UBND THỊ XÃ CHÍ LINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC SAO ĐỎ 2
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC VIẾT VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 4
BỘ MÔN : TIẾNG VIỆT
LỚP : 4
Năm học 2014 - 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến :
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC VIẾT VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 4
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Môn Tiếng Việt Lớp 4
3. Tác giả :
Họ và tên:
Ngày tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn :
Chức vụ, đơn vị công tác:
Điện thoại:
4. Đồng tác giả
Ngô Thúy Hương
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Ngô Thúy Hương
2
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến :
Môn tiếng Việt là chìa khóa mở ra cho con người mọi lĩnh vực của cuộc
sống. Cùng với sự phát triển khách quan.môn tiếng Việt đáp ứng mục tiêu giáo
dục: “Đào tạo con người mới phát triển toàn diện”. Đây là môn công cụ bởi nếu
không có âm thanh, chữ viết thì không có giao tiếp, trao đổi, học tập và như vậy
cuộc sống sẽ rất buồn tẻ. Xuất phát từ mục tiêu của môn học, từ mục đích của
việc bồi dưỡng năng lực học tốt Tiếng Việt là phát triển năng lực viết văn cho
học sinh là hướng cho các em đến với giao tiếp lịch sự và văn minh, bồi dưỡng
tình cảm tốt đẹp giữa con người với con người, con người với thiên nhiên
...hướng tới cái đẹp trong cuộc sống, phát triển hứng thú say mê học tập và giúp
các em học tốt các môn học khác. Đó cũng là lí do thôi thúc tôi nghiên cứu và
viết sáng kiến : Bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Trong nhiều năm giảng dạy môn Tiếng Việt ở lớp 4-5, tôi luôn trăn trở để
nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt là cải thiện kết quả học tập phân môn
Tập làm văn của học sinh cũng như giúp các em biết cách quan sát và cảm nhận
về cuộc sống xung quanh….
Nhằm góp một phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, thứ
của cải vô cùng quý giá mà ông cha đã để lại - là một giáo viên tôi nhận rõ vai
trò và nhiệm vụ của bản thân trong việc rèn kĩ năng viết văn cho học sinh tiểu
học. Nhằm giúp các em học sinh lớp 4 học tốt môn Tiếng Việt, giúp các giáo
viên có thể dạy tốt hơn môn Tiếng Việt trong các tiết học buổi thứ hai. Tôi đã
nghiên cứu “ Sáng kiến: Bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4 ”.
Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc giúp học sinh say mê học Tiếng Việt,
viết, tôi ghi lại những cách những lỗi học sinh hay mắc trong các bài văn, câu văn,
đoạn văn của các em, tôi lưu lại các bài văn của học sinh cũng như những câu
văn, đoạn văn tiêu biểu để giúp các em tìm ra ưu điểm và những lỗi còn chưa hay
chưa đúng, tôi hướng dẫn học sinh còn mắc lỗi biết cách tự sửa hoặc có thể nhờ
bạn phân tích và sửa giùm và rút kinh nghiệm với học sinh để các em mau tiến
bộ.
Tôi đã sử dụng nhiều biện pháp gây hứng thú học tập, biện pháp quan sát
các sự vật hàng ngày, biện pháp luyện tập theo mẫu, biện pháp xây dựng vốn từ
4
cho bài văn… biện pháp trải nghiệm đồng thời kết hợp tiến hành soạn giảng và
thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của những biện pháp đó.
4. Khẳng định giá trị , kết quả đạt được của sáng kiến
Tôi thấy những biện pháp này đã có nhiều lợi ích thiết thực cho học sinh,
có hiệu quả tốt, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất
lượng giáo dục, có tác dụng lớn vào việc rèn luyện bồi dưỡng năng lực viết văn kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh lớp 4, cung cấp hiểu biết về cuộc sống
góp phần trong việc phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét
đánh giá của các em tạo cho học sinh cảm hứng, tình yêu thiên nhiên đất nước
con người và môn học.
