ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH
PHÒNG GD &ĐT THỊ XÃ CHÍ LINH
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
CHỈ ĐẠO KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC BÀI DẠY
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4
Lĩnh vực: Quản lý
NĂM HỌC 2014 - 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
Chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý chuyên môn cấp Tiểu học
3. Tác giả:
Họ và tên: Đỗ Thị Huyền
Ngày tháng năm sinh: 15 tháng 12 năm 1975
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng - Tiểu học Sao Đỏ 2 - Sao Đỏ
- Chí Linh - Hải Dương
Điện thoại: 0986. 891. 764
4. Đồng tác giả: Không có
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Sao Đỏ 2 - Sao Đỏ - Chí
Linh - Hải Dương
6. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Đỗ Thị Huyền - trường Tiểu học Sao Đỏ 2.
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Chỉ đạo áp dụng: Cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn hoặc tổ trưởng
chuyên môn cấp tiểu học.
- Thực hiện áp dụng: Giáo viên tiểu học có trình độ đạt Chuẩn trở lên.
Nội dung sáng kiến chỉ rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, thực
trạng việc dạy của thầy và việc học của trò đối với phân môn Luyện từ và câu
lớp 4, từ đó xây dựng 6 giải pháp chính gần gũi, thiết thực, để chỉ đạo thực
hiện, đó là:
3.1. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho giáo viên
3.2. Bồi dưỡng nâng cao kiến thức Tiếng Việt phổ thông cho giáo viên.
3.3. Bồi dưỡng nâng cao kĩ năng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4
3.4. Chuẩn bị kế hoạch bài dạy cụ thể, khoa học
3.5. Khai thác kiến thức bài dạy linh hoạt, sáng tạo
3.6. Đổi mới và tổ chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên đề tại tổ chuyên
môn.
Các giải pháp mà sáng kiến nêu ra hoàn toàn mới, không có trong bất cứ
tài liệu nào. Các giải pháp có tính khả thi cao. Chỉ cần người cán bộ quản lý chỉ
đạo giáo viên thường xuyên nghiên cứu kĩ bài học, chuẩn kiến thức kĩ năng của
từng bài, từ đó lập kế hoạch cụ thể, khoa học, linh hoạt và sáng tạo, sắp xếp,
điều chỉnh nội dung bài dạy sao cho đạt được mục tiêu đề ra, bằng con đường
ngắn gọn nhất, nhẹ nhàng nhất, mang lại nhiều hứng thú cho học sinh. Và chỉ
có như vậy, học sinh mới tiếp cận tốt nội dung bài học, nắm bài hiệu quả.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
3
Sáng kiến có lợi ích thiết thực về xã hội, tạo điều kiện để các nhà quản lý
chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả, sát thực tế
giảng dạy của giáo viên, thực tế học tập của học sinh hiện nay.
Mặc dù áp dụng lần đầu nhưng sáng kiến trên đã được tập thể giáo viên
hồ hởi đón nhận, khẳng định sự thiết thực của nó. Đồng thời, học sinh được
tiếp nhận bài học tốt hơn, hiệu quả hơn, tạo hứng thú học tập cho các em.
5. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến
Sáng kiến sẽ có hiệu quả tốt hơn nếu được triển khai và tiếp cận trong
dụng kiến thức của phân môn vào nói, viết, giao tiếp của học sinh gặp rất nhiều
khó khăn.
Trước những hạn chế mà giáo viên, học sinh gặp phải khi dạy và học
phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt đối với lớp 4, lớp học có lượng kiến thức
nhiều và nặng hơn cả trong cấp tiểu học, lớp học mà lứa tuổi, tâm lý học sinh
tiểu học có nhiều thay đổi nhất là về nhận thức, tư duy, là một cán bộ quản lý,
tôi mong muốn tìm ra giải pháp để giúp giáo viên thoát ra vòng luẩn quẩn,
khuôn mẫu bấy lâu nay. Xuất phát từ lí do đó, tôi viết sáng kiến: " Chỉ đạo
khai thác hiệu quả các bài dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4."
5
2. Cơ sở lý luận
2.1. Một số đặc điểm về tư duy, nhận thức của học sinh lớp 4, 5.
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.
Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Cũng ở gia đoạn này, các phẩm chất tư duy
của các em cũng chuyển dần sang tư duy trừu tượng khái quát. Trẻ dần hình
thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình, chú ý có chủ định phát triển
dần và chiếm ưu thế. Ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như
học thuộc một bài thơ, một công thức toán, hay một quy tắc dài...( Trích lược
tại tài liệu BDTX của GV tiểu học - TH1). Chính điều này là cơ sở để các nhà
giáo dục có những biên soạn nội dung chương trình phù hợp đặc điểm tư duy,
nhận thức học sinh, khác hẳn với giai đoạn trước đó: giai đoạn lớp 1,2,3
2.2. Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu:
Ở lớp 4-5, môn Tiếng Việt chiếm thời lượng 8 tiết/tuần/ 35 tuần với các
phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Trong
đó, phân môn Luyện từ và câu chiếm 2 tiết/8 tiết/tuần ( khác với lớp 2,3, chỉ có
01 tiết/tuần).
Cũng như các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ
và câu được sắp xếp thành bài trong từng tuần, theo từng chủ điểm. Cụ thể:
thể. Ví dụ:
- Kiến thức về từ đơn, từ phức: lớp 2,3 học sinh đã được làm quen với từ
1 tiếng, từ nhiều tiếng.
- Kiến thức về từ loại: danh từ, động từ, tính từ: lớp 2,3 học sinh đã được
làm quen với từ chỉ sự vật, từ chỉ đặc điểm, từ chỉ hoạt động.....
2.4. Yêu cầu về kĩ năng đối với phân môn Luyện từ và câu lớp 4
Theo quyết định 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông
và Chuẩn KTKN, thông qua phân môn Luyện từ và câu, học sinh lớp 4 cần đạt
được các kĩ năng cụ thể với từng đơn vị kiến thức như sau:
Nội dung kiến thức
2.4.1 Ngữ âm và chữ viết:
Kĩ năng cần đạt
- Sơ giản về cấu tạo của tiếng
- Nhận biết cấu tạo 3 phần của tiếng
- Cách viết tên người, tên địa lí Việt - Biết quy tắc viết hoa tên người, tên
Nam
địa lí Việt Nam và nước ngoài: nhớ
quy tắc viết hoa và biết vận dụng quy
tắc đó
2.4.2. Từ vựng
- Từ ngữ ( gồm cả thành ngữ, tục ngữ, - Biết thêm các từ ngữ (gồm cả thành
1 số từ Hán Việt) theo chủ đề ( chú ngữ, tục ngữ, 1 số từ Hán Việt thông
7
- Kiểu câu theo mục đích nói: câu kể, các mẫu câu cùng các thành phần câu:
câu hỏi, câu cảm, câu khiến
CN, VN, TN.
- Dấu hai chấm; dấu ngoặc kép; dấu - Nhận biết các kiểu câu theo mục đích
gạch ngang
nói dựa vào các từ ngữ, dấu câu đi
kèm và nghĩa của câu.
- Biết xưng hô, lựa chọn từ ngữ khi
giao tiếp ở trường, ở nhà, ở nơi cộng
cộng
- Biết đặt và trả lời câu hỏi trong trao
đổi, thảo luận
2.4.4. Phong cách ngôn ngữ và biện
pháp tu từ
- Các biện pháp tu từ: so sánh, nhân - Bước đầu nêu được cảm nhận về tác
hóa
dụng của 1 số hình ảnh so sánh, nhân
hóa trong câu văn, câu thơ
- Biết nói, biết viết câu có dùng phép
sánh, nhân hóa (mục đích chính dạng
bài này là để luyện văn)
Có thể nói, lên lớp 4, học sinh được tiếp cận với hàng loạt kiến thức
mang tính trừu tượng hơn, khái quát hơn, đòi hỏi sự tư duy hơn. Không chỉ
8
Những hạn chế này của giáo viên tác động trực tiếp lên học sinh. Thực
tiễn, đây cũng là vấn đề học sinh hay mắc trong khi học tập, thực hành phân
môn Luyện từ và câu.
9
3.1.2. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thiếu chủ động, thiếu linh
hoạt, chưa hiệu quả.
