skkn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thcs qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm - Pdf 37

« GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM »

A. MỞ ĐẦU:
I. Đặt vấn đề.
1.Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết.
Xã hội ngày càng văn minh - hiện đại thì con người phải đối diện với
những mặt trái to lớn từ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đặc biệt là
mối quan hệ giữa người với người. Bởi thế, mà xã hội nói chung và ngành giáo
dục nói riêng đang từng ngày phải đối mặt với những thách thức và cần phải có
những thay đổi để phù hợp với những mục tiêu và hoàn cảnh mới. Làm sao để
đào tạo ra những con người vừa có tri thức khoa học, vừa có kỹ năng làm việc
nhưng cũng phải vừa có những thái độ, hành vi tích cực trong xã hội công
nghiệp đầy năng động ? Đây chính là điều trăn trở của ngành giáo dục trong
những năm gần đây.
Thực tế cho thấy, bên cạnh những thành quả đạt được của toàn ngành thì
gần đây chúng ta đều thấy thực trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng về
bạo lực học đường, về phạm tội, về liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ mắc
các tệ nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình…Đồng thời kỹ năng thực
hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự phục vụ bản
thân cũng giảm…Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, thế nhưng
một trong những nguyên nhân chính phải chăng đó là học sinh ngày nay rất
thiếu về các kỹ năng sống cần thiết ?
Vậy làm thế nào để giúp thế hệ trẻ có được đầy đủ kỹ năng sống cần thiết
? Từ đó giúp các em đứng trước thềm hội nhập quốc tế phải tự tin; năng động
và sáng tạo; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải có một số kỹ năng:
sống khoẻ, sống lành mạnh, sống có ích, giỏi lập trình, giỏi Tiếng Anh…?
Trước đây, trong bối cảnh xã hội truyền thống, con trẻ học cách đối nhân xử thế
thông qua đại gia đình, làng xã, văn hóa dân gian, các chương trình giáo dục
chính quy và không chính quy, … Nhưng dưới những chuyển biến kinh tế xã
hội diễn ra quá nhanh chóng đã hạn chế phần nào chức năng của giáo dục gia
đình và các thiết chế truyền thống. Ngày nay đại đa số gia đình đều mong muốn

con người chân thật của mình tôi đã mạnh dạn đưa những chương trình kỹ năng
sống vào giáo dục các em qua các tiết sinh hoạt chủ nhiệm một cách thành công
trong năm học này. Tuy kết quả mang lại bước đầu được đánh giá là khá tốt
song với mong muốn được chia sẻ và lĩnh hội thêm kinh nghiệm sống của các
bậc phụ huynh, các anh chị đồng nghiệp. Vì vậy thông qua chia sẻ kinh nghiệm
nhỏ bé của mình mà tôi mong được tiếp thu đóng góp những kinh nghiệm quý
báu từ nhiều nguồn để tôi có thể áp dụng nhiều hơn và tạo ra những tình huống
sôi động hơn, thiết thực hơn góp phần vào sự nghiệp trồng người của đất nước.
Đó cũng chính là lý do mà tôi muốn chia sẻ về kinh nghiệm: “GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HS THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM”
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.
- Đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện theo chương trình đào tạo
của Bộ giáo dục và đào tạo đó là giúp các em học để biết, học để làm, học để
tồn tại và học để chung sống. Tăng cường được chất lượng giáo dục ở mọi lĩnh
vực và khẳng định rằng mọi học sinh nhận thức được mục tiêu học tập, phấn
đấu vươn lên nắm tri thức. Thúc đẩy được những hoạt động mang tính xã hội,
phát huy được những nhân tố tích cực, hạn chế được những nhân tố tiêu cực đáp
ứng tốt cho phong trào xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực tạo ra
môi trường giáo dục lành mạnh, trong sạch trong nhà trường.
- Qua việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh đã làm cho các em đổi
mới phương pháp học tập của mình. Từ đó, giúp các em có khả năng học tập tốt
hơn, các tư duy hoạt động của các em được phát triển, các em biết lập luận, tự
tin nắm kiến thức và giải quyết các tình huống trong học tập.
- Thông qua sáng kiến kinh nghiệm, rèn kỹ năng sống tính tự giác, tự
quản của tập thể lớp, nhóm học sinh ngày càng tốt hơn, gắn bó với nhau, giúp
nhau học tập, rèn luyện đạo đức tốt trong nhà trường.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
-Kỷ năng sống của học sinh lớp 7A4 Trường THCS Lương Thế Vinh,
năm học 2015-2016
II. Phương pháp tiến hành.

