THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: "Giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ
văn ở lớp có đối tượng học sinh trung bình, yếu theo định hướng phát triển
năng lực"
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn THCS
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thái Hà
Nam (nữ): Nữ
Ngày/ tháng/năm sinh: 25/5/1978
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Văn
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Phả Lại
Điện thoại: 0168 491 7307
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu :
Tên đơn vị: Trường THCS Phả Lại
Địa chỉ: Phường Phả Lại - Thị xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320 3881 326
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Các thiết bị, đồ dùng hỗ trợ giảng dạy: máy tính, máy chiếu...
- Sự ủng hộ hợp tác của các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 10 năm 2013
HỌ TÊN TÁC GIẢ :
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Thái Hà
1
chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn ở các lớp có đối tượng học sinh trung bình
2
yếu theo định hướng phát triển năng lực – một yêu cầu được đặt ra từ năm học
này.
3.2.Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Trước hết, với sáng kiến này tôi nêu ra mục tiêu đổi mới phương pháp
dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Xác
định rõ các năng lực cần phát triển qua giờ học Ngữ văn. Đánh giá thực trạng
chung của việc dạy và học Ngữ văn nhất là với đối tượng học sinh trung
bình,yếu. Tìm hiểu để nắm bắt các đặc điểm tâm sinh lí cũng như đặc điểm
nhận thức của đối tượng này. Trên cơ sở đó tôi đề xuất một số giải pháp áp
dụng để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở các lớp có
đối tượng học sinh trung bình, yếu theo định hướng phát triển năng lực. Để
sáng kiến có tính thuyết phục tôi cũng đưa ra những khảo sát thực tế và kết quả
áp dụng để minh chứng .
3.3. Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
Thực hiện sáng kiến này theo tôi sẽ đem lại những lợi ích thiết thực
trong việc nâng cao hiệu quả dạy và học môn Ngữ văn ở các lớp có đối tượng
học sinh trung bình, yếu theo định hướng phát triển năng lực từ đó góp phần
nâng cao chất lượng toàn diện.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Các giải pháp được rút ra từ chính thực tiễn giảng dạy nên đã giúp cá
nhân tôi nâng cao được hiệu quả trong giờ dạy Ngữ văn ở lớp có đối tượng học
sinh trung bình, yếu. Đồng thời sáng kiến cũng đã được áp dụng vào việc dạy
học trong nhà trường để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
5. Đề xuất kiến nghị:
Với sáng kiến này bản thân tôi mong muốn được thực hiện áp dụng vào
thực tiễn dạy học ở tất cả các khối lớp cấp THCS để nâng cao chất lượng bộ
người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh
giá của gia đình và của xã hội”.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn người giáo viên cần không ngừng đổi mới
phương pháp dạy học sát đối tượng, lấy học sinh là trung tâm tôi đưa ra kinh
nghiệm: " Giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở các lớp có
đối tượng học sinh trung bình, yếu theo định hướng phát triển năng lực".
1.2.Cơ sở thực tiễn:
4
Năm học 2014-2015 là năm học toàn ngành giáo dục triển khai thực hiện
đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định
hướng phát triển năng lực học sinh. Để nâng cao chất lượng dạy và học nhất là
ở những lớp có học sinh trung bình,yếu là một việc không phải dễ và càng
không thể làm trong ngày một ngày hai được .Bởi nó là hệ quả của nhiều nhân
tố.Tuy nhiên, lí luận dạy học đã chỉ ra rằng: “ Không có học sinh tồi mà chỉ có
người thầy chưa có phương pháp dạy phù hợp mà thôi ”. Và tôi tin rằng nếu
bản thân mỗi chúng ta luôn tìm tòi sáng tạo, đổi mới phương pháp trong mỗi
bài học sao cho phù hợp với đối tượng , biết khêu gợi và phát huy những khả
năng tiềm tàng của học sinh thì chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ được cải
thiện.