Vấn đề trở thành lối mòn khó sửa của giáo viên bấy nay là:
- Phương pháp giảng dạy đơn điệu, chủ yếu dựa vào sách giáo viên, sách
thiết kế bài dạy, chỉ hướng dẫn học sinh giải quyết lần lượt các nhận xét, bài
tập theo đáp án mà sách giáo viên hoặc sách thiết kế nêu ra; sợ sai, không tự tin
đưa ra các ví dụ, các trường hợp khác để mở rộng, khắc sâu cho học sinh.
- Hướng dẫn học sinh luyện tập, khai thác nội dung bài chưa tốt, sửa sai
cho học sinh chưa hiệu quả, không giúp học sinh thấy được cái sai và cách sửa
chữa mà chỉ nêu ngay đáp án đúng.
3.1.3. Nhận thức chưa đầy đủ của giáo viên
- Qua dự giờ, thăm lớp, qua phỏng vấn cho thấy, một bộ phận không nhỏ
giáo viên chưa xác định đầy đủ tầm quan trọng của việc giảng dạy phân môn
Luyện từ và câu nói riêng, của môn Tiếng Việt nói chung.
- Xuất phát từ nhận thức trên mà việc giảng dạy phần lớn hời hợt, thiếu
trọng tâm, ngại tìm hiểu nội dung, đổi mới phương pháp để có những tiết dạy
hiệu quả dẫn đến tình trạng soạn cho xong, dạy cho xong.
3.2. Thực trạng việc học:
Phần lớn học sinh ngại học phân môn Luyện từ và câu nhất là các tiết
học về kiến thức từ và câu. Nguyên nhân từ mấy vấn đề sau:
+ Những kiến thức mà các em được nắm bắt từ giáo viên tuy sơ giản
nhưng thiếu tính bền vững, khó nhớ, nhanh quên, bởi ngay chính giáo viên
cũng chưa chủ động thì không thể truyền tải kiến thức đến học sinh một cách
Đạt dưới 5
SL
8
4
%
25,9
12,5
Kết quả trên cho thấy, tỉ lệ học sinh chưa đạt còn nhiều, các em không
xác định đúng trọng tâm yêu cầu bài, lẫn lộn giữa từ và cụm từ. Lớp 4C là lớp
có chất lượng tốt hơn cũng còn số học sinh làm bài chưa đạt cao.
Thực trạng diễn ra và kết quả dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp
4 đã thôi thúc tôi nghiên cứu với mong muốn tìm ra giải pháp gần gũi nhất,
hiệu quả nhất, thúc đẩy chất lượng dạy và học của thầy và trò nhà trường ngày
một cao hơn.
4. Một số giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho giáo viên
Muốn chỉ đạo đổi mới hiệu quả việc đầu tiên cần làm phải làm thay đổi
nhận thức chưa đầy đủ của bộ phận giáo viên. Có thể thực hiện những việc làm
sau:
- Xác định rõ và nhấn mạnh tầm quan trọng khi giảng dạy phân môn
Luyện từ và câu lớp 4 nói riêng, môn Tiếng Việt lớp 4 nói chung.
- Chỉ ra những điểm còn thiếu, còn yếu của giáo viên về việc nắm bắt
kiến thức chuyên sâu Tiếng Việt cũng như việc thiếu hụt các kĩ năng giảng dạy
cần thiết khi dạy về các mảng kiến thức của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 và
hậu quả của nó. Việc chỉ ra những điểm thiếu, điểm yếu này thông qua những
lỗi mà giáo viên mắc phải khi giảng dạy, cán bộ quản lý nắm được qua quá
trình dự giờ thăm lớp, qua phỏng vấn, trao đổi hay qua chính kết quả học tập
Nếu cán bộ quản lý chỉ ra được các lỗi càng cụ thể, giáo viên càng nhận
thấy những lỗi riêng của mình, của đồng nghiệp cùng tác hại của nó tới quá
trình học tập của học sinh, từ đó mới thay đổi nhận thức, nảy sinh nhu cầu,
mong muốn được bồi dưỡng, khắc phục.