trong cuộc sống như bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng chống
HIV/AIDS, ma túy…
Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1996, UNICEF đã tổ chức chương trình
“Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV / AIDS cho
thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Từ chương trình đầu tiên này,
chương trình giáo dục KNS dần được mở rộng ra cả về đối tượng lẫn nội
dung.Chẳng hạn như các KNS nhằm giáo dục về quyền trẻ em, sức khỏe sinh
sản, giới tính cho học sinh và trẻ em, đặc biệt là trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em
thiệt thòi và trẻ em gái, hoặc chương trình giáo dục KNS trong vấn đề bảo vệ
sức khỏe, chống bạo lực trong gia đình, xóa đói giảm nghèo cho các chị em phụ
nữ; chương trình giáo dục KNS về phòng chống lạm dụng tình dục, phòng
chống HIV/AIDS với các đối tượng có nguy cơ cao,… Năm 2001, thông qua dự
án “Giáo dục sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên” thực hiện ở
120 trường THCS của 10 tỉnh, thành trong cả nước như: Hà Nội, TP HCM, An
Giang, Hải Phòng, Gia Lai, Quảng Ninh, …, với sáng kiến và hỗ trợ của Quỹ
Nhi đồng Liên hiệp quốc tại Việt Nam, chúng ta cũng đã thực hiện tương đối
bài bản việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và cả trẻ em ở ngoài trường
học…
Riêng với ngành giáo dục thì chương trình rèn luyện kỹ năng sống cũng
triển khai từ rất lâu theo phương pháp lồng ghép vào các môn học như đạo đức,
giáo dục công dân. Tuy nhiên, chương trình rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh được nhấn mạnh gần đây nhất chính là một trong năm nội dung được Bộ
GD-ĐT phát động thực hiện trong phong trào thi đua “xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” năm học 2009-2010.
Song, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đưa bộ môn giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh vào nhà trường từ năm học 2010-2011 và chỉ đạo Viện
Khoa học giáo dục, tổ chức biên soạn bộ tài liệu về giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh qua một số môn học: Địa lý, Ngữ văn, Giáo dục công dân, Sinh học và
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm cung cấp cho học sinh những kỹ
năng cơ bản để ứng phó với những thử thách, khó khăn trong cuộc sống,… để

dục, KNS là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày.” Còn trong bài viết “Khái niệm kỹ năng
sống nhìn từ góc độ tâm lý học”, PGS. Nguyễn Quang Uẩn, ĐH Sư phạm Hà
Nội đã xem xét khái niệm KNS dưới góc độ tâm lý học, tác giả đã phân tích:
Cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của
dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giao tiếp - ứng xử” giữa con
người với con người, đó là hai mặt có mối quan hệ tác động lẫn nhau, tạo nên
cuộc sống đích thực của mỗi con người. Trong hệ thống các kỹ năng cơ bản có
tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người có các KNS. Tác
giả Nguyễn Quang Uẩn lại đưa ra khái niệm về KNS như sau: “KNS là một tổ
hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con
người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia và cuộc sống hàng ngày
có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”. ..
Tóm lại, với nhiều định nghĩa khác nhau nhưng theo các nhà tâm lý giáo
dục, cần trang bị cho học sinh THCS 10 kỹ năng sống cần thiết để phát huy sự
tự tin, năng động, sáng tạo của các em với những kỹ năng cần thiết đó là:
-Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc,
-Kỹ năng tự phục vụ bản thân,
-Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả,
-Kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời,
-Kỹ năng giao tiếp và ứng xử,
-Kỹ năng đánh giá và phân biệt hành vi,
-Kỹ năng thể hiện tự tin trước đám đông,
-Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống,
-Kỹ năng hợp tác, chia sẻ,
-Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân.
Trong phạm vi của đề tài và với những gì đã làm được, tôi xin chia sẻ
những kỹ năng sống để giáo dục và rèn luyện cho học sinh như:
+ Kỹ năng giải quyết các tình huống đặc biệt khó khăn trong cuộc sống.
+ Kỹ năng giao tiếp và thương thuyết