Năm học 2014 – 2015, trường tôi có 225 em học sinh lớp 9. Dựa trên các
kênh thông tin: chất lượng học lực năm học 2013 – 2014, chất lượng khảo sát
đầu năm, số học sinh nói trên được chia thành 6 lớp theo học lực: 3 lớp đầu là
những lớp khá, giỏi; 3 lớp còn lại chia đều với đa số là học sinh trung bình
yếu. Tôi được phân công dạy Ngữ văn lớp 9B gồm 35 học sinh, trong đó có 05
học sinh được xét lên lớp lần II ,còn lại là các học sinh trung bình.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy chất lượng học môn Ngữ văn của các em
rất thấp. Đa số học sinh nhận thức chậm, chưa có phương pháp học tập bộ môn,
chưa có ý thức cố gắng vươn lên trong học tập; thậm chí nhiều em kĩ năng
Xuất phát từ những hạn chế của hoạt động đổi mới phương pháp dạy
học(PPDH) và kiểm tra đánh giá (KTĐG) ở trường trung học cơ sở.Hoạt động
đổi mới PPDH chưa mang hiệu quả cao: truyền thụ tri thức một chiều, dạy học
vẫn nặng về lí thuyết, việc rèn kĩ năng sống và kĩ năng giải quyết các tình
huống thực tiễn cho học sinh chưa được nâng cao...Hoạt động KTĐG chưa đảm
bảo yêu cầu khách quan chính xác, việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái
hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số. Nhiều giáo viên chưa vận dụng đúng
quy trình biên soạn đề kiểm tra...Học sinh thụ động khả năng sáng tạo và năng
lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn cuộc sống còn
hạn chế.
Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không
khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học Ngữ văn ở
các trường phổ thông. Thái độ đối với môn Ngữ văn của các em có sự phân biệt
6
rất rõ do tính thực dụng trong xã hội. Số đông học sinh hiện nay có thiên hướng
học các môn tự nhiên vì vậy môn Ngữ văn cũng như nhiều môn khoa học xã
hội khác chưa được chú trọng. Rất ít học sinh nhận thức được rằng học Ngữ
văn để thưởng thức văn chương, để bồi đắp mĩ cảm, để hoàn thiện nhân cách.
Bên cạnh đó, nhiều giờ dạy được đánh giá cao về đổi mới phương pháp,
giáo viên vẫn chưa thực sự giúp học sinh thể hiện cái riêng trong tiếp nhận văn
bản. Sự phát huy tính tích cực chủ động của học sinh thực ra vẫn mang tính
chất nửa vời. Nhiều giờ dạy vẫn như là sự gò bó, áp đặt. Mặt khác,trong các
trường trung học cơ sở hiện nay, học sinh trung bình,yếu chiếm một tỉ lệ không
nhỏ. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đa số các em lười học, ngại suy nghĩ,
đặc biệt là khi học Ngữ văn. Đó chính là những nguyên nhân khiến cho các em
không thể chủ động trong học tập, làm cho giờ học Ngữ văn không đạt được
hiệu quả như giáo viên mong muốn. Chính điều đó đã làm ảnh hưởng đến chất
lượng đại trà của mỗi nhà trường.
* Tổng hợp, đánh giá:
- Qua kết quả điều tra, khảo sát chúng ta thấy phần lớn các em không
hứng thú học Ngữ văn. Vì vậy, chất lượng đạt được còn rất thấp.
4.Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
7
4.1.Mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực học sinh:
4.1.1.Đối với học sinh:
Việc đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng
lực học sinh đã góp phần quan trọng trong việc tuyển chọn và phân loại đúng
năng lực, trình độ của học sinh thúc đẩy học sinh cố gắng khắc phục thiếu xót
hoặc phát huy năng lực, sở trường của mình; đánh giá sự phát triển nhân cách
nói chung so với mục tiêu đào tạo và yêu cầu của thực tiễn. Đồng thời tạo
những điều kiện thuận lợi cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập và
rèn luyện của học sinh hoặc nhóm học sinh; cung cấp thông tin phản hồi có tác
dụng giúp việc học, giảng dạy và giáo dục tốt hơn. Kết quả đánh giá còn tạo cơ
sở cho giáo viên điều chỉnh, cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình, phương
pháp dạy học, kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả
của quá trình này.
