THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO
DỤC
ĐÀO
1. Tên sáng kiến: Một
vài biện
phápVÀ
khai
thácTẠO
giá trị nghệ thuật trong văn
bản văn học trung đại chương trình Ngữ văn 9 THCS
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn 9 THCS
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thơm
Nam (nữ): Nữ
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Ngày tháng/năm sinh: 10/10/1979
Trình độ chuyên môn: Đại học Văn
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Chí Minh
Điện thoại: 0905 406 979
MỘT
SỐ BIỆN PHÁP KHAI THÁC GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
4. ĐồngTRONG
tác giả: Không
VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Căn cứ vào hướng dẫn của SGD&ĐT Hải Dương, hướng dẫn của PGD thị
xã Chí Linh về việc viết sáng kiến năm học 2014- 2015.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn, nhất là dạy phần văn bản
trung đại trong các nhà trường THCS hiện nay còn nhiều hạn chế: người dạy chỉ
chú trọng khai thác giá trị nội dung mà chưa đi sâu khai thác giá trị nghệ thuật;
người học chưa húng thú, còn tâm lí ngại học các tác phẩm văn học trung đại, tôi
mạnh dạn đưa ra sáng kiến về vấn đề: “Một số biện pháp khai thác giá trị nghệ
thuật trong văn bản văn học trung đại chương trình Ngữ văn 9” nhằm nâng cao
chất lượng môn học.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:
2.1. Điều kiện:
Nhà trường có đủ các trang thiết bị, phương tiện dạy học, tài liệu tham
khảo, máy tính, máy chiếu, tranh ảnh tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy
học.
Giáo viên có tâm huyết, có ý thức học hỏi, sưu tầm tài liệu nghiên cứu, tìm
tòi phương pháp, xây dựng kế hoạch giảng dạy, áp dụng cho bài giảng văn học
trung đại.
2.2. Thời gian áp dụng: trong các tiết dạy văn học trung đại chương trình
Ngữ văn 9 từ năm học 2013 – 2014 đến nay.
2.3. Đối tượng áp dụng: Giáo viên Ngữ văn và học sinh lớp 9 cấp THCS.
3. Nội dung sáng kiến
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến
Sáng kiến trình bày các biện pháp khai thác giá trị nghệ thuật trong văn bản
văn học trung đại chương trình Ngữ văn 9 giúp học sinh phát huy tính sáng tạo, tự
tin, hứng thú học tập để lĩnh hội kiến thức mảng văn học trung đại chương trình
Ngữ văn 9 được tốt hơn.
2
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
1.1. Cơ sở khoa học
Văn học là bộ phận tinh tế nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng vươn
tới các giá trị chân, thiện, mỹ của con người. Môn Ngữ văn trong nhà trường có
một vị trí vô cùng quan trọng. Theo Gorki: Con người thông minh mà không có
cảm xúc là con người độc ác. Văn làm thức tỉnh đời sống tâm linh của con người,
biết chia sẻ vui buồn, yêu ghét không gì thay thế được, nó là nghệ thuật của tình
cảm. Dạy - học tác phẩm văn học là tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tự giác, chủ
động, phát hiện, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tác phẩm văn chương,
nhằm bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm thụ, đánh giá, thưởng thức văn
chương, và ở một mức độ nhất định, cả sáng tạo văn chương thông qua con đường
tư duy hình tượng và tư duy nghệ thuật. Trên cơ sở đó, nó giáo dục bồi dưỡng cho
học sinh một thế giới quan tiến bộ, một nhân sinh quan lành mạnh. Vì vậy, dạy học Ngữ văn ngoài việc cung cấp kiến thức, mở rộng vốn từ, phát triển vốn ngôn
ngữ còn bồi dưỡng đời sống tư tưởng tình cảm, góp phần xây dựng và phát triển
nhân cách toàn diện cho các em học sinh.
