SKKN Nâng cao năng lực viết văn cho học sinh lớp 45 bằng việc sửa lỗi câu lớp 5 - Pdf 34

Phần I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
- Cùng với sự phát triển của các môn khoa học
khác, môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm
văn nói riêng ngày càng khẳng định được vị trí, nhiệm
vụ của nó một cách rõ ràng, cụ thể và đầy đủ. Dạy
Tiếng Việt nói chung và dạy Tập làm văn nói riêng
được quan niệm như dạy kiến thức cơ bản, cung cấp
những phương tiện, những cơ sở để học tốt các môn
học khác. Bên cạnh đó phân môn Tâp làm văn nối tiếp
các bài học khác nhau trong Tập đọc, Chính tả, Luyện
từ và câu … nhằm giúp học sinh có năng lực sản sinh
ngôn bản (2 hình thức nói và viết)


I. Lý do chọn đề tài:
-Song qua thực tế nhiều năm giảng dạy và tìm
hiểu khả năng diễn đạt của học sinh qua các bài
viết, tôi thấy các em còn mắc khá nhiều lỗi về câu.
Trước vấn đề này tôi muốn tìm hiểu thực trạng và
nguyên nhân do đâu mà các em mắc những lỗi này.
-Từ đó trăn trở đồng thời tìm biện pháp để khắc
phục và sửa lỗi câu văn, mở ra hướng đi cho học
sinh trong việc tập rèn kỹ năng viết câu đúng, đoạn
văn hay và đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy tôi đã chọn
đề tài “Nâng cao năng lực viết văn cho học sinh
lớp 4&5 bằng việc sửa lỗi câu”.


II. Cơ sở và thời gian nghiên cứu:
• Đối tượng học sinh lớp 4- 5 trường Tiểu

Chương I: Những cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
I. Cơ sở ngôn ngữ học:

• Ngôn ngữ có ảnh hưởng đến việc dạy và học
Tiếng Việt ở trường Tiểu học qua các lĩnh vực
sau:
• Dạy ngôn ngữ là dạy từ vựng và ngữ pháp làm
phương tiện giao tiếp.
• Dạy lời nói là dạy các phương pháp hình thái và
biểu đạt ý nghĩa bằng ngôn ngữ trong giao tiếp.
• Dạy hoạt động lời nói là dạy quá trình giao tiếp
qua các dạng và các hình thức khác nhau.


II. Cơ sở tâm lý học:
• Học xong bậc Tiểu học các em phải biết diễn tả
ý mình nghĩ, biết sử dụng từ ngữ và dùng câu
hoàn chỉnh để diễn đạt tốt đồng thời tạo được kỹ
năng học văn cho các lớp sau.
• Ở Tiểu học,Tập làm văn là một giờ học tổng hợp
những kiến thức quan trọng được tồn tại trong
đầu mỗi học sinh dưới một dạng riêng của nó.
Sự cảm nhận về cuộc sống, biết điều tốt, điều
xấu, điều hay, điều đẹp… làm nảy sinh sự đánh
giá trong đầu học sinh là mức độ của giai đoạn
nói ra, viết ra được những cảm nhận đó.


II. Cơ sở tâm lý học:
 Học sinh cuối bậc Tiểu học đã nắm được

kỹ năng làm văn cho học sinh là một trong
những phương pháp mang lại hiệu quả cao.


III. Cơ sở thực tiễn:
Vì chỉ thông qua việc chấm bài viết cho học
sinh, tiếp cận bài viết của học sinh, giáo viên mới
xác định đúng đối tượng học sinh của mình, thấy
được cái đúng, cái hay, cái ưu điểm cần động viên
khuyến khích.
 Mặt khác thấy được cái sai, cái dở, cái hạn
chế của học sinh trong việc vận dụng lý thuyết vào
bài viết, diễn đạt suy nghĩ quan sát của mình vào
lời văn để giáo viên có biện pháp kèm cặp sửa
chữa.


