ cái đầu : Ngan -gan, Cá - Lá ,
Múi - Núi...
+ Cô nói một tiếng với các thanh âm khác nhau như : Ca- Cà- Cá, La- Là- Lá ...
- Trẻ chơi trò chơi : “ Tiếng gì”
+ Mục đích: Rèn luyện thính giác, củng cố vốn từ và rèn luyện cách diễn đạt
Hay chăng dây điện
Là con nhện con ...”
4.4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi
Như chúng ta đã biết, lứa tuổi nhà trẻ nói riêng và trẻ mầm non nói
chung, đang ở giai đoạn phát triển và hoàn thiện các hệ cơ quan, trong đó có
các cơ quan phát âm. Vì thế mà trẻ rất hay mắc lỗi khi phát âm. Vậy nên giáo
viên và các bậc phụ huynh đều cần xác định được các lỗi đó để sửa kịp thời cho
trẻ. Muốn vậy chúng ta cần quan sát lời nói của trẻ, nghe xem trẻ nói gì và cho
trẻ nhắc lại những từ, những câu nói chưa chuẩn của trẻ. Khi nhắc lại chúng ta
12
cần khẳng định những câu nói đúng. Khi cần người lớn phải đưa ra các mẫu
câu để cho trẻ biết và nói theo.
Ví dụ : Khi cho trẻ dạo chơi trong sân trường, trẻ nhìn thấy con chim bồ
câu. Có trẻ nói: “Con chim”, trẻ khác lại nói: “Chim bồ câu”. Cô phải cho trẻ
nhắc lại đầy đủ : “Con chim bồ câu”. Như vậy cô đã sửa từ sai cho trẻ mà còn
giúp trẻ khác cũng phát âm được đúng từ: “Con chim bồ câu” .
Hay trong giờ đón trả trẻ. Có một trẻ muốn nhờ cô cởi áo khoác, trẻ nói:
“Cô cởi áo”. Tôi liền nhắc lại: “Cô cởi áo giúp con” và cho trẻ nhắc lại. Có
những trẻ đứng bên cạnh thấy thế cũng bắt chước nói theo bạn. Như vậy vừa
giúp trẻ có thói quen cởi áo khi nóng mà còn giúp trẻ nói được câu lễ phép,
đúng mực
Khi trẻ đang chơi một đồ chơi nào đó tôi gợi ý hỏi trẻ : Con đang chơi trò
gì ? đồ chơi này dùng để làm gì?...Có thể trẻ nói, kể chưa đúng, chưa lưu loát,
đôi khi còn ngọng thì tôi đưa ra mẫu câu đúng và đề nghị trẻ nhắc lại.
Như vậy ở mọi lúc mọi nơi tôi đều có thể luyện phát âm và phát triển
ngôn ngữ cho trẻ : Khi tập thể dục, khi dạo chơi, khi đón trả trẻ ...không nhất
thiết là chỉ trong tiết học, Quan trọng là cô phải nắm được khả năng phát âm
được những cụm từ và câu đơn giản chỉ sự vật, sự việc quen thuộc.
b. Nói
- Trẻ phát âm các từ, cụm từ rõ ràng
VD: “Con mời các cô ăn cơm, tôi mời các bạn ăn cơm!”
- Vốn từ của trẻ tăng rõ rệt. Trẻ biết sử dụng các từ, các câu đơn giản khi trả lời
câu hỏi của người khác
VD: Đầu năm học khi ngôn ngữ của trẻ chưa phát triển, trẻ chỉ nói được câu có
một từ như: Cơm, ngủ hay tè.. Nhưng đến giữa năm học trẻ đã biết nói câu đơn
giản như: Con ăn cơm! Con buồn ngủ! Con buồn đi tè!
- Trẻ đã biểu đạt được các nhu cầu, tình cảm, mong muốn của bản thân bằng
các câu đơn giản
VD: Con yêu cô lắm!
- Trẻ biết kể lại chuyện, kể về sự việc, kể theo tranh theo gợi ý của cô
- Biết sử dụng một số từ thể hiện sự lễ phép khi nói chuyện với người lớn.
VD: Con cảm ơn cô!
c. Về giao tiếp
14
- Trẻ mạnh dạn, hồn nhiên hơn trong giao tiếp
- Biết nói lễ phép với mọi người .