Từ nhiều năm nay, vấn đề đổi mới, cải tiến phương pháp dạy - học nói
chung, đổi mới, cải tiến phương pháp dạy - học môn Ngữ văn nói riêng đã được
Bộ giáo dục quan tâm chỉ đạo, đông đảo giáo viên đã tham gia tìm tòi, nghiên cứu,
viết tài liệu, đề xuất những phương pháp, định hướng dạy - học mới góp phần
nâng cao chất lượng dạy - học trong nhà trường. Đặc biệt mấy năm gần đây, việc
dạy - học Ngữ văn nói chung, dạy - học phần văn bản Trung đại nói riêng đã khá
hơn trước. Đa phần giáo viên đã nhận thức được đây là một bộ phận quan trọng
của văn học dân tộc. Việc tiếp thu phát triển và truyền bá văn học truyền thống,
chính là nhằm bảo tồn văn hoá truyền thống dân tộc. Phần do chương trình và sách
giáo khoa được cải tiến, phần do bản thân đời sống văn học cũng đã thay đổi, trình
độ công chúng được nâng lên. Tuy nhiên, kết quả của việc dạy học mảng văn học
4
cao cả về nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên qua thực tế giảng dạy và dự giờ các
đồng nghiệp tôi thấy nhiều thầy cô chỉ thiên về phân tích giá trị nội dung của các
văn bản, còn việc khai thác giá trị nghệ thuật thì vẫn còn mờ nhạt, chưa khai thác
hết giá trị của các biện pháp nghệ thuật. Hơn nữa, đối với học sinh thì việc tìm
hiểu, chiếm lĩnh một tác phẩm văn học trung đại là tương đối khó không chỉ bởi
rào cản ngôn ngữ, văn tự, khoảng cách về văn hóa giữa quá khứ và hiện tại mà còn
khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo, đặc biệt là sách tuyển chọn
những tác phẩm nguyên gốc.
Xuất phát từ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn trên, tôi đã nghiên cứu và đúc
rút “Một số biện pháp khai thác giá trị nghệ thuật trong văn bản văn học trung
đại chương trình Ngữ văn 9” với mong muốn dạy tốt phần văn học trung đại
trong chương trình Ngữ văn 9, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn
Ngữ văn ở trường THCS nói chung.
1.3. Phạm vi và đối tượng áp dụng sáng kiến
Phạm vi: Các giờ dạy học văn bản trung đại Ngữ văn 9 tại trường THCS
Đối tượng: Giáo viên Ngữ văn và học sinh lớp 9 bậc THCS
1.4. Mục đích nghiên cứu
Tìm tòi cách khai thác giá trị nghệ thuật trong giờ dạy văn bản trung đại
chương trình Ngữ văn 9 để tiết dạy đạt kết quả cao, giúp giáo viên và học sinh
hiểu sâu hơn về giá trị nghệ thuật trong văn bản trung đại chương trình Ngữ văn 9
THCS và hướng tiếp cận văn bản để chiếm lĩnh tri thức.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đúc rút kinh nghiêm này tôi đã tiến hành các
phương pháp sau:
1. Đọc, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc dạy học nêu vấn đề.
2. Tham khảo tài liệu.
- Phương pháp dạy học Văn- Giáo sư Phan Trọng Luận.
- Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS - GS.TS Trần Bá Hoành.
6
7
nhất của văn học trung đại, nội dung khá gần gũi và chủ yếu là thơ nên các em dễ
học thuộc. Nhưng để tiếp nhận lại chẳng dễ chút nào bởi cách diễn đạt, quan niệm,
cách giải quyết lại khác hẳn so với thời đại các em đang sống. Chính vì vậy khai
thác tốt giá trị nghệ thuật trong văn bản văn học trung đại sẽ giúp các em học sinh
cảm nhận tốt hơn các giá trị nội dung của tác phẩm văn học trung đại.
