SKKN một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 36 tháng tuổi - Pdf 63

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non là một nhiệm vụ vô cùng
quan trọng bởi vì ngôn ngữ có chức năng là công cụ giao tiếp và công cụ tư duy
cho trẻ. Hoạt động này không những giúp trẻ hình thành và phát triển các năng lực
ngôn ngữ như nghe, nói...mà còn giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, nhận thức,
tình cảm...Nó là chiếc cầu nối giúp trẻ bước vaò xã hội loài người vì ngôn ngữ là
một thứ sản phẩm độc quyền của xã hội loài người. Nó chỉ được hình thành, tồn tại
và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người, bên
ngoài xã hội loài người, ngôn ngữ không thể phát sinh.
Lê-nin đã coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng của con người. Ngôn
ngữ không phải là công cụ giao tiếp duy nhất nhưng là công cụ giao tiếp quan
trọng nhất của loài người. Ngôn ngữ có thể giúp con người tàng trữ những kinh
nghiệm sản xuất để truyền từ đời này sang đời khác. Ngôn ngữ giúp trao đổi tư
tưởng, tình cảm, xác lập các mối quan hệ trong cộng đồng xã hội.
Ngôn ngữ còn là công cụ của tư duy bởi vì ngôn ngữ và tư duy cùng xuất hiện
một lúc. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và chỉ có con người – động vật
cao cấp mới có tư duy. Không có ngôn ngữ thì không có tư duy.
Trẻ từ 24-36 tháng tuổi là giai đoạn quan trọng nhất trong sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ. Trẻ lên ba cả nhà học nói”, điều này thật đúng. Do đặc điểm phát triển
và nhu cầu giao tiếp mà vào giai đoạn ba tuổi, lời nói của trẻ phát triển với một tốc
độ mạnh mẽ nhất. Nhiệm vụ phát triển lời nói bao gồm nhiều mặt. Cần dạy trẻ hiểu
lời nói của người lớn không cần sự trợ giúp trực quan, mở rộng vốn từ tích cực,
dạy trẻ các mẫu câu, phát triển ngôn ngữ của trẻ với người lớn và những trẻ khác.
Để thực hiện được vụ này thì cần có rất nhiều điều kiện như: Cơ sở vật chất tốt,
giáo viên có chuyên môn giỏi, trẻ mạnh dạn tự tin cởi mở trong giao tiếp. Nhưng
những điều kiện trên tại lớp 2tuổi A1 còn rất nhiều hạn chế như: Cơ sở vật chất còn
thiếu thốn nhiều chưa có máy chiếu tại lớp, tranh ảnh minh minh họa cho các câu
chuyện bài thơ có rất ít, đồ dùng ,đồ chơi tại lớp còn thiếu . Giáo viên chưa có
nhiều thời gian quan tâm tới từng trẻ. Trẻ ở lớp còn quấy khóc nhiều, các cháu còn

Bảo - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:
- 06/10/2018
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1: Về nội dung của sáng kiến
Đặc điểm phát âm.
Như chúng ta đã biết trẻ trong độ tuổi nhà trẻ từ 24-36 tháng tuổi thì cơ quan
phát âm và tai nghe ngôn ngữ của trẻ đã phát triển, hoàn thiện hơn. Trẻ có khả
năng phát âm được và đúng hầu hết các âm đơn và thanh điệu. Trẻ đã phát âm
được các âm khác nhau. Phát âm được các âm của lời nói nhưng vẫn còn ê a. Trẻ
hay phát âm sai ở những từ khó.
Ví dụ:
- Âm đầu: Khế - kế, đèn pin – đèn bin, thịt gà – chịt gà.
- Âm đệm: Hoa – ha, bánh quy – bánh ki, vô tuyến – vô tiến.
- Thanh điệu: Ngã – ngá, ngủ - ngụ.

2


Đặc điểm vốn từ:
Vốn từ của trẻ 24-36 tháng tuổi tăng nhanh, số lượng từ của trẻ từ 500 - 600
từ. Trong vốn từ của trẻ có tất cả các loại từ đơn, từ ghép. Trẻ có cả từ ghép có 3 4 tiếng. Trẻ đã biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như: Màu xanh, màu đỏ ,màu
vàng…. Một số trẻ đã biết sử dụng các từ thể hiện sự lễ phép với người lớn trong
giao tiếp như: Cảm ơn cô, vâng ,dạ…
Đặc điểm ngữ pháp:
Trẻ 24 - 36 tháng tuổi đã liên kết 2,3,4 từ thành câu cụm từ, đặc điểm của
câu cụm từ là chưa phân biệt được các thành phần câu.
Ví dụ: Anh Duy, chị Thảo Nhi
Đa phần trẻ trong độ tuổi đã sử dụng các dạng câu đơn có đủ hai thành phần
là chủ ngữ và vị ngữ, câu đơn của trẻ đã được mở dộng các thành phần khác như:

trẻ phát triển ngôn ngữ. Qua giờ đón trẻ cô giáo luôn luôn trò chuyện với trẻ về chủ
đề, chủ điểm, về những vấn đề mà cô cần truyền tải đến trẻ, cần giáo dục trẻ và cần
cho trẻ biết và hiểu. Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp
vốn từ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, bởi qua trò chuyện cô cung cấp và mở rộng
vốn từ mới và củng cố vốn từ cũ cho trẻ, khi trẻ mạnh dạn trò chuyện cùng với cô
có nghĩa là trẻ đã tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ của trẻ nhờ đó mà được mở
rộng và phát triển hơn.
Ví dụ: Khi đón trẻ vào lớp và trả trẻ cô luôn nhắc trẻ biết chào cô giáo, chào
bố mẹ.
Con chào cô ạ.
Con chào bố,(mẹ) ạ.
Ví dụ: Trò chuyện với trẻ về tên các đồ dùng cá nhân của trẻ ở giờ đón trẻ.
Cô hỏi trẻ:
Đây là cái gì?
Dùng như thế nào? Có màu gì?
Ba lô của con cất ở đâu?
Ví dụ: Trò chuyện với trẻ về các đồ chơi trong lớp và đồ chơi ngoài trời:
Đây là đồ chơi gì? Có màu gì?
Đồ chơi này chơi ở đâu? Chơi xong con cất ở đâu?
Con thích chơi đồ chơi nào?
Cho trẻ đi lấy đồ chơi theo yêu cầu của cô và cho trẻ gọi tên.
Khi trò chuyện với cô trẻ tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ của trẻ nhờ
đó mà được mở rộng và phát triển hơn.
*Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua giờ Chơi hoạt động ở các góc:
Trẻ học mà chơi, chơi mà học. Đối với trẻ mầm non thì vui chơi có vai trò
quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ, vui chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình
thành tính chủ định của các quá trình tâm lý ở trẻ. Vì thế cần tạo cho trẻ môi
trường để trẻ được hoạt động, trải nghiệm, vui chơi, từ đó trẻ có thể tiếp thu kiến
thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên hơn. Trẻ chơi chủ yếu do nhu cầu và khả năng
của trẻ, nhu cầu muốn bắt chước, muốn làm người lớn, nhưng khả năng và sức lực

Để hoạt động ngoài trời có thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách
tốt nhất tôi đã thực hiện như sau: Có thể chỉ là những hoạt động đơn giản như:
Cho các bé chơi cầu trượt, nhà bóng, đi dạo quanh sân, khi thì nhận biết các
cây xanh, các loài hoa có trong khuôn viên nhà trường…, cũng có thể là những
hoạt động cầu kì hơn như: Cho bé tham gia hội chợ của nhà trường, đi chơi
công viên, tham gia các trò chơi dân gian… Từ đó trẻ được quan sát, trò
chuyện, nêu ra suy nghĩ của về các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ. Từ những
hoạt động này vốn từ của trẻ được tích lũy và tăng lên.

5


Ví dụ: Trong giờ hoạt động ngoài trời “ Quan sát cây hoa hồng”
Cô cho trẻ quan sát cây hoa hồng và cho trẻ tự nhận xét về cây hoa hồng
theo sự hiểu biết của trẻ. Cô để cho trẻ được nhìn, được sờ, được ngửi và được
nói thật nhiều. Sau đó cô mới hỏi trẻ:
+ Các con có biết đây là cây hoa gì không?
+ Cây hoa hồng này có những bộ phận nào?
+ Cô hỏi trẻ về đặc điểm, màu sắc của từng bộ phận của cây hoa.
Sau khi hỏi trẻ xong cô mới chốt lại kiến thức cho trẻ: Cô vừa nói vừa chỉ
vào từng bộ phận của cây: Đây là cây hoa hồng, cây hoa hồng có các bộ phận
là rễ cây, thân cây, lá cây và hoa. Rễ cây có màu nâu, thân và lá cây có màu
xanh, trên thân cây có gai nhọn, hoa có màu đỏ và có mùi thơm.
Sau khi quan sát cây hoa hồng xong trẻ sẽ có các biểu tượng về cây hoa
hồng, màu sắc của lá, của hoa , hiểu và sử dụng đúng các từ như màu xanh màu đỏ - gai nhọn ….
* Phát triển ngôn ngữ thông qua giờ ăn:
Giờ ăn ở trường không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể
để trẻ phát triển khỏe mạnh mà còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để làm được
điều này đòi hỏi các cô phải khéo nhằm tạo cho trẻ có nề nếp, có hiểu biết về
các món ăn, tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia ăn uống.