sống...
Để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thành công hay không, phụ thuộc
rất lớn vào tư chất, đạo đức và năng lực của thầy giáo, cô giáo. Muốn giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh tốt, trước hết, mỗi thầy giáo, cô giáo phải giáo dục
cho học sinh bằng sự nêu gương. Thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu trong ứng
xử, trong giáo dục nhân cách. Trước hết, phải chấm dứt những hành động bạo
lực, những ứng xử thiếu văn hoá của thầy giáo, cô giáo đối với học trò. Có như
vậy, thầy giáo, cô giáo mới cung cấp cho học sinh những kỹ năng sống mà mình
đã trải qua. Việc giáo dục này có thể bằng những nội dung trong giáo án, hoặc
bằng những nội dung ngoài giáo án. Để mục tiêu này đạt hiệu quả, thì đội ngũ
giáo viên cần phải có nghiệp vụ sư phạm giỏi. Có nghiệp vụ giỏi, thì ngay cả
giờ dạy Toán, Vật lý, Tiếng anh,… giáo viên cũng dạy cho học sinh kỹ năng
sống theo cách của mình. Hay với những tiết sinh hoạt cuối tuần, thay vì chỉ la
mắng học sinh bị phạm lỗi trong tuần, GVCN có thể thay đổi hình thức bằng
cách cùng học sinh trong lớp giải quyết vấn đề, cho học sinh phạm lỗi nhận thấy
cái sai của mình, tự nhận khuyết điểm và sữa chữa để vươn lên đó cũng là một
trong những kỹ năng sống cần thiết. Tuy nhiên, qua đó giáo viên phải nhận thấy
trách nhiệm của mình đối với việc giáo dục học trò, không nên xem việc giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh là vấn đề tạo nên gánh nặng công việc mà điều
quan trọng là biết cách kết hợp, lồng ghép để truyền đạt nội dung sao cho hiệu
quả nhất.
Mặt khác, khi phân tích tâm lý của lứa tuổi học sinh THCS, lứa tuổi từ
11-14, theo Tiến sĩ tâm lý Nguyễn Minh Hải-Trường ĐH Sư phạm Hà Nội thì
lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng to lớn trong thời kỳ phát
Gv: Lê Văn Bình

Tr 5


« GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM »

thầy và trò khi các em mắc lỗi thường các thầy, cô giáo hay dùng hình thức
trách phạt, kỷ luật mà ít khi lắng nghe các em giải bày... Nay với việc chú trọng
rèn kỹ năng sống cho học sinh mà đòi hỏi cần có sự ân cần chỉ bảo, phân tích,
nghe các em nói lên những suy nghĩ, dẫn đến việc làm chưa phù hợp với chuẩn
đạo đức người học sinh. Việc giáo dục đạo đức, hình thành các kỹ năng sống tối
thiểu của các em đã được lồng ghép trong các chương trình học tập, được tích
hợp trong các bộ môn và còn được trải nghiệm qua thực tế cho nên gây được
hứng thú cho các em trong việc tu dưỡng đạo đức, hướng thiện và nâng cao
được năng lực học tập, sáng tạo. Từ đó, các em có nhận thức đúng đắn trong
việc thực hiện nội qui, qui định của nhà trường và tự giác thực hiện.
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 9 đến tháng 1 năm học 2015-2016

Gv: Lê Văn Bình

Tr 6


« GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM »

B. NỘI DUNG:
I. Mục tiêu:
1. Nêu rõ nhiệm vụ của đề tài
- Thấy được thực trạng kỹ năng sống của học sinh THCS Lương Thế
Vinh nói riêng và học sinh THCS thành phố Quy Nhơn nói chung. Từ đó, tìm ra
một số giải pháp giúp học sinh có kỹ năng sống tốt hơn và trở thành con người
linh hoạt, sáng tạo, có văn hóa. Biết xử lý các tình huống một cách đúng đắn,
khoa học hợp với đạo lý người Việt Nam.
- Giúp học sinh thích ứng với cuộc sống xã hội hiện tại, với những tác
động của tự nhiên, xã hội. Thúc đẩy các em học sinh tham gia các hoạt động
mang tính xã hội, phát huy nhân tố tích cực, hạn chế nhân tố tiêu cực, xây dựng

chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm còn phải kiêm thêm nhiều công việc không
tên khác từ việc học đến nề nếp, tâm tư tình cảm, giải quyết những tình huống
phát sinh của học sinh trong lớp. Vì thế, ngoài việc đầu tư vào môn dạy của
mình sao cho vừa đảm bảo nội dung lên lớp vừa tạo sự hấp dẫn, sáng tạo, mới
mẻ… có phương pháp giáo dục hợp lý, linh hoạt, hiểu biết tâm lý học sinh. Và
điều không thể thiếu là phải có tâm huyết và tình yêu thương đối với học sinh.
Gv: Lê Văn Bình

Tr 7


« GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM »

Hiện nay văn hoá giao tiếp trong nhà trường mới chỉ được quan tâm một
chiều (mối quan hệ trò - thầy), mối quan hệ giữa thầy - thầy, trò – trò chưa được
quan tâm đúng mức. Và vì thiếu kỹ năng sống nên học sinh giải quyết mâu
thuẫn bằng “tay”.
Ngoài ra, có rất nhiều yếu tố làm “rạn nứt” mối quan hệ bạn bè trong học
sinh hiện nay. Những rạn nứt đó bắt nguồn từ những biểu hiện không đẹp trong
giao tiếp học đường như sử dụng từ ngữ cục cằn, tiếng lóng… những phân biệt
đối xử với các học sinh trong lớp đến những quy định “có lợi cho người lớn và
bắt chẹt trẻ con”. Cụ thể nhất đó là các giáo viên thường quy định học sinh cấm
sử dụng điện thoại trong giờ học. Nhưng trong giờ, điện thoại của thầy cô lại đổ
chuông. Thầy nói lý do người lớn có nhiều việc quan trọng!?
“Quy định đặt ra chỉ áp dụng với học sinh, còn với các thầy thì sao? Thật đáng
tiếc vẫn còn những người thầy chưa gương mẫu và “quên” cảm nhận, xúc cảm
của học sinh, luôn cho mình là người có quyền muốn làm gì thì làm”.
-Vai trò giáo viên chủ nhiệm mờ nhạt: Không thể thiếu vai trò của nhà
trường trong giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, đặc biệt là vai trò của giáo
viên chủ nhiệm. Nhưng hình ảnh của người giáo viên chủ nhiệm “như mẹ hiền”

Gv: Lê Văn Bình

Tr 8


« GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM »

-Mặc dù, hiện nay chúng ta trong thời đại Công nghệ-Thông tin và hội
nhập quốc tế, HS có những hiểu biết khá phong phú nhờ truy cập Internet,
nhưng kỹ năng sống của các em còn nhiều hạn chế. Ở lứa tuổi bắt đầu " bước
vào đời", bắt đầu sống độc lập, làm việc và sẽ có những va chạm xã hội, các em
cũng rất cần được trau dồi kỹ năng sống. Một trong những nội dung quan trọng
của phong trào thi đua " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" là
việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để cung cấp kiến thức về kỹ
năng sống cho học sinh. Đặc biệt cho học sinh nữ nhằm giúp các em có kỹ năng
tự bảo vệ trước những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởng đến sứa khỏe và an
toàn cuộc sống như: kỹ năng nhận diện một vấn đề, biết cách xác định tình
huống, biết cách từ chối, kỹ năng xử lý mâu thuẫn, kỹ năng ra quyết định, biết
nấu ăn, tự chăm sóc sức khỏe...
Theo một nghiên cứu mới được ngành giáo dục công bố, có trên 95% các
em nhận thức chưa đúng về kỹ năng sống; 77,7% chưa bao giờ được đào tạo,
tập huấn về kỹ năng sống; 76,4% trả lời rất cần được tập huấn kiến thức về kỹ
năng sống. Hầu hết các em lúng túng khi trả lời hoặc chưa biết cách xử lý các
tình huống thường gặp trong cuộc sống.
Từ kết quả này cho thấy, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày
càng trở nên thiết yếu nhằm góp phần đào tạo “con người mới” với đầy đủ các
mặt “đức, trí, thể, mỹ”, “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” hay “nhân, nghĩa, trí, dũng,
liêm”… Nhưng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phải phù hợp với lứa
tuổi, cấp học, văn hóa của từng vùng… sao cho học sinh cảm thấy gần gũi với
cuộc sống của bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, chứ không chỉ trên sách


em những kỹ năng sống cần trang bị cho lứa tuổi thiếu niên. Vào đầu năm học,
tôi hướng dẫn cho các em việc học tập ở nhà như thế nào, trao đổi phụ huynh
nên theo dõi, động viên các em vì nội dung học ở trung học cơ sở ngày càng
khó. Cha mẹ nên quan tâm tới con trong việc học tập, tránh tối đa việc xỉ vả,
mắng nhiếc khi con không hoàn thành yêu cầu của thầy cô và của bố mẹ vì ở
tuổi này, các em rất dễ bị tự ái.
+ Gắn với các hoạt động học tập như: Những người yêu thích văn học, câu lạc
bộ thơ văn, những nhà Vật lí, Toán học trẻ, Sinh học và môi trường, thi tìm hiểu
theo chủ đề ,….
+ Gắn với các hoạt động giáo dục thể chất như: Bóng đá, bóng chuyền , cầu
lông, võ dân tộc, du lịch (leo núi, bơi lội .), trò chơi dân gian,…
+ Gắn với các hoạt động giáo dục thẩm mĩ như: hát múa, hát dân ca, vẽ, thơ,
kịch, đặc san, báo tường, báo tập …..
-Hình thức giáo dục kỹ năng mới trong nhà trường:
+ Vào những buổi sinh hoạt đầu tuần, sinh hoạt lớp, giáo viên chủ nhiệm nhắc
nhở từng lời nói, hành vi ứng xử, tình đoàn kết, thân ái…
+ Thầy giáo nhiệt tình, giàu lòng nhân ái, chịu khó lắng nghe tâm tư, bức xúc
của học trò và có khả năng tư vấn, giải đáp, thật sự cảm thông, chia sẻ nhằm
giải tỏa tâm lý của chúng. Khi phát hiện có dấu hiệu bất thường hay có những
thông tin cần giải quyết, học sinh sẽ báo cáo với giáo viên chủ nhiệm để kịp thời
xử lý, tránh những hành vi sai lệch trong cuộc sống. Học sinh muốn được chia
sẽ có thể gởi thư đến GVCN qua hộp thư “cùng chia sẻ” tại địa chỉ mail mà
GVCN cung cấp, nhờ bạn khác gởi hoặc trao đổi trực tiếp với giáo viên chủ
nhiệm để được tư vấn. Bằng những cách ấy tôi đã nhận được 20 thư cần tư vấn,
giải đáp và rất nhiều lần học sinh trực tiếp gặp giáo viên tôi để tư vấn trong giờ
sinh hoạt, lúc ra chơi, cuối buổi học để trao đổi những việc liên quan đến tập thể
lớp hay chính bản thân các em, giúp các thành viên kịp thời nắm bắt những sự
việc sắp xảy ra trong nội bộ học sinh để có biện pháp ngăn chặn, khuyên nhủ,
động viên. Dần dần học sinh có ý thức chống tiêu cực trong trường, lớp, góp