Để nhận thấy được kết quả một cách rõ ràng nhất tôi đã lập ra bảng so
sánh giữa trẻ đầu năm và trẻ giữa năm để nhận thấy kết quả khác biệt sau khi
thực hiện các biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ:
*Bảng so sánh
Thời
Nội dung khảo sát
điểm
SL
%
5
20%
5
20%
10
40%
0
0%
15
60%
10
40%
25 trẻ 15
mạch lạc
Trẻ phát âm chưa
chuẩn, ngại giao
3
tiếp
Qua bảng so sánh trên ta đã dễ dàng nhận ra giữa trẻ đầu năm và trẻ giữa
năm sau khi được áp dụng một số phương pháp phát triển ngôn ngữ thì vốn từ
của trẻ được tăng lên một cách rõ rệt. Cụ thể như sau:
+ Trẻ có ngôn ngữ mạch lạc đạt kết quả Tốt- khá tăng 10 trẻ. Tăng 40% so với
đầu năm học
+ Trẻ có ngôn ngữ mạch lạc đạt kết quả trung bình tăng 3 trẻ. Tăng 12% so với
đầu năm học
+ Trẻ có ngôn ngữ mạch lạc đạt kết quả kém giảm 8 trẻ. Giảm 32% so với đầu
năm học
15
+ Trẻ phát âm chưa chuẩn, ngại giao tiếp đạt kết quả tốt- khá tăng 3 trẻ đạt tỷ lệ
12% so với đầu năm
+ Trẻ phát âm chưa chuẩn, ngại giao tiếp đạt kết quả trung bình tăng 7 trẻ đạt tỷ
lệ 28% so với đầu năm
+ Không còn trẻ phát âm chưa chuẩn, ngại giao tiếp đạt kết qủa kém đến giữa
năm học. Như vậy đa số trẻ đã đạt được những kết quả cao trong giao tiếp,
ngôn ngữ của trẻ đã phát triển, trẻ đã sửa được các tật nói ngọng, nói lắp
thường gặp.
Điều đó chứng tỏ sáng kiến của tôi đã đem lại hiệu quả cao trong việc
phát triển vốn từ và ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi 24- 36 tháng. Đó thực sự là
1. Kết luận
17
Việc rèn kỹ năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng là rất
cần thiết. Từ chỗ trẻ chưa dám nói, chưa bạo dạn trong giao tiếp, chưa biết nói
và diễn đạt câu một cách đầy đủ, thì giờ đây trẻ đã có thể tự diễn đạt ý muốn
của mình thông qua lời nói. Vì thế giáo viên và phụ huynh nên kết hợp ăn ý với
nhau để giúp trẻ được học ở nhà và ở trường. Trẻ được học hát, múa, đọc thơ,
kể chuyện, tập nói..điều đó đã thể hiện được tình cảm của trẻ đối với quê hương
đất nước, với gia đình và người thân quanh trẻ. Các giải pháp đã thực hiện đã
đem lại hiệu quả cao trong giáo dục, được phụ huynh cũng như bản thân trẻ
nhiệt tình ủng hộ.
Kết quả sau khi thực hiện các giải pháp nhằm làm cho trẻ phát triển ngôn
ngữ: 100% trẻ có kỹ năng nói mạnh dạn trong giao tiếp, biết nói đủ câu và diễn
đạt được ý muốn của mình đối với sự vật, sự việc xung quanh trẻ. Không có trẻ
nào chưa đạt yêu cầu, từ đó đẩy lùi một số căn bệnh trong gio tiếp của trẻ như:
Bệnh tự kỷ, bệnh lười giao tiếp... Bên cạnh đó giáo viên còn là người giúp trẻ
uốn nắn những câu từ chưa đẹp trong giao tiếp, tránh cho trẻ nói tục, nói bậy,
trẻ ý thức được rằng xã hội tốt đẹp thì cần những lời nói đẹp.
Tuy sáng kiến mà tôi đưa ra chưa đem lại những hiệu quả kinh tế cao
nhất nhưng nó đã góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp nhất trong cuộc sống
2. Khuyến nghị
Để giáo viên làm tốt và phù hợp với các chủ đề tôi rất mong muốn các
cấp ngành có liên quan đến giáo dục và nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật
chất, đồ dùng và trang thiết bị dạy học cho cô và trẻ. Tạo điều kiện thuận lợi
cho trẻ phát huy hết tính tích cực trong các hoạt động và giao tiếp hàng ngày.