4.2. Bồi dưỡng nâng cao kiến thức Tiếng Việt phổ thông cho giáo viên
Đây là vấn đề cơ bản đầu tiên cần quan tâm trong mỗi nhà trường vì chỉ
khi giáo viên có vững kiến thức thì mới có thể chủ động đứng trên bục giảng
hướng dẫn học sinh khám phá tri thức. Với giáo viên tiểu học, nội dung bồi
dưỡng phục vụ phân môn Luyện từ và câu lớp 4 nên lựa chọn sát với nội dung
giảng dạy, tập trung vào các vấn đề sau:
12
4.2.1. Kiến thức về từ:
- Từ Tiếng Việt: đặc điểm, ngữ âm và ngữ pháp của từ Tiếng Việt
- Cấu tạo từ Tiếng Việt: đơn vị, phương thức cấu tạo từ
- Các kiểu từ xét theo cấu tạo, xét theo ngữ nghĩa
- Ý nghĩa của từ Tiếng Việt
- Hiện tượng nhiều nghĩa của từ, sự chuyển biến ý nghĩa của từ.
4.2.2. Các lớp từ Tiếng Việt
- Từ thuần Việt
- Từ vay mượn
- Tạo lập từ, sử dụng từ trong giao tiếp
4.2.3. Kiến thức về câu và thành phần câu, dấu câu
- Các kiểu câu Tiếng Việt phân loại theo cấu tạo hoặc theo mục đích nói.
- Dấu câu và tác dụng của 1 số dấu câu
- Chức năng ngữ pháp.
4.2.4. Phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ
- Nội dung này tập trung về các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, điệp từ,
điệp ngữ, sử dụng từ ngữ,...
chẽ của từ ghép:"hai hay nhiều tiếng ghép lại với nhau mà có một nghĩa chung"
+ Dựa vào văn cảnh: Một số kết hợp từ trong văn cảnh này là từ ghép
nhưng trong văn cảnh khác là từ đơn. Ví dụ:
a) Em rất thích ăn cánh gà rán.
2 từ đơn ( ý là: cánh của con gà)
b) Bên cánh gà sân khấu, Mai đang chuẩn bị cho tiết mục của mình.
1 từ ghép ( chỉ khoảng trống bên cạnh sân khấu)
+ Dùng thao tác thêm xen: Nghĩa là thêm xen 1 tiếng vào giữa kết hợp từ
còn chưa chắc chắn. Nếu thấy nghĩa của kết hợp từ không thay đổi thì đó là 2
từ đơn; nếu nghĩa của kết hợp từ bị thay đổi thì đó là từ ghép.
* Ví dụ: Bông hoa hồng(1) này là hoa hồng(2).
2 từ đơn
1 từ ghép
Từ " hoa hồng(1)" là 2 từ đơn bởi xét nghĩa của nó trong ngữ cảnh trên có
nghĩa là chỉ " bông hoa có màu hồng" còn " hoa hồng(2)" là 1 từ ghép bởi từ này
chỉ tên 1 loài hoa. Kể cả dùng thao tác thêm xen thì kết hợp từ " hoa hồng" (1)
cũng thêm xen được theo cách trên, còn " hoa hồng"(2) thì kết cấu rất chặt chẽ,
không thể thêm xen được.
* Dạng bài tập tạo lập từ:
+ Đưa ra nhiều dạng bài khác nhau, có thể cho từ gốc hoặc không.
+ Tạo lập từ để được từ theo cấu tạo hoặc theo từ loại yêu cầu
14
+ Tạo lập từ để được từ ngữ theo chủ điểm
*Dạng bài tập sử dụng từ: để đặt câu hoặc viết đoạn
+ Đơn giản: Đặt câu có từ ngữ yêu cầu
+ Khó hơn: Đặt câu có từ ngữ yêu cầu kèm theo chủ đề
+ Hãy tìm thêm từ đơn chứa tiếng ác? hoặc từ phức chứa tiếng hiền?
Bằng cách đào xới liên tục như vậy, học sinh sẽ nhớ lâu và nhớ có hệ
thống hơn để học tiếp bài sau: "Từ ghép và từ láy" mà không bị bỡ ngỡ.