4.1.2. Đối với giáo viên:
Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập và rèn luyện
của học sinh hoặc nhóm học sinh; cung cấp thông tin phản hồi có tác dụng giúp
việc học, giảng dạy và giáo dục tốt hơn; kết quả đánh giá tạo cơ sở điều chỉnh,
cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình PPDH, kế hoạch đào tạo nhằm nâng
cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của quá trình này.
4.2. Năng lực và các năng lực cần phát triển cho học sinh qua môn học
Ngữ văn:
có khả năng tiếp thu.
Bên cạnh đó, các em cũng yếu về kĩ năng. Nhiều em trình bày, diễn đạt
những suy nghĩ, nhận thức của mình không được mạch lạc, trôi chảy; Các em
còn đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai; Khả năng phân tích, tổng hợp, so
sánh, vận dụng kiến thức còn nhiều hạn chế…
Đồng thời, các em cũng là những học sinh có ý thức đạo đức, ý thức học
tập chưa tốt. Cụ thể:
- Đi học thất thường, hay trốn học, bỏ học đi chơi.
- Lười suy nghĩ; khả năng chú ý, tập trung nghe giảng không bền; lười ghi bài
trên lớp, không chịu học và làm bài tập về nhà.
9
4.4.Nguyên nhân của tình trạng học sinh có học lực trung bình, yếu:
4.4.1. Về phía học sinh:
- Các em chưa có động cơ, mục đích học tập đúng đắn, còn mải chơi,
không chú ý đến việc học tập.
- Do lơ là việc học tập từ rất nhiều năm trước nên các em hổng kiến thức
cơ bản. Càng học lên cao, khả năng tiếp thu của các em càng kém đi.
- Do khả năng nhận thức chậm, không tiếp thu được lượng kiến thức cơ
bản trong tiết học .
- Do thiếu sự quan tâm của gia đình, thầy cô; thậm chí bị thầy cô “bỏ
rơi” khi học cùng đối tượng học sinh khá, giỏi.
4.4.2. Về phía giáo viên:
- Chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, chưa
thực sự quan tâm đến đối tượng học sinh trung bình,yếu trong lớp. Giáo viên
thường vẫn tham kiến thức; xác định mục tiêu bài dạy, sử dụng phương pháp
chung cho các đối tượng học sinh khác nhau.
- Năng lực quản lí học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém về học lực
thường là học sinh hư, còn hạn chế. Giáo viên không hướng được học sinh chú
- Nhóm học sinh hổng kiến thức.
- Nhóm học sinh có nhận thức chậm, khả năng tư duy kém.
Trong mỗi tiết dạy, tôi xác định rõ những câu hỏi, bài tập dành cho từng
đối tượng học sinh. Đối với những học sinh có khả năng tiếp thu bài nhưng
chưa chăm học, chưa ngoan, tôi quan tâm nhiều đến việc giáo dục ý thức kỉ
luật; trong giờ học, tôi thường dành cho các em những câu hỏi tư duy, đặc biệt
khích lệ các em bằng lời khen hoặc cho điểm khuyến khích khi các em hoàn
thành các yêu cầu của giáo viên; thể hiện thái độ tin tưởng các em. Đối với học
sinh nhận thức chậm, tư duy kém, tôi thường dành cho các em những câu hỏi,
bài tập đơn giản; đối tượng này cũng rất cần sự khích lệ của giáo viên; khi các
em trả lời chưa chính xác giáo viên cần tránh phê bình chỉ trích mà nên chọn
giải pháp động viên. Với đối tượng học sinh có ý thức học nhưng hổng kiến
thức cơ bản từ những năm trước, tôi dành nhiều thời gian hướng dẫn các em
cách thức tự học, tự ôn tập theo bảng hệ thống kiến thức.
11
Tiếp đó, tôi lên kế hoạch bổ sung kiến thức còn thiếu hụt của học
sinh.Phân công các đôi bạn cùng tiến để các em hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong học
tập.
4.5.2.Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập bộ môn:
Mỗi bộ môn có một phương pháp học khác nhau do vậy việc trang bị
cho học sinh một phương pháp học tập bộ môn cụ thể là vô cùng cần thiết.Với
môn Ngữ văn giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phương pháp học phù hợp
với đặc trưng bộ môn.Như hướng dẫn cho các em cần biết đọc kĩ các văn bản
và các ngữ liệu rồi lần lượt tìm hiểu theo hệ thống câu hỏi sách giáo khoa.