Cô cho trẻ quan sát và chơi với hình tròn ( Trải nghiệm với hình tròn)
Cho trẻ nói những đặc điểm cuả hình tròn: Về tên hình, màu sắc....
Các con có hình gì đây ?( Hình tròn )
Các con cùng chơi với hình tròn nào.
Các con cất hình vào rổ và cùng quan sát vật mẫu của cô
Cô có hình gì đây? ( Hình tròn )
Hình tròn có màu gì? ( Màu xanh )
Các con cùng cầm hình tròn và lăn xem hình tròn có lăn được không ?
Các con lăn hình tròn giống cô nào?

7


Vì sao hình tròn lăn được nhỉ ? (Vì hình tròn không có cạnh và không có góc
lên hình tròn lăn được đấy các con ạ)
Ví dụ: Nhận biết: “Quả dưa hấu”
Cô phải chuẩn bị một quả dưa thật, quả dưa có hình dạng và màu sắc rõ nét
để cho trẻ được quan sát. Trẻ được sử dụng các giác quan như: Sờ, nhìn, ăn,……
nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khẳ năng ghi nhớ có mục đích cho trẻ.
Sau khi cho trẻ được quan sát, được sờ quả dưa, được ăn để cảm nhận
hương vị…. giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần cho trẻ được
nói về quả dưa hấu theo sự hiểu biết của trẻ sau đó cô mới đưa ra hệ thống câu hỏi:
Đây là quả gì? (Quả dưa hấu)
Quả dưa hấu của cô có dạng hình gì? (Hình tròn)
Vỏ quả dưa có màu gì? (Màu xanh)
Vừa rồi các con đã được sờ vào quả dưa hấu, con thấy vỏ quả dưa hấu như
thế nào? (Vỏ nhẵn)
Và đây là một miếng dưa hấu đã cắt sẵn. Cô chỉ vào phần ruột của quả dưa
hấu và hỏi trẻ đây là gì của quả dưa? (Phần ruột)
Ruột có màu gì? (Màu đỏ)

Ngoài hệ thống câu hỏi thì tôi còn chuẩn bị tranh ảnh minh họa giúp trẻ
hứng thú hơn.
Hệ thống câu hỏi:
- Cô vừa đọc bài thơ gì?
- Con voi cái vòi đi ở đâu?
- Hai chân trước đi thế nào?
- Hai chân sau đi ở đâu?
- Còn cái đuôi đi phía nào?
* Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các giờ học khác:
Các giờ học: “Tạo hình”, “Hoạt động với đồ vật”, “Thể chất”, “Âm nhạc”
qua các giời học này trẻ đã rèn luyện về mặt phát âm, có thêm nhiều từ mới và hiểu
được ý nghĩa của từ. Trẻ được rèn thêm về mặt ngữ pháp. Giáo viên còn sử dụng
các giờ học này như một phương tiện để củng cố những ngôn ngữ mà trẻ đã thu
nhận được.
Ví dụ: Giờ: “ Tạo hình ”- Đề tài: Tô bông hoa hồng (Mẫu)
Cô cho trẻ quan sát tranh mẫu, cô cùng trò chuyện với trẻ về bức tranh để
giúp trẻ pháp triển ngôn ngữ và phát âm chuẩn một số từ mới:
Cô có bức tranh vẽ về gì đây ? (Bông hoa hồng)
Bông hoa hồng của cô có màu gì? (Màu đỏ)
Lá hoa của cô có màu gì? (Màu xanh)
Thân cây có màu gì? (Màu xanh)
Khi trẻ bắt đầu thực hiện tô, cô hỏi trẻ:
9


Con sẽ tô cái gì trước? và cái đó con tô màu gì?
Con cầm bút bằng tay nào?....
Ví dụ: Giờ: “Hoạt động với đồ vật” – Đề tài: “Xâu vòng màu đỏ tặng bạn
búp bê”
Cô và trẻ quan sát vật mẫu cùng trò chuyện về vật mẫu.