Đó là những thành công mà tôi mang lại cho các em trong quá trình giảng
dạy. Tuy chưa phải là những gì lớn lao nhưng tôi tin rằng những việc làm của tôi
đã góp phần cho sự nghiệp trồng người, cho tâm hồn trẻ thơ thêm phong phú,
giúp cho các em có khả năng cảm nhận văn học một cách tinh tế hơn, sâu sắc
hơn định hướng cho sự phát triển vững chắc trên con đường đi tới tương lai của
các em.......
5. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện, áp dụng và mở rộng sáng kiến
Tôi hi vọng sáng kiến sẽ giúp cho các thầy cô giáo đang giảng dạy cùng
tôi tháo gỡ được khó khăn khi dạy Tiếng Việt - Tập làm văn , giúp cho những
Tiếng Việt cho các em thì việc học Tiếng Việt của các em chỉ dừng lại ở mức độ
biết đọc và biết viết. Chắc chắn những điều tinh tế trong tiếng Việt - những cái
hay, cái đẹp trong tiếng Việt, còn nhiều tiềm ẩn, các em chưa cảm thụ một cách
sâu sắc, nên việc sử dụng tiếng Việt trong khi nói và viết chắc hẳn sẽ còn hạn
chế. Chính vì vậy bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh Tiểu học là vấn đề
quan trọng đang được xã hội quan tâm. Bởi cấp Tiểu học là nền tảng giúp các
em có được kiến thức cơ bản ban đầu về Tiếng Việt để học tốt lên các cấp trên
góp phần phát triển con người toàn diện.
Đánh giá cao vai trò của môn học vì vậy nhà trường đã lựa chọn, phân công
chuyên môn một cách hợp lí nhất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Năm
học 2014-2015 tôi dược nhà trường phân công giảng dạy bộ môn Tiếng Việt ở
6
một số lớp khối 4 cùng với việc thực hiện đánh giá học sinh bằng nhận xét theo
thông tư 30. Tôi nhận thấy cũng là điều kiện thuận lợi để tôi phát huy năng lực
sở trường và có điều kiện giúp các em học sinh học tốt môn Tiếng Việt cũng
như tập trung vào nghiên cứu thực nghiệm sáng kiến: bồi dưỡng năng lực viết
văn cho học sinh lớp 4...
2. Cơ sở lí luận của vấn đề :
Giáo dục tiểu học là nền tảng của giáo dục phổ thông. Thành quả giáo dục
tiểu học có tác dụng cơ bản, lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi
người. Những đức tính trung thực, cẩn thận, lễ phép, hiếu thảo và những kĩ năng
cơ bản nghe, nói, đọc ,viết,…nếu không được hình thành vững chắc ở tiểu học
thì khó có cơ hội hình thành và phát triển ở những cấp học cao hơn.
Giáo dục tiểu học trước hết phải làm cho học sinh thích đi học, thích đến
trường, yêu trường, yêu lớp, yêu thầy cô giáo, yêu quý bạn bè và cảm thấy “Mỗi
ngày đến trường là một ngày vui - Đi học là hạnh phúc”.
Để Tiếng Việt ngày càng say mê và hấp dẫn các em học sinh tiểu học thì
giáo viên tiểu học trước hết phải say mê và yêu thích môn Tiếng Việt, lôi cuốn
thuật. Như thế sẽ không giúp các em nắm được bố cục, trình tự của bài tập đọc
để các em học hỏi và vận dụng khi làm bài Tập làm văn.
Với học sinh tiểu học, hiểu biết của các em còn hạn chế, sự tưởng tượng
của các em chưa phong phú. Có những cảnh các em chưa được biết đến, có
những người các em chưa được tiếp xúc, có những con vật, cây cối, đồ vật các
em chưa được nhìn thấy. Vậy nên việc bồi dưỡng học sinh tiểu học trở thành
học sinh có khả năng học tốt tiếng Việt là một việc làm hết sức cần thiết mang
tính lâu dài. Đây quả là một vấn đề mà những giáo viên trực tiếp giảng dạy môn
Tiếng Việt luôn quan tâm trăn trở.
