skkn một số biện pháp chỉ đạo giáo dục đạo đức học sinh ở một trường THCS miền núi gặp nhiều khó khăn - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục đạo đức học sinh ở một
trường THCS miền núi gặp nhiều khó khăn.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý giáo dục.
3. Tác giả:
-Họ và tên: Chu Ngọc Lan

Nam (nữ): Nữ

-Ngày tháng/năm sinh: 29/6/1969
-Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Quản lý giáo dục.
-Chức vụ: Phó hiệu trưởng.
-Đơn vị :Trường THCS Nguyễn Trãi
-Điện thoại: 0986145584
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu :
-Tên đơn vị: Trường THCS Nguyễn Trãi
- Địa chỉ: Phường Bến Tắm - Thị xã Chí Linh- Tỉnh Hải Dương
-Điện thoại: 03203887113
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng hỗ trợ giảng dạy và học tập.
- Sự ủng hộ hợp tác của các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường.
- Đặc biệt là tác nghiệp từ phía đồng nghiệp và các em học sinh.
6. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 8 năm 2011 đến tháng
2 năm 2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ :

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Chu Ngọc Lan


Các em học sinh trong phạm vi quản lý của nhà trường.
2


3. Nội dung sáng kiến:
Công tác quản lý chỉ đạo giáo dục đạo đức cho học sinh không phải là vấn
đề mới trong hoạt động giáo dục. Trong sáng kiến này là những kinh nghiệm
đúc kết của bản thân trong quá trình quản lý của một trường THCS miền núi
còn gặp nhiều khó khăn. Nếu như trước đây, công tác chỉ đạo giáo dục đạo đức
cho học sinh đôi lúc còn nặng về phương pháp truyền thống, chưa tạo được cho
đối tượng giáo dục tư tưởng thoải mái, tự giác thì trong sáng kiến này, tôi đã
mạnh dạn trình bày những giải pháp đã được áp dụng và có kết quả tốt trong
giáo dục đạo đức cho học sinh.
Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi với tất cả các trường THCS vì tất cả
các bước thực hiện trong sáng kiến này đều phù hợp với điều kiện của đối
tượng giáo dục là các em học sinh THCS.
Khi nhiệm vụ giáo dục đạo đức của nhà trường được thực hiện thành công
sẽ đem lại nhiều lợi ích: Bản thân học sinh sẽ có tính tự giác cao mọi nơi mọi
lúc. Các em tạo cho mình ý thức học tập tốt từ đó nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện. Người quản lý khi áp dụng những phương pháp quản lý mới này sẽ
tạo cho nhà trường sự thống nhất cao trong giáo dục vì nhiệm vụ giáo dục là sự
tổng hòa các nhân tố, các lực lượng giáo dục cùng thống nhất mục tiêu sẽ tạo
được hiệu quả giáo dục cao.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Qua một quá trình áp dụng sáng kiến có thể khẳng định chất lượng giáo
dục đạo đức trong trường đã có sự chuyển biến rõ rệt. Các em học sinh thuộc
đối tượng học sinh cá biệt giảm hẳn. Ý thức đạo đức đại đa số học sinh ngoan
hơn. Học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt và khá tăng so với những năm học trước.
Số học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình giảm.
5. Đề xuất, kiến nghị để mở rộng sáng kiến:

bậc học THPT hoặc tham gia lao động.
Tuy nhiên, lứa tuổi THCS bao gồm độ tuổi từ 11-15 tuổi. Lứa tuổi này có
một vị trí đặc biệt được gọi bằng những tên gọi “Thời kì quá độ”, “ Tuổi khủng
hoảng”, “ Tuổi khó bảo”…Những tên gọi khác nhau đó nói lên tính phức tạp và
tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ em. Vấn đề
4