Luôn trau dồi kiến thức văn học của mình qua việc tìm tòi thêm các tư liệu để
đọc và tích lũy tri thức bằng sổ tay văn học. Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát
thực tế để từ đó tưởng tượng tư duy văn học.Đặc biệt là giáo viên cần khơi gợi
này. Mặc dù việc chuẩn bị bài với học sinh trung bình, yếu là rất khó khăn
nhưng nếu người giáo viên tận tình, tâm huyết hướng dẫn cho các em theo hệ
thống câu hỏi chi tiết cụ thể thì việc soạn bài sẽ được các em chú trọng hơn và
hiệu quả của một tiết học cũng tăng lên đáng kể. Giáo viên nên hướng dẫn chi
tiết, đặt yêu cầu cụ thể những nội dung tự học cho tiết học sau, tuần sau rồi
nâng dần yêu cầu ngày càng cao hơn để các em có thời gian và kế hoạch học
trước ở nhà. Muốn học sinh thực hiện tốt khâu chuẩn bị bài, người giáo viên
cũng cần làm tốt công tác chuẩn bị của mình. Bởi nếu giáo viên không cứu
trước bài, không chuẩn bị tốt thì cũng không thể hướng dẫn học sinh chuẩn bị
tốt được. Thực hiện giải pháp này nhằm phát triển cho các em năng lực tự học
và tự giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Từ đó bước đầu dần
hình thành cho học sinh năng lực đọc, hiểu và cảm thụ văn học.
4.5.4.Xác định mục tiêu bài dạy sát đối tượng:
Đối với học sinh trung bình,yếu nếu không xác định rõ kiến thức và kĩ
năng cơ bản cần truyền thụ và khắc sâu thì rất dễ dẫn đến tình trạng quá tải.Do
vậy trên cơ sở chuẩn kiến thức kĩ năng giáo viên cần xác định mục tiêu bài dạy
thực sự sát với đối tượng.Tuyệt đối tránh lối soạn ôm đồm, đưa ra quá nhiều
kiến thức mở rộng, nâng cao khiến học sinh có tâm lí chán nản.Từ việc xác
định mục tiêu dạy sát đối tượng giáo viên thiết kế giáo án sao cho đạt được
mục tiêu đề ra.
Ví dụ: Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương(Tiết 16)
13
Mục tiêu cần đạt theo chuẩn KTKN
Mục tiêu cần đạt với đối tượng học
(Chung cho mọi đối tượng học sinh)
1.Kiến thức:
nữ Việt Nam dưới chế độ cũ và vẻ đẹp nữ Việt Nam dưới chế độ cũ và vẻ đẹp
truyền thống của họ.
truyền thống của họ.
- Sự thành công của tác giả về nghệ
- Nhớ được những thành công của tác
thuật kể chuyện. Mối liên hệ giữa
giả về nghệ thuật kể chuyện. Mối liên
tác phẩm với "Vợ chàng Trương".
hệ giữa tác phẩm với "Vợ chàng
Trương".
2.Kĩ năng:
2.Kĩ năng:
- Vận dụng các kiến thức đã học để
- Đọc- hiểu tác phẩm viết theo thể loại
đọc- hiểu tác phẩm viết theo thể loại
truyền kì.
Nội dung bài giảng phải tinh giản đến mức độ tối đa, song phải đảm bảo
những kiến thức cơ bản, cần thiết và cốt lõi nhất để học sinh nắm được kiến
thức cơ bản của môn học và các yêu cầu hình thành năng lực cụ thể trong từng
tiết học. Không tham kiến thức và tuyệt đối tránh đưa ra những kiến thức khó,
phức tạp, rườm rà. Phải tìm những con đường dễ dàng nhất trong việc giúp
học sinh lĩnh hội kiến thức. Cần chọn cách giảng đơn giản, tăng cường tính trực
quan.Với đối tượng học sinh trung bình, yếu tư duy kém giáo viên cần đơn
giản, cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng, tránh bê nguyên si những định
nghĩa trong sách giáo khoa áp cho học sinh, bắt các em ghi nhớ máy móc.Khi
dạy các khái niệm tôi thường bắt đầu bằng cách giải thích nghĩa gốc của từ một
cách đơn giản.Ví dụ dạy tiết 129 - Nghĩa tường minh và hàm ý -Ngữ văn 9, tôi
đặt câu hỏi: Em hiểu tường minh, hàm ý là gì? Từ đó định hình cho học sinh
một cách hiểu bước đầu thật đơn giản: Nghĩa tường minh là nghĩa rõ ràng, cụ
thể; nghĩa hàm ý là nghĩa bao hàm bên trong từ ngữ.