* Dạy về các mẫu câu và thành phần câu:
Hướng dẫn học sinh nắm chắc bảng ghi nhớ mẫu câu sau:
Tên mẫu câu
Đặc điểm chủ ngữ
Đặc điểm vị ngữ
- Thường là DT chỉ: Người, sự - thường là danh từ, cụm DT
Ai là gì?
vật, sự việc
- Có thể là ĐT, TT..
- Thường là DT chỉ: Người, sự - động từ, cụm động từ chỉ hoạt
Ai làm gì? vật, sự việc
động
- Có thể là ĐT, TT..
- Thường là DT chỉ: Người, sự - Tính từ, cụm tính từ
Ai thế nào? vật, sự việc
- động từ, cụm động từ chỉ trạng
- Có thể là ĐT, TT..
c) Em bé nằm trong nôi// đang toét Bằng cách suy luận của phần b, HS sẽ
miệng cười.
xác định được Chủ ngữ, vị ngữ của câu
theo phân chia như cột bên.
Cứ tiếp tục thêm dần như vậy rồi thay đổi mẫu câu, giáo viên sẽ dần
hướng dẫn học sinh xác định tốt thành phần câu và ghi nhớ bền vững cách xác
định.Việc xác định tốt thành phần câu còn giúp học sinh xác định tốt mẫu câu
theo cấu tạo.
*Dạy về các biện pháp nghệ thuật:
- Hướng dẫn HS nhận biết 2 biện pháp chính: so sánh, nhân hóa. Đặc
biệt cần lưu ý trường hợp so sánh mà dấu hiệu so sánh là dấu câu ( hai chấm,
gạch ngang) như:
Trường Sơn: chí lớn ông cha
Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào.
hoặc chẳng hề có dấu câu nào như kết hợp: Mắt bồ câu; Lông mày lá liễu,...
- HS khá, giỏi: trong các tiết tập đọc, ngoài nhận biết tên gọi còn phát
hiện được tác dụng của biện pháp trong câu văn, câu thơ.
Mặc dù không được giới thiệu trong chương trình học, song giáo viên
cũng nên giới thiệu biện pháp nghệ thuật khác như: điệp từ, điệp ngữ; cách
dùng từ đặt câu, đảo ngữ vì học sinh sẽ được gặp tất cả các biện pháp này cùng
với so sánh, nhân hóa trong các bài tập đọc ở chương trình học cấp tiểu học.
Giải pháp 4.2 và 4.3 cho thấy lượng kiến thức chuyên sâu và kĩ năng
giảng dạy từng mảng kiến thức cần bồi dưỡng tương đối nhiều, đòi hỏi độ
chuẩn xác cao, sát với thực tiễn giảng dạy của giáo viên nên nhà trường cần
quan tâm chỉ đạo xây dựng kế hoạch bồi dưỡng một cách cụ thể, hiệu quả.
Phương án hữu hiệu nhất là:
- Ban giám hiệu, đặc biệt là hiệu phó chuyên môn cần kiểm tra, nắm bắt
kết quả tự bồi dưỡng và bồi dưỡng của giáo viên thông qua dự giờ thăm lớp,
qua các bài viết thu hoạch để có những đánh giá, điều chỉnh kịp thời.
4.4. Chuẩn bị kế hoạch bài dạy cụ thể, khoa học
Để chuẩn bị chu đáo cho kế hoạch bài dạy, mỗi giáo viên cần xác định rõ
ràng Chuẩn kiến thức kĩ năng và yêu cầu cần đạt cho mỗi nội dung đối với từng
bài dạy. Tập trung vào các việc chính sau:
4.4.1. Soạn giáo án lên lớp
Căn cứ Yêu cầu cần đạt ( Tài liệu HD Chuẩn KTKN) để xác định cho
từng bài dạy ( tiết học), GV soạn ngắn gọn thể hiện các yêu cầu sau:
4.4.1.1. Mục tiêu: Xác định và trình bày đảm bảo 3 nội dung: kiến thức, kĩ
năng, thái độ, không chỉ chép nguyên yêu cầu cần đạt.