3.2 Những việc cần làm :
- Điều tra thực trạng viết văn của học sinh và phân tích nguyên nhân dẫn
đến thực trạng đó.
- Thống kê những phần học sinh hay mắc phải.
- Đưa ra biện pháp khắc phục những tồn tại hay cách giải quyết phần kiến
thức học sinh hay mắc đó.
3.3. Phỏng vấn + điều tra thực trạng
8
+ Trao đổi qua đồng nghiệp.
- Qua trao đổi đồng nghiệp, Các đồng nghiệp của tôi cũng thấy ngại dạy
Tiếng Việt hơn dạy môn Toán và các môn học khác vì mất nhiều thời gian và
học sinh thì không chăm học môn này.
- Trên thực tế tôi nhận thấy việc dạy và học phân môn tập làm văn hiện
nay còn có nhiều bất cập. Về phía người dạy đây là một phân môn khó, đòi hỏi
học sinh phải tổng hợp được kiến thức của các môn học, phải thể hiện được rung
cảm cá nhân, phải biết điến đạt tiếng mẹ đẻ một cách trong sáng. Trong quá
trình giảng dạy có hai vấn đề thường xảy ra:
- Hướng dẫn chung để học sinh tự mày mò
- Cho hs dùng văn mẫu sao chép
32
7
21,9
12
37,5
11
34,3
2
6,3
4D
30
6
20
14
46,6
8
26,7
2
6,7
- Sau khi khảo sát tôi thống kê các lỗi học sinh hay mắc , và nhận thấy kĩ
Lớp
Sĩ số
năng viết câu, sử dụng từ ngữ của các em còn rất hạn chế. Đặc biệt là lỗi chính
9
tả, lỗi sử dụng câu từ còn nhiều. Bài văn chủ yếu là kể lan man chú chưa biết tả,
sinh của tôi đều viết đúng nhưng thật buồn gần như các học sinh của tôi viết câu
văn chỉ vẻn vẹn có vài chữ sau :
VD :
- Bố em là công nhân.
- Con mèo nhà em rất đẹp.
- Em đang học bài.
Xét về cấu tạo ngữ pháp và yêu cầu của đề bài học sinh của tôi đã làm
đúng nhưng tất cả các em đều viết như vậy thì chưa có câu văn còn đơn điệu,
chưa hay. Học sinh không biết phát triển các câu văn thành câu có hình ảnh, sử
dụng từ ngữ cho hay hơn... học sinh có trong tay rất nhiều văn mẫu nhưng
không biết cáh khai thác, sử dụng văn mẫu cho hiệu quả, chỉ biết sao chép mà
thôi.
Đây là những nguyên nhân chính, khiến học sinh dễ chán nản, khi học
Tiếng Việt nói chung. Và một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là
việc dạy Tiếng Việt của một số giáo viên chưa thật sự gây hứng thú cho học
sinh, các thầy cô còn ngại ngần phải học hỏi phương pháp, nghiên cứu bài dạy,
đánh giá, nhận xét và chữa bài cho học sinh.
3.6. Thống kê những lỗi học sinh hay mắc khi học Tiếng Việt
- Ngại tập đọc, tra cứu từ điển, nghiên cứu bài cũ và bài mới.
- Đọc bài chưa chú ý tới các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài.
Khi trả lời câu hỏi tập đọc, lười suy nghĩ nên học sinh còn đọc nguyên nội dung
sách giáo khoa, không trả lời theo sự hiểu biết của bản thân.
- Khi phân tích một số bài mẫu còn làm lấy lệ không chịu đọc hiểu và
cảm nhận cái đẹp cái đặc sắc của bài văn chưa biết tác giả bài văn miêu tả theo
trình tự nào. Không cần biết phải học tập ở bài văn đó điều gì…
- Chữ viết xấu, không đảm bảo tốc độ, còn sai chính tả, trình bày không rõ ràng.