thiện, gia đình thân thiện, cộng đồng thân thiện. Ngoài ra, việc đẩy mạnh phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” cũng là giải
pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho học sinh. Tóm
lại, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phải từ những việc cụ thể...
-GD KNS đòi hỏi nghành giáo dục và cả xã hội phải quan tâm: Giáo
dục KNS trong trường học góp phần rèn luyện, hình thành cho các em sống có
trách nhiệm hơn và biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó các sức ép,
thách thức trong cuộc sống; thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỷ lệ
phạm pháp. Giáo dục KNS còn tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy,
trò, sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục. Học sinh được giáo dục KNS xác định được bổn phận và
nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội. Giáo dục KNS không
chỉ giúp học sinh học từ giáo viên mà còn học từ các bạn cùng lớp thông qua
các trò chơi, học tập và làm việc theo nhóm. Thực tế chương trình giáo dục
KNS cho học sinh ở nước ta được thực hiện từ lâu qua việc đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông; tích hợp nội dung giáo dục KNS trong một vài môn
học và các chương trình, dự án giáo dục KNS.
-Vai trò của Giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục kỹ năng sống: Căn cứ
vào nội dung chương trình của Bộ GD&ĐT, đồng thời thấy được tính thiết yếu
của việc giáo dục này, tôi đã:
- Tăng cường giáo dục kỹ năng sống thông qua các hình thức dạy học của
mình, đồng thời lồng ghép vào các giờ sinh hoạt để giáo dục đạo đức và nhân
cách cho học sinh trong và ngoài nhà trường.
- Xây dựng quy chế hành vi giao tiếp giữa "Thầy với thầy, trò với trò,
thầy với trò" gần gũi thân thiện, rèn luyện kĩ năng ứng xử văn hóa, lên án mọi
hành vi bạo lực học đường và xã hội.
- Thường xuyên liên hệ với cha mẹ học sinh, kịp thời nắm bắt thông tin,
diễn biến tâm sinh lí của học sinh, thông qua các hoạt động hưởng ứng phong
trào " Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực" để rèn luyện cho học
sinh kỹ năng ứng xử, rèn luyện sức khỏe, ứng xử văn hóa, phòng chống bạo lực,