đặt ra trong trường THCS là có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển trở thành
người hữu ích cho xã hội. Muốn vậy, trước hết các em phải có nhân cách đạo
đức tốt được hình thành trên cơ sở tự rèn luyện của bản thân khi được giáo dục
trong mỗi nhà trường.
Tuy vậy, thực tế hiện nay, ở hầu hết các trường THCS đều xuất hiện một
bộ phận học sinh vi phạm nội quy, mức độ vi phạm ngày càng nặng hơn. Một
bộ phận khác thì mải chơi, lười học, chưa có ý thức tự giác trong học tập…
Đây là vấn đề khiến cho các nhà quản lý băn khoăn, trăn trở tìm cách tháo gỡ
làm thế nào để giáo dục đối tượng học sinh này.
Trước thực trạng là một trường THCS miền núi còn gặp nhiều khó khăn,
trình độ nhận thức của học sinh và phụ huynh còn có những hạn chế, làm thế
nào để chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ngày càng được nâng cao là
vấn đề mà bản thân là người làm công tác quản lý như chúng tôi hết sức quan
tâm.
Chính từ hoàn cảnh cụ thể như trên, với kinh nghiệm quản lý đã nhiều
năm, tôi đã đúc kết lại một số biện pháp quản lý chỉ đạo giáo dục đạo đức cho
học sinh cấp THCS. Mục đích của sáng kiến là từ những thực tế được trải
nghiệm, mong muốn kinh nghiệm được nhân rộng, từ đó nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện cho học sinh.

2. Cơ sở lý luận của vấn đề:
5

Việt Nam số 38/2005/QH 11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 quy định rõ về mục
6


tiêu giáo dục “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc”.
Bác Hồ từng dạy “Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là
đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc quan trọng. Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ
không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc
sống xã hội bình thường, ổn định…”
Chính từ xác định mục tiêu quan trọng trong giáo dục đạo đức nhân cách
cho học sinh mà Đảng ta chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục
tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác- Lê Nin, đưa việc giáo dục tư
tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học…”
Chúng ta không thể đẩy công cuộc xây dựng đất nước trên cơ sở một nền
giáo dục yếu kém. Nhiệm vụ của công tác giáo dục là phải đào tạo thế hệ trẻ
thành những con người mới XHCN có đạo đức trong sáng , có ý chí kiên cường
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có kiến thức văn hoá, làm chủ tri thức khoa học
công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong
công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật cao,có sức khoẻ, là những người thừa kế
xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời dạy của Bác Hồ.
Năm học 2014- 2015 nghành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thực hiện có
hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và
sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực”. Một nhiệm vụ trọng tâm nữa là tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động giáo dục. Để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học thì việc nâng

17

Trình độ CM
Trên
ĐH

ĐH
0
15
2

Độ tuổi
Trên
Từ
Dưới
50
40-50
40
4
5
8

Số năm chủ nhiệm
Trên Dưới
5 năm
5 năm 5 năm
4
10
3


35
21
33
113

HS mồ
côi
3
2
3
4
12

Bố mẹ
li hôn
5
6
4
6
21

Hộ
nghèo
5
6
4
5
20

Khuyết

trường, con nhỏ, do vậy việc đến gia đình học sinh để tìm hiểu cụ thể hoàn
cảnh còn một số hạn chế.
Về phía học sinh: Với thực tế là một trường THCS miền núi, nhiều gia
đình học sinh còn gặp hoàn cảnh khó khăn. Do mồ côi cha(mẹ), hoặc bố mẹ li
hôn dẫn đến con phải ở cùng ông bà. Chính vì vậy việc quan tâm chăm sóc có
nhiều hạn chế. Học sinh không chỉ khó khăn về điều kiện vật chất mà đời sống
tình cảm của các em ngay từ nhỏ đã thiếu thốn nặng nề. Có những em sinh ra
mới chỉ mấy tháng tuổi nhưng chỉ vì mâu thuẫn gia đình mà không được sống
cùng mẹ. Có những em vì hoàn cảnh gia đình nên bố mẹ đều đi làm ăn xa gửi
con cho ông bà nuôi và gần như bố mẹ phó mặc cho ông bà. Bản thân các em
không được sự quan tâm từ nhỏ nên khi lên đến bậc học THCS đã trở nên khó
giáo dục, một số em cũng vì thế mà trở thành những học sinh cá biệt, thường
xuyên vi phạm đạo đức, coi thường kỉ luật của trường lớp, không biết yêu
thương những người thân quanh mình. Một số gần như trở thành vô cảm, rất
khó giáo dục.
10