Ví dụ: Giờ: Âm nhạc:

NDTT: Dạy hát bài: “Chú mèo”
NDKH:TCÂN:“Bắt trước tiếng kêu của các con vật”
Để pháp triển ngôn ngữ cho trẻ, tôi hỏi trẻ:
Các con vừa được nghe cô hát bài hát gì? (Chú mèo)
Cô cho trẻ đọc lời bài hát cùng cô.
Cô cho trẻ hát theo lời bài hát.
Cô cho trẻ được hát nhiều dưới các hình thức khác nhau như: Tổ, nhóm, cá
nhân. (Cô chú ý rèn cho trẻ hát rõ lời, đúng nhạc.)
Hình ảnh minh họa

Đối với trò chơi, khi cô nói tên con vật nào thì trẻ sẽ bắt trước tiếng kêu của
con vật đấy.
Con chó - trẻ nói: Gâu gâu
Con mèo - trẻ nói: Meo meo
Con gà trống - trẻ nói: Ò ó o
Con vịt - trẻ nói: Cạc cạc
Con gà con - trẻ nói: Chiếp chiếp
Qua tiết học đã giúp trẻ phát triển tai nghe, tư duy, ghi nhớ, phát triển ngôn
ngữ cho trẻ giúp trẻ phát âm chuẩn ngữ pháp, không nói ngọng, nói đủ câu.

11


* Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc dạy trẻ tập nói.
Trẻ 24-36 tháng tuổi đây là giai đoạn quan trọng nhất trong sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ. Do đặc điểm phát triển và như cầu giao tiếp mà vào giai đoạn

có ý nghĩa rất quan trọng. Cô cần dạy trẻ dần dần, không áp đặt. Bắt đầu quan sát
bạn chơi, sau đó từ từ mới đưa trẻ tham gia vào chơi. Từ đó , trò chơi từ độc lập

12


chuyển sang trò chơi có sự hợp tác giữa các vai chơi với nhau, từ đó vốn từ của trẻ
được phát triển khá mạnh.
Cô đặc biệt chú ý đến những cháu nói ngọng, cô phải kiên nhẫn dạy trẻ nói
từng từ một. Cô nói trước để trẻ bắt trước nói theo, cho trẻ phát âm nhiều lần.
Ví dụ: Đối với trẻ nói ngọng.
“Búp bê” trẻ nói thành “Púp bê”
“ Ô tô” trẻ nói thành “Pô tô”
Cô phát âm lại từ “Búp bê”, “Ô tô” rồi yêu cầu trẻ phát âm lại.
Còn với những trẻ nói lắp cô cần rèn cho trẻ nói chậm lại, cô cho trẻ phát âm
từng từ, từng câu một.
Trẻ học phát âm từ cô rất nhiều chính vì vậy cô phải là người phát âm chuẩn
để trẻ học theo.
c. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường giáo dục nhằm phát triển ngôn
ngữ cho.
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi nói riêng thì
việc xây dựng môi trường giáo dục là rất quan trọng vì môi trường giáo dục tốt
mới kích thích sự tìm tòi khám phá ở trẻ từ đó ngôn ngữ của trẻ phát triển rất tốt.
Chính vì vậy từ đầu năm học tôi đã tạo cho trẻ một môi trường lớp học sạch sẽ
thân thiện, trang trí các nội dung giáo dục theo chủ đề, chủ điểm làm nhiều góc mở
để lôi cuốn trẻ vào hoạt động. Đặc biệt mỗi góc chơi tôi thường đưa ra một số nội
quy nhỏ giúp trẻ thực hiện đúng theo nội quy của từng góc. Thông qua các hoạt
động hàng ngày trẻ được “Học mà chơi, chơi mà học” từ đó ngôn ngữ của trẻ được
phát triển và hoàn thiện.
Tại các góc trong lớp như: Góc học tập, góc thư viện của bé, góc đóng vai