18
*Ví dụ bài: Cách viết tên người, tên địa lí Việt.Nam ( TV4, tập 1, trang 68):
Yêu cầu cần đạt theo tài liệu
Mục tiêu GV cần xác định
Chuẩn KTKN
- Nắm được quy tắc viết hoa tên - Kiến thức: Nắm được quy tắc viết hoa
người, tên địa lí Việt Nam; biết vậntên người, tên địa lí Việt Nam
dụng quy tắc đã học để viết đúng một- Kĩ năng: Biết vận dụng quy tắc đã học
số tên riêng Việt Nam (BT1,2, mụcđể viết đúng một số tên riêng Việt Nam;
III), tìm và viết đúng 1 vài tên riêng tìm và viết đúng 1 số tên riêng Việt Nam
Việt Nam (BT3). HS khá, giỏi làm- Giáo dục: Ý thức viết đúng chính tả;
được đầy đủ bài tập 3.
bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước,
tự hào về con người Việt Nam anh hùng.
Kiến
Kế hoạch khai
thác bài học
thức: - Sử dụng ngữ liệu
Ví dụ phương pháp
và hình thức tổ chức
- GV có thể tiến hành theo phương
Nắm được quy phần nhận xét.
pháp khác nhau, song cần chọn cách
tắc viết hoa tên
đơn giản nhất, ngắn gọn nhất, giúp
người, tên địa lí
HS dễ nhớ khái niệm nhất.
Việt Nam
*Ví dụ:
+Phần a: HS thảo luận cặp hoặc làm
việc cá nhân rồi nêu nhận xét về cách
viết tên riêng của người.
-GV giới thiệu về các nhân vật lịch
Nhận xét, trước khi rút ra Ghi nhớ.
tìm và viết đúng
- Bài tập 2: Có thể tổ chức thi giữa
1 số tên riêng
các nhóm.
Việt Nam
- Bài tập 3: Hướng dẫn HS làm vào
vở. Khuyến khích HS khá, giỏi làm 2
phần a,b rồi thực hành chỉ địa danh
20
- Giáo dục: Ý - Lồng ghép khi
trên bản đồ.
- Sau hoặc trong các hoạt động học
thức viết đúng thực hiện mục tiêu: tập để rút ra kiến thức, thực hành kĩ
chính
tả;
bồi Kiến thức và Kĩ
chơi hoặc
tả hiệu
trongquả,
cácmột
bứctrong
tranh.những yêu cầu
thức
bị chồng
trùngtrò
lặp.chơi
Để được
bài dạy
đòi hỏi giáo viên là phải biết tổ chức khai thác bài dạy một cách linh hoạt, sáng
tạo, không phụ thuộc vào khuôn mẫu của sách giáo khoa, sách giáo viên, thể
hiện bằng một số việc làm như: mạnh dạn thay đổi thứ tự hoặc ngữ liệu các bài
tập nếu thấy hợp lí, lồng ghép bài tập này vào bài tập kia, mở rộng khắc sâu
kiến thức liên quan một cách phù hợp mặc dù câu hỏi trong bài không có...
* Ví dụ 1: Bài: Cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam - TV4, trang 68
Theo Dự kiến phương pháp và hình thức tổ chức đã nêu ở mục 4.4.2 thì
2. Tìm thêm các từ ngữ chỉ các đồ chơi hoặc trò chơi khác.
bài tập 1, mục Luyện tập đã được lồng ghép trong quá trình học sinh viết ví dụ
3. Trong các đồ chơi, trò chơi kể trên:
tên người, tên địa lí Việt Nam ngay sau khi nắm dấu hiệu qua tìm hiểu ví dụ mà
a) Những trò chơi nào các bạn trai thường ưa thích? Những trò chơi nào các
chưa rút ra ghi nhớ chung. Làm như vậy, học sinh vẫn được khắc sâu kiến thức
bạn gái thường ưa thích? Những trò chơi nào cả bạn trai và bạn gái đều ưa
mà vẫn hoàn thành Chuẩn kiến thức kĩ năng bài yêu cầu. Cũng vì thế, đến phần
thích?tập, giáo viên chỉ việc hướng dẫn học sinh làm tiếp bài 2 và bài 3.
Luyện
b)
của
tiếtthế
họcnào
được
sách
c) Những đồ chơi, trò chơi nào có hại? Chúng có hại như thế nào?
4. Tìm các từ ngữ miêu tả tình cảm, thái độ của con người khi tham gia
21
các trò chơi.
Mẫu: say mê.