- Diễn đạt tối nghĩa, câu văn đơn điệu (Lỗi này gặp nhiều).
- Còn kể lể nhiều hơn miêu tả khi viết văn miêu tả. chưa biết sử dụng các
em, tạo cho các em có cơ hội được hoà nhập với thế giới thiên nhiên và những
mối quan hệ xung quanh các em. Mỗi ngày một ít, mỗi lúc một ít, mỗi nơi một ít
sẽ làm giàu thêm vốn sống, vốn liếng văn học cho các em.
b. Mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết.
- Tôi dạy các em tích luỹ “Vốn từ - Vốn hiểu biết về văn học” thông qua
việc đọc sách thường xuyên trong các giờ ra chơi, trong các buổi vào thư viện
tìm đọc, và cả trong những mẩu chuyện hay phục vụ cho các giờ kể chuyện. Tôi
còn dạy cho các em cách tìm các từ ngữ thuộc chủ điểm, các em có thể đọc to
lên những đoạn truyện mang tính kich tính của nhân vật khi các em thích, và các
em có thể cười, nói cùng nhân vật. Có buổi sinh hoạt lớp, có giờ truy bài, có khi
giờ ra chơi... tôi còn đọc mẫu những bài thơ hay kể chuyện gây hứng thú cho các
14
em để các em có thể đọc sách say mê. Các giờ dạy tập đọc, kể chuyện nào tôi
cũng dành ít nhất 1->2 phút để hướng dẫn các em chuẩn bị bài ở nhà, những
bài khó tôi đọc mẫu cho các em nghe, tôi kể những mẩu chuyện, những tấm
gương để các em tìm hiểu theo chủ điểm sách giáo khoa mà chuẩn bị cho bài
học mới, để có nhiều truyện kể trong giờ kể chuyện đã nghe đã đọc, từ đó hiểu
biết của các em được lớn dần lên
Mỗi cuốn sách có biết bao điều bổ ích và tôi hướng dẫn các em tích luỹ
vốn sống đó bằng (Sổ tay văn học), Các em ghi lại nhân vật , tình tiết em thích
trong mẩu chuyện, bài thơ hoặc những đoạn văn , câu văn hay...
Từ hứng thú và hiểu biết của mình các em ghi vào đó làm "Vốn sống” cho
văn học. Nó giúp các em mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ,
cảm xúc góp phần khơi dậy năng lực cảm thụ văn học cho các em.
Để các em đọc sách có kết quả cao - Yêu cầu các em phải tuân thủ theo
hướng dẫn sau:
+ Phải lựa chọn những cuốn sách phù hợp với lứa tuổi.
+ Có thái độ nghiêm túc và phương pháp đọc sách.
chiếu..hoặc cho học sinh xem phim, một đoạn băng video, tra từ điển ). Các việc
làm này làm cho vốn từ của các em phong phú hơn, giúp các em hiểu sâu hơn
hay sử dụng từ điển cũng rất có hiệu quả giúp các em có thêm kiến thức về từ
ngữ ngữ, khuyến khích các em cách tra từ điển nhanh và nhớ được nghĩa của từ
qua các giờ truy bài, 5 phút kiểm tra bài cũ, các buổi sinh hoạt lớp .
b. Cách sử dụng từ để viết câu:
Trước hết phải cho các em hiểu về nghĩa của từ. cấu tạo của câu, nắm
vững cấu trúc câu gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ, nếu thiếu một trong
hai thành phần này câu không thể là câu ( ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt)
Nắm vững kiến thức về câu trong tiếng Việt, các em sẽ không chỉ nói ,viết tốt
mà còn có thể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn
đạt sinh động, sáng tạo. Đọc đoạn văn tả cảnh đẹp của Sa Pa, tôi nhắc các em
hãy chú ý vào cách đặt câu rất hay của nhà văn Nguyễn Phan Hách.
"Thoắt cái, lác đác lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái
trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cánh đào, lệ, mận. Thoắt cái, gió
xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý.