năng làm việc đồng đội, các em được trang bị lý thuyết cụ thể, rồi thực hành để
hiểu. Với kỹ năng làm việc đồng đội, các em được tập làm việc để biết cách hợp
tác và chấp nhận lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. . Mục đích quan trọng nhất là
giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống, đây là điều rất cần thiết
trong cuộc sống của các em sau này.
- Ngoài ra, tôi có đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống của HS cho các bậc
phụ huynh vào những lần họp phụ huynh; cung cấp cho các bậc phụ huynh
những kiến thức và phương pháp chăm sóc, giáo dục con em phù hợp với đặc
điểm từng độ tuổi, đặc biệt phát hiện sớm những biểu hiện rối loạn tâm thần ở
HS, các bệnh tật học đường; cung cấp địa chỉ những dịch vụ hỗ trợ tại cộng
đồng để giúp gia đình và xã hội tham gia chăm sóc giáo dục con em tốt hơn.
- Trong thời gian gần đây hay nhắc đến vấn đề thiếu kỹ năng sống trong
HS, trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Vì vậy tôi trang bị cho các em một nhận
thức mới rằng: Sống trong xã hội, thì ai cũng có thể có những sai lầm và bất cứ
lúc nào, ở đâu đó cũng sẽ có những hành vi không chuẩn mực, vì thế các em
phải biết bảo vệ mình, biết cảnh giác, có óc hoài nghi một cách khoa học, không
phải hoài nghi bi quan, xa lánh và phản biện. Nhưng không chỉ các em mà cả
nhiều bậc phụ huynh, thậm chí ngay cả các thầy cô giáo cũng đang thiếu kỹ
năng này. Muốn như thế, chính các bậc phụ huynh, thầy cô cũng phải tự trang bị
cho mình kỹ năng sống, không được suy nghĩ một cách chủ quan và hời hợt.
Phải khẳng định rằng nhà trường không có trách nhiệm phải bồi dưỡng, trang bị
những kỹ năng sống cho các giáo viên để dạy họ phải biết ứng xử với học sinh.
Nhưng bản thân các thầy cô, các ban ngành đoàn thể và các bậc phụ huynh phải
có trách nhiệm trang bị cho nhau những kiến thức này.
- Học và rèn luyện kỹ năng sống là ưu tiên hàng đầu của HS trong độ tuổi
từ đầu cấp I đến hết cấp III mà Bộ GD&ĐT đã quan tâm. Bên cạnh những kiến
thức văn hoá được trang bị, hầu hết các bậc phụ huynh đều muốn con cái ngày
càng tự lập và được đào tạo từ bé. Những kỹ năng sống rất quan trọng nhưng
các em không được học trong nhà trường, vì coi học văn hoá là quan trọng.
Nhưng nếu các em không biết chủ động, độc lập thì điều đó còn nguy hiểm hơn

tiến bộ và đạt hiệu quả đến đâu, phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ thầy cô giáo,
cách giáo dục mỗi trường, văn hoá sống của mỗi gia đình.
MINH HỌA CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ ĐỂ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH .
1. Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt 15 phút và buổi sinh hoạt cuối tuần : Trong các biện pháp để giáo dục KNS cho HS trong công tác chủ nhiệm tôi coi trọng biện
pháp này nhất. Bởi thời gian để GVCN tiếp xúc nhiều nhất với HS là thông qua các buổi sinh hoạt 15 phút và sinh hoạt cuối tuần.

a. Lồng ghép chương trình giáo dục kỹ năng sống trong những buổi sinh hoạt 15 phút
đầu giờ. Đây là giải pháp quan trọng. Trong suốt năm học, GVCN là người thường xuyên bám lớp trong những giờ sinh hoạt 15 phút đầu giờ. Vì vậy việc lồng ghép giáo
dục KNS cho học sinh là việc làm bổ ích, tránh được những buổi sinh hoạt nhàm chán, lặp đi , lặp lại, mà lại gây được hứng thú cho HS trong những buổi sinh hoạt 15
phút, đồng thời, giáo dục được KNS cho HS. Trong buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ thời gian ít. Vì thế, GVCN có thể áp dụng các phương pháp giáo dục KNS như; thảo
luận nhóm, động não, nghiên cứu tình huống, hoặc tổ chức những trò chơi (có thời gian ngắn.)

b. Phương pháp hoạt động nhóm: Tổ chức tốt phương pháp này, GVCN sẽ tạo cơ hội cho HS tự tin, thoải mái chia sẻ sự hiểu
biết của mình với người khác. Đồng thời, tiếp nhận sự phê phán, góp ý của bạn, giúp cho sự hiểu biết của HS trở nên sâu sắc hơn, toàn diện hơn giúp cho buổi sinh
hoạt trở nên sôi nổi, hứng thú. Tuy nhiên phương pháp này sẽ gây ra sự ồn ào, mất trật tự cho các lớp bên cạnh, đặc biệt dễ gây sự nhàm chán cho một số HS. Do đó
yêu cầu, GVCN phải làm tốt những việc sau:
- Phải tạo ra một không khí thảo luận cởi mở, tôn trọng lẫn nhau giữa HS với

nhau.
- Vấn đề được đưa ra để HS thảo luận phải phù hợp với lứa tuổi, phải khơi gợi
được khả năng tư duy phê phán, khả năng sáng tạo của HS.
Ví dụ1: *Khi giáo dục kỹ năng “tự nhận thức giá trị bản thân”. GVCN cho HS
tiến hành các hoạt động nhóm trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ
Hoạt động : Chia sẻ về tự nhận thức bản thân GV phát các tờ rơi in sẵn mệnh đề
- Sở thích của em là gì ?(đọc báo, xem TV, xem bóng đá )
- Cuốn truyện/ sách, chương trình TV mà em thích nhất ?
- Điểm mạnh và năng khiếu của em là gì ?
- Ai là người bạn thân nhất của mình ? Người đó như thế nào ?Có đặc điểm gì
nổi bật ?