Cần soạn ra những bài tập vừa sức và chỉ dẫn các em cách làm. Không
đặt ra những câu hỏi quá khó. Cần đưa ra những câu hỏi vừa sức, đơn giản chú
ý câu hỏi gợi mở để khuyến khích học sinh trả lời và tích cực học tập.Đồng thời
phải luôn dự kiến tình huống nếu học sinh không trả lời được hoặc không trả
lời đúng hướng thì phải sử dụng một loạt câu hỏi phụ để gợi mở.
Ví dụ: Khi tìm hiểu văn bản “Đồng chí” của Chính Hữu ( Tiết 45- Ngữ
văn 9)
- Nếu dạy đối tượng học sinh khá, giỏi, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi:
Câu thơ "Đồng chí!" đặt giữa bài thơ có gì đặc biệt?
- Nhưng với học sinh trung bình-,yếu, trước hết, giáo viên nên đưa ra câu
hỏi phát hiện: Em hãy cho biết câu thơ “Đồng chí!” có gì khác với các câu
trên? Câu thơ đó có mối quan hệ như thế nào với các câu trước và các câu sau
không?
Sau khi học sinh chỉ ra sự khác biệt (câu ngắn chỉ có hai tiếng), giáo
viên đưa ra câu hỏi phát hiện tiếp theo: Câu thơ này được đặt sau khi nêu ra
học sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giờ dạy.
4.5.6.2.Trong quá trình giảng bài:
Giữ kỉ cương, nề nếp lớp học là điều cần thiết, song đừng đòi hỏi một kỷ
luật lý tưởng trong giờ học. Hãy kiềm chế, bình tĩnh, kiên trì và mềm mỏng
16
trong việc dạy dỗ học sinh. Cần tạo bầu không khí thân thiện, vui vẻ, cởi mở để
học sinh không bị ức chế, căng thẳng. Biết truyền cảm hứng đến từng học sinh
từ chính tác phong gần gũi, thân thiện và lời giảng thuyết phục,lôi cuốn của cô,
từ đó từng bước xây dựng thái độ học tập đúng đắn cho các em. Cho nên ở
mỗi tiết dạy giáo viên phải là người chủ động tạo không khí thân thiện, thoải
mái giữa thầy và trò bằng nhiều cách khác nhau:
Thứ nhất: cần có cử chỉ, tác phong gần gũi, thân thiện. Sự gần gũi, thân
thiện thể hiện trên nét mặt, ánh mắt, giọng nói, sự quan tâm của giáo viên với
học sinh. Mỗi khi lên lớp, tôi luôn thể hiện thái độ vui vẻ; chú ý, kiên nhẫn lắng
nghe ý kiến, tuyệt đối không ngắt lời hoặc chỉ trích khi học sinh trả lời sai; cố
gắng gạn lọc các ý kiến đúng của các em. Để khích lệ các em tích cực học tập,
tôi thường chia lớp thành các nhóm theo sơ đồ chỗ ngồi, khuyến khích các em
thi đua giữa các nhóm.
Khi học sinh có biểu hiện tiến bộ, dù rất nhỏ, cần được ghi nhận, động
viên khuyến khích ngay. Chẳng hạn khi học sinh trả lời đúng câu hỏi, tôi
thường khen ngợi trước lớp, cộng điểm khuyến khích cho những lần trả bài
kiểm tra miệng lần sau. Khi học sinh xung phong làm bài tập hoặc trả lời kiểm
tra miệng, nếu sai, tôi không ghi điểm mà cho các em cơ hội được gỡ điểm.