(Tiếng VIệt 4 tập 1)
- Chúng ta hãy xác định từ ngữ gây ấn tượng về thời gian của Sa Pa
"Thoắt cái, ta cảm nhận thấy dòng thời gian trôi đi mà không đợi ai cả "Thoắt
cái, thu sang, "Thoắt cái, xuân về, "Thoắt cái, đông tới. Từ đó kết hợp với nghệ
thuật đảo vị ngữ.
16
- Lác đác lá vàng rơi.
- Trắng long lanh một cơn mưa tuyết.
Nếu không dùng nghệ thuật này những câu văn trên sẽ không thể làm cho
người nghe, đọc, cảm nhận được vẻ đẹp lên thơ huyền ảo, độc đáo của Sa Pa.
c. Cách sử dụng các biện pháp tu từ.
Các biện pháp tu từ : Nhân hóa và so sánh cũng là thế mạnh đặc trung
* Nhân hoá: Là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những
đặc điểm mang tính cách con người, gọi nó, chuyện trò với nó làm cho nó trở
nên sinh động hấp dẫn. :
“Sông La, ơi sông La”
+ Đôi khi người ta có thể kết hợp so sánh và nhân hóa trong cùng một câu
văn : VD học sinh của tôi đã viết câu văn rất hay khi
+ So sánh và nhân hóa chiếc cặp : “Như một người chị cả đùm bọc cho
đàn em , chiếc cặp đựng vào lòng mình tất cả dụng cụ học tập của em”.
Vì vậy khi làm văn các em nhớ quan sát rồi mới tìm hình ảnh so sánh ,
nhân hóa cho phù hợp và tôi cho các em có thói quen khi viết nháp văn dùng bút
gạch dưới câu văn em đã dùng biện pháp so sánh, nhân hóa trong bài. Chính vì
vậy bài văn miêu tả của các học sinh tôi dạy luôn luôn có hình ảnh so sánh,nhân
hóa rất sinh động, gần gũi..
* Dùng điệp ngữ: Là nhắc đi nhắc lại một từ ngữ có mục đích, nhằm
nhấn mạnh một ý nào đó, làm cho nó nổi bật để nâng cao hình ảnh hoặc cảm
xúc muốn diễn đạt. tôi đọc chính các câu văn của các em trong bài văn tả cây cối
VD1 : Tròn lên, tròn lên…. da dần căng lên, những quả chuối trở nên bẫm
thạt là thích mắt.
( Tả cây chuối đang ra buồng )
VD2 : Ve ve ! Ve ve… ! Cái cảm giác khi nghe tiếng ve kêu và chợt nhìn
thấy hoa phượng nở đỏ thắm giữa vòm lá xanh biếc làm em thấy bồi hồi, bồi
hồi…Sắp nghỉ hè rồi , nhớ lắm Phượng ơi, Phượng ơi !
( Nêu cảm xúc của em trong bài văn tả cây phượng trong sân trường )
- Qua ví dụ tôi cho các em hãy chỉ ra điệp ngữ trong 2 câu thơ trên, nêu ý
các em muốn diễn đạt . Để giúp các em biết cách dùng điệp ngữ tôi cho học sinh
luyện tập viết câu văn bộc lộ cảm xúc hoặc nhấn mạnh ý em muốn diễn đạt ở
một số ví dụ khác
18
- Dùng câu kể Ai thế nào để miêu tả hình ảnh sắc thái, tính chất, trạng
thái... của đối tượng được tả
- Dùng câu kể Ai là gì để giải thích liệt kê và giới thiệu, so sánh, nhân hóa
nhằm mô tả đối tượng đang tả, đang kể
* Sử dụng tốt các kiểu câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm...
- Tôi hướng dẫn học sinh có thể sử dụng câu hỏi cho nhiều mục đích khác
nhau: như giới thiệu, khẳng định nêu yêu cầu... hoặc sử dụng câu hỏi cho phần
mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng trong bài văn
- Sử dụng câu cảm để nêu cảm xúc nhằm làm nổi bật hình ảnh, tố chất của
sự vật đang tả...