Mong muốn nhà trường và phòng giáo dục tạo điều kiện mở thêm nhiều
lớp tập huấn và bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho chúng tôi về
STT
NỘI DUNG
PHẦN I: THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN
PHẦN II: TÓM TẮT SÁNG KIẾN
PHẦN III: MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
2. Cơ sở lý luận của vấn đề
3. Thực trạng của vấn đề
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
5. Kết quả đạt được
6. Điều kiện sáng kiến được nhân rộng
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
PHẦN V: MỤC LỤC
1. Tài liệu tham khảo
2. Giáo án minh hoạ
GIÁO ÁN MINH HOẠ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 24-36 THÁNG
21
TRANG
Chủ đề: Những con vật đáng yêu.
Đề tài: Nhận biết gà mái, gà con.
Đối tượng: Trẻ 24- 36 tháng tuổi.
I.MỤC ĐÍCH:
- Gà trống gáy ạ
tiếng kêu của con gì?
- Cô cho trẻ làm động tác gà trống vỗ cánh - Trẻ Làm ĐT gà vỗ
cánh và gáy vang.
và gáy vang ò ó o.
-Tương tự gà mái và gà con.
2. Hoạt động 2: Trọng tâm
* NB: Gà mái
- Cô và trẻ cùng đi tìm gà mái và đưa về sa - Trẻ gọi và tìm gà
mái.
bàn để quan sát.
- Cô hỏi trẻ:
- Trẻ trả lời câu hỏi
+ Các con nhìn xem con gì đây?
- Đúng rồi đây là chị gà mái đấy! Ai nói
cho cô biết gà mái có bộ phận gì nào?
22
Ghi chú
+ Gà mái có bộ phận gì đây?
+ Đầu gà có gì nào?
+ Mắt gà để làm gì nhỉ?
+ Đầu gà còn có gì nữa?
+ Mỏ gà đâu? Mỏ gà để làm gì?
- Cho trẻ làm động tác “ Gà mổ thóc”
+ Các con nhìn xem mình gà đâu? Mình gà
có gì nhỉ?
+ Cánh gà để làm gì?
+ Gà con có gì đây? Mình gà có gì nhỉ?
+ Cánh gà đâu ? Cánh gà để làm gì?
23
- Trẻ làm gà mổ thóc
và nói Tốc! Tốc! Tốc!
- Cục ta cục tác
- Trẻ nghe
- Gà mái đẻ ra trứng
- Trẻ làm chị gà mái
- Trẻ đi tìm
-Trẻ trả lời các câu hỏi
của cô
-Trẻ trả lời
+ Gà con còn có gì nữa? Lông gà màu gì?
- Cô cho trẻ sờ lông gà
+ Các con thấy lông gà như thế nào?
+ Chân gà đâu ? Chân gà để làm gì?
- Cô khái quát về gà con.
( Cô chú ý sửa sai, sửa ngọng cho trẻ nếu
có )
*Củng cố :
+ Cô và các con vừa cùng nhau tìm hiểu về
-Trẻ tham gia chơi trò
chơi
- Trẻ hát và đi ra
ngoài
GIÁO ÁN PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
Chñ ®Ò: Nh÷ng con vËt ®¸ng yªu
§Ò tµi: TruyÖn: §«i b¹n nhá
24
Đối tợng: 25- 36 tháng
I. Mục đích
1.Kiến thức:
- Trẻ biết tên câu truyện, nhớ tên các nhân vật, hiểu nội dung câu chuyện.
( Nu tr hng thỳ cụ v tr cựng nhau tp k li chuyn, tp úng vai cỏc nhõn
vt nhm phỏt trin ngụn ng cho tr)
- Biết trả lời các câu hỏi đàm thoại
- Biết cách chơi trò chơi.
2. Kỹ năng:
- Rèn khả năng quan sát ghi nhớ và chú ý lắng nghe.
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ giúp trẻ trả lời rõ ràng, đủ câu
- Rèn kỹ năng nhanh nhẹn tham gia các hoạt động.
3. Thái độ:
- Trẻ hứng thú nghe cô kể truyện
- Giáo dục trẻ biết chăm sóc, bảo vệ các con vật nuôi trong gia đình.
II. Chuẩn bị
Bây giờ các con hãy chú ý và lắng
nghe cô kể câu chuyện này một lần
- Trẻ lại gần cô và trò
chuyện
- Trẻ đi thăm phòng
triển lãm cùng cô
- Trẻ lắng nghe
- Trẻ lắng nghe.
- Trẻ lắng nghe.
25
Ghi chú