Ngoài ra, giáo viên nên phát huy khả năng hài hước để tạo không khí
thoải mải, vui vẻ. Cố gắng kiềm chế khi học sinh không hoàn thành yêu cầu của
giáo viên, tránh lời lẽ phê bình gay gắt hoặc mạt sát.
Với cách làm trên đây, không khí lớp học của tôi luôn vui vẻ, thân thiện.
Các em đón nhận giờ học với tâm lí thoải mái; trong giờ học, các em hăng hái
4. Người đã hai lần cứu Kiều ?
-
8. Tên làng quê hương của Nguyễn Du?
Phân môn Tiếng Việt:
Lồng ghép trò chơi đối với phân môn này là khá phù hợp, đặc biệt trong
các phần luyện tập và bài ôn tập. Trò chơi cần gắn với các bài tập, hoặc các
hình thức thực hành, luyện tập khác do giáo viên thiết kế.
18
Ví dụ: Dạy tiết 106- Bài: "Các thành phần biệt lập"(tiếp theo) phần
Luyện tập, tôi chia lớp thành 2 đội chơi Nam-Nữ chơi trò "Chinh phục đỉnh
Phượng Hoàng" gồm 5 bậc, mỗi bậc ứng với các câu hỏi của sách giáo khoa và
một số bài tập bổ trợ khác.
Luật chơi:
- Đường lên đỉnh Phượng Hoàng phải trải qua 5 bậc. Mỗi bậc tương ứng
với 1 gói câu hỏi. Trả lời đúng mỗi câu hỏi của bậc 1 được 10 điểm, bậc 2 được
20 điểm, bậc 3 được 30 điểm, bậc 4 được 40 điểm, bậc 5 được 50 điểm. Nếu
đội nào không trả lời được thì quyền trả lời thuộc về đội bạn.
Bậc 1: bài tập 1,2 -SGK
Bậc 2: Bài tập 3 -SGK và một bài bổ sung tương đương.
Bậc 3: Ngôi sao may mắn thưởng điểm.
Bậc 4: Thi tiếp sức đặt câu có thành phần gọi đáp.
Bậc 5: Bài tập 5 -SGK
Đội trưởng mỗi đội sẽ được luân phiên chọn gói câu hỏi và trả lời. Giáo
lực kích thích hứng thú của học sinh.Ngược lại kiểm tra đánh giá không đúng,
không chính xác sẽ không phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh.
Do vậy giáo viên phải luôn đổi mới kiểm tra sao cho sát với đối tượng.
Trước tiên, là khâu kiểm tra miệng giáo viên nên linh hoạt hình thức
kiểm tra. Không nhất thiết cứ phải nêu câu hỏi và gọi học sinh trả lời ở 5 phút
đầu giờ mà có thể kiểm tra kết hợp ở giữa giờ, cuối giờ thậm chí nếu học sinh
nào hăng hái tích cực trong giờ có nhiều câu trả lời khá tốt chúng ta cũng nên
20
cho điểm để khuyến khích học sinh. Tăng cường kiểm tra việc học bài ở nhà và
trên lớp của học sinh để kịp thời bổ sung những thiếu hụt về kiến thức. Điểm
kém sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành nhân cách của học trò. Bởi
vậy hãy cố gắng chừng nào có thể để tránh cho các em điểm kém. Hãy tìm mọi
cách cho các em có cơ hội để gỡ điểm bằng cách đổi mới hình thức kiểm tra
đánh giá nhất là kiểm tra miệng bằng nhiều cách như đã nêu ở trên.
Thường xuyên kiểm tra sức học của các em hàng tuần hay hàng tháng để
nắm được kết quả học lực và có hướng rèn luyện cho các em thêm. Ngoài ra,
còn có thể chỉ ra những mặt còn hạn chế của các em và biết khen ngợi sự tiến
bộ của các em dù là nhỏ nhất để từ đó các em tự nguyện cố gắng vươn lên
trong học tập. Trong giờ học hàng ngày, nên khuyến khích các em phát biểu ý
kiến, những suy nghĩ của bản thân dù đúng hay sai giáo viên cũng nên động
viên các em, tránh những nhận xét nặng nề làm tổn thương đến học sinh để từ
đó các em tự tin và mạnh dạn hơn trong học tập.