Mặt khác, do mô hình gia đình ít con nên nhiều phụ huynh đã nuông chiều
con quá mức, từ đó dẫn đến các em không có tính tự lập, không có ý thức vươn
lên.
Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh của trường trong những năm gần
đây đã có những chuyển biến. Tuy vậy, đối tượng học sinh vi phạm kỉ luật vẫn
còn, số học sinh xếp loại hạnh kiểm Trung bình vẫn còn tỉ lệ khá cao trên tổng
số học sinh toàn trường.
Công tác giáo dục học sinh chậm tiến đã được nhà trường hết sức quan
tâm song đối tượng học sinh này còn một số chuyển biến chậm.
3.3. Phân tích nguyên nhân:
3.3.1. Nguyên nhân khách quan:
Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế nước ta đã có những bước phát

trước những biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinh. Một số vẫn chưa thực sự
“vào cuộc” trước những phong trào khi nhà trường phát động nhằm thúc đẩy ý
thức của học sinh. Từ đó dẫn đến tâm lý học sinh không nhiệt tình trong các
phong trào được phát động.

4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
12


Chất lượng giáo dục đạo đức phụ thuộc và nhiều yếu tố trong đó vai trò
của giáo viên là rất quan trọng, nhất là trong tình hình thực hiện việc đổi mới
nâng cao chất lượng của giáo dục hiện nay. Đứng trước thực trạng như đã phân
tích ở trên, để đạt được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, từ đó
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo tinh thần chỉ đạo của ngành chúng
tôi đã tiến hành một số biện pháp sau:
4.1. Nâng cao nhận thức cho giáo viên về giáo dục đạo đức.
Nâng cao nhận thức cho giáo viên về giáo dục đạo đức cho học sinh
không phải là vấn đề mới nhưng luôn là một nội dung quan trọng để xác định
con đường đi đúng dẫn tới đích cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức, từ đó nâng cao chất lượng dạy học. Chính vì vậy tôi đã tích cực tham mưu
với Ban giám hiệu nhà trường triển khai thực hiện tốt một số hoạt động sau:
- Đầu năm học thực hiện nghiêm túc việc học nhiệm vụ năm học của
nghành, của cấp THCS.
- Chỉ đạo giáo viên tham gia nghiêm túc, có chất lượng các buổi hội thảo
do Phòng giáo dục tổ chức, đặc biệt hội thảo về công tác chủ nhiệm.
- Hàng năm nhà trường đã quán triệt sâu sắc đường lối phương châm giáo
dục của Đảng và ngành về đổi mới công tác giáo dục, coi trọng công tác giáo
dục tư tưởng chính trị lên hàng đầu. không ngừng nâng cao nhận thức về tầm
quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá
cho đội ngũ giáo viên, tăng cường bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên thường

trường miền núi như trường tôi thì vai trò của giáo viên chủ nhiệm quan trọng
hơn bao giờ hết. Có thể nói rằng thầy cô có vai trò như người mẹ thứ hai trong
việc uốn nắn, giáo dục đạo đức cho học sinh từ những kĩ năng sống đơn giản
nhất. Chính từ xác định vai trò quan trọng đó mà tôi đã kết hợp với Ban giám
hiệu có những biện pháp chỉ đạo công tác chủ nhiệm như sau:
4.3.1. Đổi mới quản lý chỉ đạo:
- Ngay từ tháng tám, sau khi nghỉ hè, Ban giám hiệu đã có kế hoạch trong
phân công công tác chủ nhiệm lớp. Cần thực hiện tốt việc phân công giáo viên
14