- Sử dụng câu khiến để nhân hóa cho sự vật ( Nói với sự vật, gọi nó, hay
vật nói với người )
4.4.3. Kĩ năng vận dụng: Bài tập sáng tạo - sử dụng biện pháp tu từ
đển luyện viết câu văn có hình ảnh, có cảm xúc
Ví dụ: Viết ba câu văn có hình ảnh nhân hóa để tả:
- Tia nắng sớm
- Lá cờ giữa sân trường
Những bài tập này là những bài tập sáng tạo, yêu cầu học sinh sử dụng
biện pháp tu từ để luyện viết câu văn có hình ảnh, có cảm xúc, chúng được sử
dụng nhiều khi luyện viết văn. Vì vậy, những bài tập này được sử dụng nhiều ở
mạch kiến thức, kĩ năng - Làm văn - rèn kĩ năng viết đoạn văn, bài văn.
22
- Đây là dạng bài tập rất có tác dụng, đưa ra dạng bài tập này học sinh của
tôi học tập có tiến bộ rõ rệt nhờ biết sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa để
miêu tả . Nhiều em viết những câu văn hay và cảm xúc thật tự nhiên.
- Tia nắng sớm lọt vào khung cửa sổ. dịu dàng đậu trên vai em, ngắm
nhìn chúng em học bài.
- Lá cở giữa sân trường tung bay trong nắng mới, reo vui chào đón
như tấm khăn voan mỏng của một nàng tiên mùa xuân vắt hờ hững lên làng quê)
* Bài tập có thể yêu cầu tạo ra những hình thức so sánh “Điền vào chỗ
trống những từ nhữ so sánh sao cho thích hợp: Da trắng như..., mắt đen như...,
miệng cười như ..., tiếng nói sang sảng như ..., tính nóng như ...”, hoặc quy định
cả nội dung đoạn và biện pháp tu từ cần sử dụng như: Dùng phương pháp so
sánh để viết một doạn văn tả cảnh một ngày nắng đẹp”. Đề cũng có thể yêu cầu
chữa những cách dùng những biện pháp tu từ sai.
4.4.4. Kĩ năng phân tích đề quan sát, tìm ý và lập dàn ý khi làm văn
4.4.4.1. Phân tích đề bài :
- Thực hiện bất cứ một bài văn nào tôi cũng hướng dẫn các em cần phải
phân tích đề văn trước. Phân tích đề bài thực hiện các bước sau :
Bước 1: Đọc kĩ đề, nắm kiểu bài.
- Dùng bút chì gạch dưới các mệnh lệnh của đề là các từ: “kể, tả viết đoạn
văn , ghi lại, viết tiếp…” để biết việc thực hiện là gì, văn thuộc kiểu bài nào
Bước 2 : Tìm hiểu giới hạn của đề văn
- Tìm hiểu giới hạn của đề văn để làm bài đúng trọng tâm, tránh viết lan
man, dài dòng không cần thiết
Ví dụ : a) Đề bài : Hãy tả chiếc cặp sách em đang dùng hàng ngày
- Mệnh lệnh của đề : Tả (Văn miêu tả )
- Đối tượng tả : Chiếc cặp sách( Đồ vật )
- Giới hạn đề : Chiếc cặp sách em đang dùng ( có thể là cặp mới, có thể là
cặp đã cũ được tặng hoặc do ai mua cho… )
4.4.4.2. Quan sát, tìm ý, chọn ý, Sắp xếp ý:
+ Quan sát, tìm ý, chọn ý
Cần nhấn mạnh với học sinh, khi quan sát ta không chỉ quan sát bằng mắt
mà cần phải cảm nhận cả bằng các giác quan khác (xúc giác, thính giác vị
24
giác...) và còn cả bằng tâm hồn, không phải chỉ là cảm giác đơn thuần mà còn