III. Cơ sở thực tiễn:
Thực tế khi chấm bài của học sinh tôi hiểu
rõ khả năng viết văn của học sinh, hầu hết
trong một bài văn cụ thể, các em không dễ
dàng phát hiện ra những lỗi sai của mình,
không xác định rõ ý diễn đạt, không xác
định rõ ranh giới thành phần câu này với
câu kia và quan trọng hơn là học sinh không
hiểu rõ về thể loại văn bản mình đang tiếp
cận


III. Cơ sở thực tiễn:

đưa ra những lỗi điển hình. Hoạt động của thầy trò
thể hiện rõ trong bài soạn. Về phương pháp giáo
viên thực hiện đúng phương pháp tiết trả bài, có
quan tâm sửa chữa lỗi cho học sinh


I. Thực trạng
 Tuy nhiên, giáo viên còn làm việc nhiều
thay cho học sinh hoặc phân chia thời lượng
sửa sai trong tiết Tập làm văn trả bài chưa
hợp lý. Thay vì khi giáo viên đưa ra lỗi sai
học sinh phải chỉ ra lỗi sai, vì sao sai, sửa
thế nào thì đằng này giáo viên lại làm hết.
Các lỗi đưa ra chỉ là những lỗi về chính tả
hoặc một số lỗi đơn giản khác còn lỗi về
dùng từ viết câu còn ít.


I. Thực trạng
• Thời gian dành cho học sinh tự sửa lỗi
câu, viết đoạn văn còn hạn chế dẫn đến
học sinh thụ động, chủ quan không phát
huy được tư duy, sáng tạo trong việc sửa
chữa câu thiếu sót và sai. Một số học sinh
chưa thực sự hứng thú với việc học.
• Qua thực tế giảng dạy, chấm bài của lớp
cũng như tham khảo một số lớp ở khối 4,5
tôi nhận thấy học sinh hay mắc phải các
lỗi về câu như sau:



1.2. Câu thiếu vị ngữ
• Ví dụ: trong đề bài: Tả cô giáo (thầy giáo) đã
từng dạy dỗ em và để lại cho em nhiều ấn
tượng, tình cảm tốt đẹp. Một học sinh lớp 5 đã
viết:
• “Cô giáo, người mẹ hiền mà vô cùng thân thiết
với em.”
• Ở dòng này học sinh đã mang lối nói không
chuẩn mực của khẩu ngữ và bút ngữ. Dòng này
chưa thành câu vì thiếu từ “là” trước “người mẹ
hiền”, cũng có thể chỉ cho học sinh thấy câu này
thiếu vị ngữ: “người mẹ hiền mà vô cùng thân
thiết với em” chỉ là thành phần chú thích cho chủ
ngữ


1.2. Câu thiếu vị ngữ
• Như vậy học sinh sẽ sửa như sau:
• Cô giáo là người mẹ hiền mà vô cùng thân
thiết với em.
• Cô giáo, người mẹ hiền mà vô cùng thân
thiết với em, luôn tận tình dìu dắt và dạy
dỗ em.


1.3. Câu thiếu cả hai thành phần chính
• Ví dụ: Ở đề bài “Tả ngôi trường của em” một học
sinh lớp 5 viết: “Trong khu trường hai tầng rộng
lớn và rợp bóng cây.(1) Phía trên cổng trường là

những hàng cây và chim hót líu lo”.
 Đây là học sinh quan sát gì viết nấy, không
chọn lọc từ ngữ, không biết dùng câu, cả một
đoạn văn dài chỉ biểu thị một câu dài như thế, đặc
biệt dùng lặp lại quá nhiều từ “và” làm giảm hiệu
quả diễn đạt trong đoạn văn, không xác định được
thành phần của câu.


1.4. Câu không xác định được thành phần
 Giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp lại
một số ý, bỏ bớt một số từ “và”, thay vào một
số dấu câu để nội dung mạch lạc hơn: “Trường
em nằm cạnh con đường liên thôn. Bên trái
cổng trường là phòng Hiệu trưởng, bên phải là
phòng Hội đồng rồi đến phòng thư viện. Sân
trường có những hàng cây bóng mát đang rì
rào trong gió, chim líu lo hót hót …”



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status