chủ nhiệm, chọn giáo viên có năng lực, nhiệt tình, chú ý đến những lớp có học
sinh cá biệt, lớp 6 và lớp 9.
- Ban giám hiệu tạo điều kiện, hỗ trợ giúp đỡ giáo viên chủ nhiệm thực
hiện tốt nhiệm vụ, quyền lợi của GVCN được quy định trong Điều lệ trường
phổ thông.
- Thống nhất chỉ tiêu phấn đấu rèn luyện hạnh kiểm phù hợp với đặc điểm,
tình hình của lớp.
- Có biện pháp kịp thời với những biểu hiện vi phạm đạo đức của HS.
- Ban giám hiệu kiểm tra việc quản lý nền nếp lớp chủ nhiệm, ghi chép
cập nhật Sổ chủ nhiệm. Phân công dự giờ sinh hoạt với các lớp.
4.3.2. Thống nhất nhiệm vụ với giáo viên chủ nhệm:
Để việc quản lý giáo dục trong nhà trường đạt kết quả, cần giúp giáo viên
nhận thức việc giáo dục đạo đức học sinh là một việc làm hết sức quan trọng,
nhất là trong giai đoạn hiện nay. Việc thống nhất mục tiêu trong giáo dục đạo
đức cho học sinh là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Khi giáo viên
đã xác định rõ mục tiêu giáo dục sẽ có những biện pháp giáo dục phù hợp với
đối tượng học sinh và việc giáo dục mới đem lại hiệu quả. Ban giám hiệu chỉ
đạo giáo viên chủ nhiệm làm tố các nhiệm vụ:
- Khi bắt đầu nhận nhiệm vụ, GVCN cần nắm bắt hoàn cảnh cụ thể của

đạo cụ thể hình thức tổ chức sinh hoạt lớp của giáo viên chủ nhiệm. Để có một
tiết sinh hoạt lớp hiệu quả, chủ nhiệm lớp phải xây dựng nội quy, biểu điểm thi
đua ngay từ đầu năm học. Đội ngũ cán bộ lớp và các tổ trưởng cần có sự theo
dõi chính xác, nhận xét cụ thể các cá nhân trong tiết sinh hoạt. Mỗi tiết sinh
hoạt phải có đánh giá xếp loại và tuyên dương cá nhân tiến bộ, nhắc nhở phê
bình những cá nhân chưa tiến bộ. Những nội dung trên được giáo viên chủ
nhiệm hướng dẫn cán bộ lớp thực hiện, tạo cho các em nền nếp tự quản. Giáo
viên đóng vai trò cố vấn, có những ý kiến nhận xét, đánh giá mang tính chất kết
luận trong giờ sinh hoạt. Tránh biến tiết sinh hoạt lớp thành giờ trách phạt, tạo
tâm lý nặng nề cho học sinh. Giáo viên chủ nhiệm cần linh hoạt trong tổ chức,
tạo cho học sinh tâm lý vui vẻ, thoải mái.
16


4.4. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức thông qua việc lồng ghép vào
giảng dạy các môn học.
Truyền thống dạy học của dân tộc Việt nam là “Tiên học lễ, hậu học văn”
Không nên tách rời việc truyền thụ kiến thức với việc giáo dục đạo đức vì dạy
văn hóa và giáo dục đạo đức có mối quan hệ qua lại mang tính chất hỗ trợ, tác
động cho nhau hết sức chặt chẽ trong chương trình Trung học cơ sở. Việc giáo
dục đạo đức cho học sinh qua các môn học là quá trình thường xuyên, mỗi môn
học thầy cô đều có thể lồng ghép vào đó những bài học đạo đức. Cụ thể có thể
lấy ví dụ qua một số môn học:
4.4.1. Môn giáo dục công dân.
Nếu ở bậc Tiểu học, học sinh chỉ được học những kiến thức mang tính
chất cơ bản, ban đầu về đạo đức thì ở bậc THCS các em được học môn giáo
dục công dân. Môn Giáo dục công dân giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục
cho học sinh ý thức và hành vi của người công dân, góp phần hình thành và
phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân trong
một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Môn Giáo dục công dân không

xấu xa, độc ác, giả dối, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước được phản ánh
trong các văn bản đã học, đã đọc.
4.4.3.Môn Lịch sử:
Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam thật đáng tự hào. Những trang
sử ấy đã đi cùng năm tháng và được ghi lại trong những bài học lịch sử hết sức
hấp dẫn trong chương trình. Với vai trò là một cán bộ quản lý, trước hết tôi yêu
cầu giáo viên dạy bộ môn phải nghiên cứu kỹ chương trình nội dung sách giáo
khoa, chú ý những bài lịch sử địa phương. Tuyệt đối không tạo cho học sinh
xem nhẹ môn học, luôn tìm những phương pháp dạy học phù hợp, mạnh dạn áp
dụng đổi mới phương pháp giảng dạy. Từ những bài học liên quan đến các di
tích lịch sử của địa phương như Côn Sơn, Kiếp Bạc...liên hệ tình yêu, lòng tự
hào với lịch sử địa phương. Đã có nhiều học sinh yêu thích môn học Lịch sử vì
bản thân giáo viên bộ môn đã truyền đến học sinh tình yêu với môn học.