d. Biện pháp 4: Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh để phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
Như chúng ta đã thấy môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và nhà
trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một biện pháp
không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố không thể thiếu trong việc tạo môi
trường và hỗ trợ các biện pháp của giáo viên đưa ra để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trẻ 24-36 tháng tuổi là trẻ mới đi học lên vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn
nữa trẻ rất hay nói ngọng, nói lắp, nói trống không, nói không đủ câu thì vai trò của
phụ huynh kết hợp với cô giáo trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần thiết bởi nó
giúp trẻ được vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được
giao tiếp, được sửa âm, sửa ngọng.
Để phối hợp với phụ huynh được hiệu quả trong việc phát triển ngôn ngữ tôi
đã làm như sau:
- Trong cuộc họp phụ huynh: Tôi đã trao đổi với cha mẹ trẻ về những vấn đề
của từng trẻ đang mắc phải như: chặm nói, nói ngọng, nói lắp...Để cha mẹ có thể
nắm rõ được tình hình của con mình.
- Trao đổi với phụ huynh, cố gắng dành nhiều thời gian để trò chuyện với
trẻ. Tránh cho trẻ xem tivi, xem điện thoại nhiều vì đây cũng là một nguyên nhân
dẫn đến trẻ chậm nói và tự kỷ.
Ví dụ: Để cung cấp vốn từ cho trẻ.
Để cung cấp vốn từ cho trẻ ở nhà phụ huynh có thể cho trẻ gọi tên các đồ
dùng, vật dụng trong gia đình như: Tivi, tủ lạnh, quạt, nồi cơm điện. Hay gọi tên
các món ăn trước khi ăn như: Cơm, canh rau ngót, thịt rang...
Cha mẹ hay người thân khi trò chuyện với trẻ phải rõ ràng, mạch lạc, tốc độ
vừa phải, không dùng các từ địa phương. Không bắt trước những từ trẻ nói ngọng
mà cần sử ngay cho trẻ để trẻ nói đúng. Ví dụ: Khi trẻ phát âm là “ Púp bê” thì phải
sửa ngay cho trẻ phát âm thành “Búp bê”, đồng thời phụ huynh phát âm lại cho trẻ
nghe và yêu cầu trẻ phát âm lại từ đó giúp trẻ phát âm đúng, rõ ràng mạch lạc. Cha

Cô cần phải biết và nắm vững tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ của cô phải chuẩn
mực.
Phải có kiến thức về bộ môn đề tài nghiên cứu
Có sự quan tâm, giúp đỡ và sự ủng hộ nhiệt tình của ban giám hiệu nhà
trường, của phụ huynh học sinh.
Cô giáo phải là người yêu thương trẻ, yêu nghề của mình.
Nhanh nhẹn, hoạt bát, chịu khó tìm tòi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ có liên quan đến đề tài.
Đối với gia đình trẻ.
Gia đình có vai trò đặc biệt trong việc phát triển ngô ngữ cho trẻ. Trong đó
phải kể đến vai trò của người mẹ. Chính người mẹ đã đặt cơ sở cho những thói
quen đầu tiên trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ và các thành viên khác cũng
cần quan tâm đến nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ như: Ông, bà, bố, anh,
chị…
Gia đình và những người lớn xung quanh trẻ phải có ý thức như: Ngôn ngữ
phải chính xác, không nói ngọng, không nói lắp, lời nói phải có văn hóa lịch thiệp
để làm gương cho trẻ bắt chước. Người lớn phải có ý thức sửa sai cho trẻ.

16


Đối với trẻ:
Trẻ có nề nếp, ngoan ngoãn, có khả năng phát triển bình thường.
Trẻ phải được thỏa mái, sung sướng và tự tin khi tham gia các hoạt động.
Ham muốn học hỏi, khám phá, có hiểu biết, tích cực học tập, vui chơi
Cơ sở vật chất:
Môi trường tự nhiên tốt, cơ sở vật chất có đầy đủ và được đảm bảo về chất
lượng cũng như về số lượng để thực hiện đề tài.
Môi trường trong lớp, ngoài lớp đảm bảo an toàn, rộng, đẹp, khoa học và
phù hợp với trẻ ở độ tuổi.


Trẻ chú ý lắng nghe

Khẳ năng nói đúng ngữ
pháp
Nghe hiểu một số từ, câu
nói đơn giản

Trước khi thực hiện

Sau khi thực hiện

Đạt 12/36= 33,3 %

Đạt 31/36 = 86.1 %

Chưa đạt 24/36= 66,7 %

Chưa đạt 5/ 36= 13,9 %

Đạt 13/36= 36.1 %

Đạt 32/36 = 88.8 %

Chưa đạt 23/36= 63,9 %

Chưa đạt 4/36=12.2 %

Đạt 11/36 = 30.5 %


theo ý kiến của tổ chức, cá nhân:
Sáng kiến được đánh giá đảm bảo tính khoa học, tính sáng tạo, tính hiệu quả
và tính ứng dụng thực tiễn.
Bản thân luôn học hỏi các đồng nghiệp và thực hành, kiến tập các chuyên đề
ở trường, phòng giáo dục và tự bồi dưỡng mình để có thêm nhiều kinh nghiệm và
kiến thức.

18


11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng
sáng kiến lần đầu (nếu có):
Số Tên tổ chức/cá
TT
nhân
1

Lớp 2 tuổi A1

2

Lớp 2 tuổi A

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến

Trường mầm non Liên Bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status