chuẩn bị được những trò chơi có nội dung phù hợp với thời gian ngắn, hấp dẫn, ít gây sự xáo trộn trong tổ chức lớp. Ví dụ: Khi giáo dục kỹ năng lựa chọn và quyết định,
GVCN tổ chức cho HS chơi trò chơi “Tập làm thơ lục bát” trong vòng 15 phút. Chia lớp thành bốn tổ, GVCN ra nhan đề cho bài thơ “ Trường em”. GVCN mở đầu bằng
câu thơ “Trường em rợp mát bóng cây”. Sau đó,các em viết tiếp các câu thơ sau theo logic của câu trước thành một bài thơ.

4. Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt cuối tuần : Phần lớn các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hiện nay chủ yếu được thực hiện
dưới hình thức là tổng kết, đánh giá và đề ra phương hướng tuần tới. Hình thức sinh hoạt này dễ gây cho học sinh sự nhàm chán, đặc biệt là gây áp lực về các lỗi mà
các em mắc phải trong tuần qua. Vì lẽ đó mà một số em cảm thấy không thích tiết sinh hoạt chủ nhiệm, thậm chí là sợ hãi. Người thầy chủ nhiệm trong quá trình đánh
giá ưu khuyết điểm của học sinh trong tuần vừa qua thường chủ quan xem việc vi phạm nội quy và những biểu hiện chưa tốt của học sinh là do các em không cố gắng,
đôi khi xem đó là biểu hiện đạo đức không tốt. Biện pháp thường được áp dụng là xử lí kỉ luật, làm tờ tự kiểm và đôi lúc là hạ hạnh kiểm. Điều này dễ dẫn đến việc học
sinh không tin vào thầy cô, bạn bè và có khi là không tin vào bản thân mình. Các em cần sự hướng dẫn và giáo dục của giáo viên chủ nhiệm. Trong tiết sinh hoạt lớp,
GVCN sẽ cung cấp cho học sinh những hiểu biết thông qua các hoạt động sinh hoạt chuyên đề sinh động và vui nhộn. Sự sinh động và hứng thú của việc được tham gia
vào các hoạt động có liên quan sẽ giúp học sinh nâng cao ý thức một cách tự nhiên và dễ dàng. Cũng nhờ vào các hoạt động này cùng với sự tin tưởng và sẻ chia của
thầy cô mà các em sẽ có được niềm tin, định hướng và nghị lực để phát triển nhân cách.

GVCN xử lý hành vi vi phạm của HS phải gắn việc giáo dục kỹ năng
sống , xử lý khoa học, nhẹ nhàng nhưng phải nghiêm khắc, gắn với kỷ luật. Ví
dụ: Trong buổi lao động của lớp , mặc dù tôi đã phân công cụ thể cho từng tổ
nhưng trong quá trình thực hiện, một số HS vẫn còn đùn đẩy nhau, dẫn đến
công việc hoàn thành không đúng kế hoạch. Mặc dù rất bực bội nhưng tôi
không nói gì. Vào buổi sinh hoạt cuối tuần tôi đã gọi lớp trưởng trình bày lý do,
lớp trưởng cho biết: Một số bạn đến muộn hơn nên các bạn đến sớm chừa lại
phần việc cho các bạn ấy làm. Tôi dùng phương pháp giáo dục KNS “ nghiên
cứu tình huống”, bình tĩnh kể cho HS nghe mẫu chuyện “ sức mạnh” và nhấn
mạnh lời người cha căn dặn con “ trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta
cũng có thể tự mình làm tất cả mọi việc. Sức mạnh của chúng ta còn nằm ở
những người thân, bạn bè - những người luôn quân tâm nhau.
II. Mô tả giải pháp của đề tài.
1. Thuyết minh tính mới:
Trong nhà trường THCS cần nhận thức đầy đủ về việc rèn kỹ năng sống
cho học sinh nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện chương trình giáo