18


4.4.4. Môn Địa lý:
Môn học Địa lý giúp học sinh yêu quý Trái đất, môi trường sống của con
người, có ý thức bảo vệ các thành phần tự nhiên của môi trường. Tham gia tích
cực vào các hoạt động bảo vệ, cải tạo môi trường trong trường học, ở địa
phương nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, cộng đồng. Giáo viên
bộ môn luôn có ý thức trách nhiệm gắn liên hệ nội dung bài học với thực tiễn
cung cấp cho học sinh hiểu biết về hiện tượng biến đổi khí hậu và có ý thức
trong bảo vệ môi trường.
4.4.5. Môn Âm nhạc - Mỹ thuật:
Môn Âm nhạc và Mỹ thuật là những môn học có tính chất đặc trưng nhằm
phát triển trí tuệ, bồi dưỡng tình cảm trong sáng, lành mạnh hướng tới cái hay,
cái đẹp.Các môn học này với mục đích tạo cho học sinh phát triển toàn diện kết
hợp trong đó giáo viên cần tạo tâm lý vui vẻ, thoải mái cho học sinh học tập.

xây dựng kế hoạch nhằm đạt mục tiêu giáo dục tư tưởng - đạo đức.
4.6. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức thông qua việc phối hợp các lực
lượng giáo dục.
a. Phối kết hợp với gia đình và hội cha mẹ học sinh:
* Thành lập Hội cha mẹ học sinh.
Để việc giáo dục đạo đức học sinh đạt được hiệu quả tốt, một công tác
quan trọng là có sự kết hợp nhịp nhàng với gia đình và hội cha mẹ học sinh.
Đầu năm học, Ban giám hiệu thống nhất chỉ đạo họp phụ huynh học sinh.
Kịp thời kiện toàn Chi hội trưởng cha mẹ học sinh các lớp và Ban chấp hành
Hội. Nhà trường cần tổ chức tốt cuộc họp phụ huynh từ 2 – 3 lần/năm.
* Thông qua sổ liên lạc.
- Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm sử dụng có hiệu quả tác dụng
của sổ liên lạc. Hàng tháng, giáo viên thông báo tới các bậc cha mẹ học sinh về
tình hình học tập, rèn luyện, ý thức từng em. Ngược lại phụ huynh cũng thông
qua sổ liên lạc ghi lại nhận xét tình hình của con em mình ở nhà. Qua đó người
giáo viên có những biện pháp giáo dục phù hợp với từng học sinh.

20


* Thông qua các buổi họp phụ huynh.
- Trước khi tổ chức họp phụ huynh toàn trường cần chuẩn bị tốt họp Ban
chấp hành Hội cha mẹ học sinh. Tất cả nội dung cần truyền đạt tới phụ huynh
được thống nhất trong buổi họp Ban chấp hành hội. Tại các buổi họp phụ
huynh , nhà trường thông báo tới các bậc phụ huynh nội quy, quy định về học
tập, nề nếp của nhà trường để các bậc phụ huynh đôn đốc học sinh thực hiện.
- Ban giám hiệu chỉ đạo họp phụ huynh các lớp. Mỗi giáo viên chủ nhiệm
sẽ thông qua với gia đình về các chuẩn mực đạo đức mà học sinh phải đạt được
ở từng lứa tuổi. Phụ huynh trao đổi với giáo viên về việc rèn luyện đạo đức của
từng em. Với những học sinh có cá tính, giáo viên cần trao đổi cụ thể với gia