Đối với việc kiểm tra định kì giáo viên cần lưu ý ra đề kiểm tra bám sát
chuẩn kiến thức kĩ năng và bám sát đối tượng phản ánh đúng chất lượng học
sinh. Do vậy sau khi dạy xong mỗi bài mỗi chương(phần) cần chốt lại kiến thức
cơ bản và có thể khoanh vùng những kiến thức trọng tâm dự kiến kiểm tra,
hướng dẫn học sinh tự ôn luyện.Trước khi làm bài kiểm tra định kì hoặc học kì
nên hướng dẫn học sinh lập đề cương và cho các em kiểm tra chéo lẫn nhau kết
hiện được như trên thì việc học tập của học sinh cũng như việc giảng dạy của
thầy sẽ đem lại hiệu quả thiết thực làm tăng chất lượng đào tạo trong mỗi nhà
trường.
5. Kết quả đạt được:
Qua một thời gian áp dụng những biện pháp nêu trên với học sinh lớp 9 tôi
nhận thấy chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn của các em có những cải thiện
rất đáng kể. Học sinh từ chỗ lười chuẩn bị bài, uể oải trong giờ đến nay đã
chấm dứt việc không soạn bài, không làm bài tập; trong giờ học, các em tập
trung chú ý, hăng hái phát biểu xây dựng bài. Phụ huynh học sinh từ chỗ phó
mặc con em cho nhà trường, đến nay đã quan tâm đôn đốc con em học tập,
nhiều phụ huynh thường xuyên chủ động liên hệ với giáo viên để nắm bắt
22
thông tin về con em mình. Chất lượng các bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra
định kì có chuyển biến tốt
Sau một thời gian thực hiện các giải pháp đã trình bày ở trên, cũng vẫn
lớp 9 đã được điều tra, khảo sát đầu năm, tôi ra đề bài: Suy nghĩ của em về tình
đồng chí, đồng đội của các anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp trong bài
thơ “Đồng chí”. Sau khi chấm, tôi nhận được kết quả:
Kết quả
Trung bình- yếu
%
Số lượng
%
Khá
Tổng số
Số lượng
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1.Kết luận:
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thì không thể không nâng chất
lượng đại trà. Muốn chất lượng đại trà nâng cao thì không chỉ đầu tư vào học
sinh khá,giỏi mà còn tập trung chú ý đến đối tượng học sinh trung bình,yếu.Vì
thế làm sao để có chất lượng tốt trong việc dạy và học môn Ngữ văn ở các lớp
có học sinh trung bình, yếu là một vấn đề vô cùng khó khăn. Đòi hỏi trách
nhiệm của người giáo viên khi đứng lớp cần phải thường xuyên tìm tòi để có
được bài giảng hay phù hợp với đối tượng học sinh. Có như vậy mới khơi dậy
ở học sinh lòng yêu thích môn học.
Thực hiện sáng kiến này với các giải pháp được rút ra từ chính thực tiễn
giảng dạy đã giúp cá nhân tôi nâng cao được hiệu quả trong giờ dạy Ngữ văn ở
lớp có đối tượng học sinh trung bình, yếu. Đồng thời sáng kiến cũng đã được
áp dụng vào việc dạy học trong nhà trường để từng bước nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện.
Qua phần thực tế tiến hành khảo sát việc dạy và học môn Ngữ văn ở các
lớp có đối tượng học sinh trung bình, yếu tôi rút ra một số bài học như sau:
- Người giáo viên đứng lớp cần nắm được thực trạng của việc dạy và học môn
Ngữ văn ở các lớp có đối tượng học sinh trung bình, yếu.
- Hiểu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi cũng như hoàn cảnh và đặc điểm nhận thức
của học sinh.
- Đánh giá được những nguyên nhân của tình trạng học sinh có học lực trung
bình, yếu.
- Để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở các lớp có đối tượng học
sinh trung bình, yếu giáo viên cần phân loại đúng đối tượng học sinh, hướng
dẫn học sinh có phương pháp học tập bộ môn đúng đắn, đổi mới phương pháp
dạy học sát đối tượng học sinh lấy học sinh làm trung tâm.
2.Khuyến nghị :
Qua việc thực hiện sáng kiến này tôi mạnh dạn đề xuất một số khuyến