Với nội dung các bài tập như trên, nêu giáo viên dạy theo trình từ từ đầu
đến cuối, tuân thủ theo hệ thống câu hỏi bài thì tiết dạy sẽ rất nhàm chán. Bởi
vậy giáo viên nên linh hoạt và sáng tạo cách làm khác mà vẫn giữ nguyên mục
tiêu bài học.
Dựa trên các bài tập trên, giáo viên có thể tiến hành theo phương án sau:
Bài
Dự kiến phương án thực hiện
1 - Thực hiện như yêu cầu sách giáo khoa nêu
Mở rộng khắc sâu
- HS phân chia: trò chơi
hiện đại, trò chơi dân
2
- Thực hiện kết hợp cùng bài tập 1
- Phần a: GV sử dụng phiếu thăm dò, cho - Liên hệ trò chơi HS
HS tự điền theo suy nghĩ và ý thích về trò thích chơi tại lớp, tại
4.6. Đổi mới và tổ chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên đề tại tổ chuyên
môn.
Để chỉ đạo hiệu quả nội dung sáng kiến, tôi đặc biệt quan tâm chỉ đạo đổi
mới và tổ chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên đề tại tổ chuyên môn. Có
nhiều nội dung có thể tổ chức sinh hoạt chuyên đề như:
- Bồi dưỡng giáo viên
- Bồi dưỡng học sinh
- Đổi mới phương pháp dạy học
- Sử dụng đồ dùng dạy học:
- Thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học...
Đó là những nội dung thiết thực nhất, bồi dưỡng hiệu quả nhất chuyên
môn nghiệp vụ cho mỗi giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề
này, giáo viên được đăng kí nội dung bồi dưỡng theo nhu cầu căn cứ vào mặt
thiếu và mặt yếu của mình, từ đó tổ trưởng, khối trưởng tập hợp để lựa chọn
nội dung bồi dưỡng cho tổ, khối chuyên môn. Cũng trong các buổi sinh hoạt
chuyên đề này, tổ trưởng, khối trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn thảo luận về
những bài dạy khó, những tình huống khó trong 1 số bài dạy, cùng nhau thống
nhất tìm ra phương án giải quyết tốt nhất, hiệu quả nhất cho mỗi bài dạy hay
mỗi mảng kiến thức. Thảo luận, rút kinh nghiệm được điều này chính là giáo
viên đã làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh, công tác đổi mới phương pháp dạy
học, sử dụng hợp lí đồ dùng dạy học, thực hiện chương trình, kế hoạch dạy
học...
Bên cạnh đó, tôi chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện các buổi sinh hoạt
chuyên môn theo nghiên cứu bài học để giáo viên có điều kiện tiếp cận tốt nhất
với phương án chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy Luyện từ và câu lớp 4 mà
23
tôi đã trình bày trong sáng kiến này ( Giáo án của chuyên đề nằm trong Phụ
lục 2).
2
6,7
4G
33
33
100
0
0
Kết quả bài làm học sinh đạt được cho thấy số học sinh chưa đạt còn rất
Lớp
Số HS
ít. Lớp 4A chỉ còn 2 em là 2 học sinh nhận thức rất chậm của khối, một trong
hai em là học sinh lưu ban của năm học này. Lớp 4G có kết quả rất đáng mừng:
100% các em đều có kết quả đạt trong đó có 2/3 số học sinh trong lớp đạt điểm
9 trở lên. Kết quả khảo sát trên đã khẳng định rõ hiệu quả của các giải pháp mà
tôi nêu ra là hoàn toàn hợp lí, có tính khả thi cao.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
24
Các giải pháp mà sáng kiến " Chỉ đạo khai thác hiệu quả các bài dạy
phân môn Luyện từ và câu lớp 4" mà tôi đề xuất trình bày không khó thực hiện,
chỉ cần sự tận tâm, của cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn, sự nhiệt huyết
của người thầy không ngừng trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, luôn tìm tòi sáng
tạo mong muốn đem lại những bài dạy hiệu quả cho thế hệ học trò.
Về nhân lực: Mọi cán bộ quản lý, mọi giáo viên, mọi nhà trường đều có
điều kiện thực hiện các giải pháp mà sáng kiến nêu ra.