học sinh trong việc thực hành rèn kỹ năng sống chúng ta cần lắng nghe ý kiến
của học sinh. Việc rèn kỹ năng sống cho học sinh phải thường xuyên diễn ra
trong các tiết học chính khóa, ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, có thể nói ở bất cứ
đâu khi có điều kiện, khi có tình huống chúng ta cũng cần phải quan tâm.
2. Khả năng áp dụng.
- Qua một năm thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua
các tiết sinh hoạt đầu giờ và sinh hoạt cuối tuần tôi đã bước đầu giúp học sinh
rèn các kỹ năng cơ bản. Các em thường hoạt động nhóm, đã giúp các em tiến bộ
về kỹ năng hợp tác, giao tiếp ứng xử, lắng nghe, đánh giá….có trách nhiệm, có
kỹ năng quản lý về thời gian trong học tập tốt hơn.
Bằng phương pháp khác: giúp các em làm việc với SGK, thực hành, sưu
tầm thu thập kiến thức, rèn kỹ năng tự học, tìm kiếm xử lý thông tin tốt hơn.
Biết vận dụng kiến thức đã học để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe,
giải thích các hiện tượng thực tiễn, biết giúp đỡ, đoàn kết, duy trì cuộc sống an
toàn…
Bên cạnh đó khi thực hiện chuyên đề chúng tôi nhận thấy còn có tồn tại
phải khắc phục đó là khả năng đánh giá, kiểm tra mức độ rèn luyện của học sinh
là rất khó khăn. Hơn nữa, do thời gian thực hiện còn hạn chế nên mới chỉ góp
phần rèn luyện được một số kỹ năng cơ bản trong 10 nhóm kỹ năng.
-Vấn đề “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở qua các tiết
sinh hoạt chủ nhiệm”mà bản thân tôi - giáo viên chủ nhiệm đã đúc kết
được.Theo tôi, kinh nghiệm này có khả năng áp dụng cho GVCN của trường
THCS Lương Thế Vinh. Nếu hiệu quả của kinh nghiệm có tính bền vững và
được sự cho phép của BGH, Phòng Giáo dục và đào tạo Quy Nhơn có thể chia
sẻ sang các trường trong thành phố.
3. Lợi ích kinh tế-xã hội.
Nếu thực hiện tốt kinh nghiệm “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trung học cơ sở qua các tiết sinh hoạt chủ nhiệm” thì chất lượng giáo dục của
nhà trường tăng lên ở nhiều mặt.Nó còn tác động tích cực đến xã hội; cải thiện
môi trường học tập của học sinh.

thủ (của tất cả mọi người) đối với pháp luật, bằng việc coi trọng các giá trị
truyền thống.
Làm được như vậy, tôi nghĩ rằng Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
không những không làm quá tải trong chương trình giáo dục mà còn đem đến
cho người học sự hứng thú, sôi nổi và niềm vui trong học tập. Người học đã
hứng thú và tự giác thì chắc chắn việc giáo dục kỹ năng sống cho người học sẽ
thực chất và hữu ích, mục tiêu giáo dục toàn diện sẽ đạt được hiệu quả như
mong muốn. Vì vậy tôi xin đề xuất mấy vấn đề sau:
- Rèn kỹ năng sống cho Học Sinh là trách nhiệm chung của Giáo Dục, Nhà
trường và toàn xã hội do đó:
+ Với Phụ Huynh Học Sinh: Là cái nôi để hình thành nhân cách cho trẻ; cha mẹ
cần quan tâm nhiều hơn tới con mình, làm bạn cùng con để hiểu con và rèn con.
+ Với Giáo Viên: Luôn tự rèn luyện, tự bồi dưỡng và cần được tập huấn qua
giáo trình bài bản hơn.
+ Với Học Sinh: Phải ý thức được cách tự rèn luyện bản thân, ép mình vào kỷ
luật để hòa nhập vào nội quy trường lớp, nội quy xã hội…
+ Với xã hội và nhà trường: luôn phấn đấu tạo nên môi trường an bình, tạo sân
chơi bổ ích thường xuyên cho Học Sinh.
Tóm lai, Rèn kỹ năng sống cho Học Sinh THCS là 1 yêu cầu quan trọng
và thiết yếu trong công tác giáo dục hơn nữa giáo viên THPT được xem là
người quan trọng trong công tác này (là người tạo được không khí thân thiện
với học sinh, với gia đình và mọi người).Rèn kỹ năng sống là một quá trình đưa
nhận thức thành hành động (hành vi) do đó phải là việc làm thường xuyên, lồng
ghép qua đổi mới phương pháp và qua nhiều môn học,qua nhiều hoạt động khác
nhau trong trường .
Quy Nhơn, ngày 15 tháng 1 năm 2016
Người viết

Lê Văn Bình


PHẦN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP
********************
1. Hội đồng khoa học trường THCS Lương Thế Vinh:
 Thống nhất xếp loại : ...................................................
Chủ tịch HĐKH

Gv: Lê Văn Bình

Tr 18


« GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS QUA CÁC TIẾT SINH HOẠT CHỦ NHIỆM »

2. Hội đồng khoa học ngành giáo dục Quy Nhơn:
 Thống nhất xếp loại:............................................
Chủ tịch HĐKH

Gv: Lê Văn Bình

Tr 19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status