vậy mỗi giáo viên phải là tấm gương sáng cho học sinh học tập và noi theo,thể
hiện trong lời nói, cách ứng xử, thái độ trong giao tiếp giữa giáo viên với giáo
viên, giáo viên với học sinh, giáo viên với các tầng lớp nhân dân. Mỗi giáo viên
cần có thái độ kiên quyết với những học sinh có biểu hiện hành vi thiếu văn hóa
và cùng có trách nhiệm phối kết hợp cộng đồng trong việc giáo dục đạo đức
cho học sinh.
4.7. Kiểm tra – đánh giá các hoạt động.
Kiểm tra đánh giá là một việc làm hết sức quan trọng trong công tác quản
lý. Đối với công tác chỉ đạo quản lý giáo dục đạo đức học sinh, cần có sự đánh
giá kết quả những gì đã làm được và chưa làm được, rút kinh nghiệm để điều
chỉnh hoạt động cho phù hợp. Ban giám hiệu luôn chú ý đến việc theo dõi mức
độ tiến bộ của học sinh cá biệt trong từng lớp. Đặc biệt phải có sự đối chiếu chỉ
tiêu hạnh kiểm đạt được qua mỗi kì, mỗi năm học. Đánh giá cụ thể những giáo
viên chủ nhiệm tích cực nhiệt tình để từ đó động viên khen ngợi kịp thời.
Mối quan hệ giữa các biện pháp:
Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Muốn quản lý tốt
cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể. Trên cơ sở kế hoạch đã xây dựng, cán bộ
quản lý tổ chức thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh. Sau khi
tổ chức thực hiện, người cán bộ có thể kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm từ
hoạt động. Để từ đó có thể điều chỉnh kế hoạch của những hoạt động sao cho
phù hợp.
22


5. Kết quả đạt được:
Sau khi nắm được thực trạng giáo dục của trường mình, bằng các giải
pháp trên. Qua thực tế đối chiếu chất lượng giáo dục đạo đức trong các năm
học đã đạt được các kết quả sau:
5.1. Hạnh kiểm đạt được năm học 2011 – 2012
h¹nh kiÓm

28

16.5

3

1.7

7

166

125

75.3

38

22.9

3

1.8

8

147

114


524

79.3

126

19

11

1.7

Yếu
SL

%

5.2. Hạnh kiểm đạt được học kì I năm học 2012 – 2013
h¹nh kiÓm
Khối

Sĩ số

Tốt

Khá

Trung bình

SL


141

75.4

41

21.9

5

2.7

8

158

128

81

28

17.7

2

1.3

9


5.3. Hạnh kiểm đạt được năm học 2013 – 2014:
23

Yếu
SL

%


h¹nh kiÓm
Khối

Sĩ số

Tốt

Khá

Trung bình

6

156

SL
128

%
82.1


190

153

80.5

34

17.9

3

1.6

9

139

124

89.2

14

10.1

1

0.7

nên ý thức đạo đức kém, còn biểu hiện vô lễ với thầy cô, gây gổ với bạn bè...
Việc áp dụng các phương pháp giáo dục đạo đức với đối tượng học sinh này
gặp phải khó khăn, hiệu quả chưa cao.
- Còn một số học sinh hoàn cảnh có điều kiện hơn, song lại được nuông
chiều nên mải chơi không chú tâm đến việc học tập, chưa có ý thức tự giác học
tập. Bản thân thích tự do theo ý của riêng mình, không hoà nhập với các bạn.
Đây cũng là một khó khăn trong quá trình giáo dục đạo đức.
2. Giáo viên.
- Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm chưa hoàn toàn đồng đều. Do đặc điểm của
loại hình giáo viên nên việc phân công giáo viên chủ nhiệm lớp chưa đáp ứng
đúng theo yêu cầu. Một số giáo viên chủ nhiệm còn thiếu kinh nhiệm, chưa
24

%


thực sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng trong giáo dục đạo đức của học
sinh. Đôi khi giáo viên chủ nhiệm không đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh của từng
em trong lớp dẫn đến việc xử lí các tình huống sư phạm chưa hợp lý hợp tình.
Tất cả những khó khăn này là vấn đề mà những người làm quản lí như
chúng tôi băn khoăn, trăn trở, tìm cách tháo gỡ.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status