3. Thực trạng của vấn đề
3.1. Thực trạng dạy và học văn bản trung đại hiện nay
Việc dạy và học văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn còn là nỗi khổ cho
người dạy lẫn người học. Hiểu được những tác phẩm đó chẳng phải là chuyện dễ
dàng gì, việc truyền thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học trung đại thông qua
việc khai thác nghệ thuật của tác phẩm cho người học lại càng khó khăn gấp bội
phần. Qua quá trình giảng dạy Ngữ văn 9 và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy
thực trạng dạy và học văn bản trung đại Việt Nam trong các nhà trường THCS
hiện nay như sau:
3.1.1. Về phía giáo viên: Còn lúng túng về phương pháp giảng dạy. Trong
quá trình giảng dạy, có khi chỉ chú trọng phân tích nội dung mà ít quan tâm đến
hình thức nghệ thuật của văn bản. Điều này vô tình đã đánh mất một phần nào giá
trị tác phẩm. Đôi khi để các em học sinh hiểu đúng nội dung và đảm bảo đúng thời
lượng tiết học, con đường nhanh nhất mà nhiều giáo viên hay lựa chọn là cảm thụ
thay học sinh. Cũng có trường hợp, nhiều giáo viên lại không am hiểu nhiều về
nghĩa của các từ trong văn bản nên cách duy nhất để “vượt qua” các văn bản này
là tự suy diễn theo cảm tính hoặc xem phần dịch nghĩa và dịch thơ là kim chỉ nam
để giảng dạy.
3.1.2. Về phía học sinh: Học sinh khó cảm thụ và phân tích tác phẩm văn
học trung đại. Khả năng khai thác giá trị nghệ thuật của tác phẩm khi làm bài còn
hạn chế. Từ đó học sinh ngại học, ngại đọc các tác phẩm văn học dẫn đến chất
lượng bài viết chưa cao.
15
42,0
21
58,0
Phân tích kết quả thu được: Rất nhiều học sinh chưa khai thác được giá trị
nghệ thuật để làm bật giá trị nội dung.
3.3. Nguyên nhân
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ một số đồng chí, đồng nghiệp trong tổ,
trong trường, tôi nhận thấy những nguyên nhân của thực trạng trên như sau:
3.3.1. Đối với giáo viên
Trong thực tế vẫn còn một số giáo viên dạy tác phẩm văn học trung đại
nhưng vốn hiểu biết về từ ngữ cổ còn hạn chế. Chủ yếu dựa vào chú thích sách
giáo khoa, mà ít quan tâm đến hoàn cảnh ra đời của văn bản. Chưa hiểu hết nghĩa
của các từ Hán - Việt, các từ Việt cổ các điển tích, điển cố của văn học trung đại là
phức tạp và đa nghĩa. Vì vậy chưa đưa học sinh vào hướng cảm thụ sâu sắc, chưa
sát ý, chưa chuyển tải hết mục tiêu cần đạt của văn bản trung đại được biên soạn
đưa vào chương trình Dạy - học ở trường THCS.
3.3. 2. Đối với học sinh
9
Vẫn còn học theo cách thụ động, lười tư duy, ít sáng tạo. Chưa thể hiện được
vai trò chủ động tiếp thu kiến thức, chỉ nhớ "vẹt" ý của bài, không hiểu sâu tác
phẩm. Vì vậy dẫn đến hậu quả học sinh sợ học những văn bản trung đại.
Học sinh khó cảm thụ và phân tích tác phẩm văn học trung đại do rào
cản ngôn ngữ, văn tự, bởi những tác phẩm ấy đều viết bằng ngôn ngữ Hán văn cổ
hay chữ Nôm nên có phần xa lạ với ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại hôm nay, thêm
vào đó là khoảng cách về văn hóa giữa quá khứ và hiện tại. Mặt khác rất khó tìm
Chuyện
Nguyễn Truyện
Nghệ thuật chủ
yếu
yếu
- Khẳng định vẻ - Truyện truyền
người con Dữ
truyền
gái
kỳ mạn truyền thống của Hán.
Nam (TK16)
đẹp
tâm
hồn kỳ viết bằng chữ
Xương
lục (ghi người phụ nữ Việt - Kết hợp những
truyện
kịch của họ dưới cách kể chuyện,
Mượn cốt
kỳ
truyện “Vợ
vẫn
chàng
được
Trương”)
lưu
Niềm
lạ chế
độ
kiến.
cảm và yếu tố kỳ ảo,
sử Quang
tộc sử chương hồi
Lê nhất
Văn
lịch
Trung viết
thống trí
Phái
viết theo Nguyễn Huệ với Hán.
(Ngô
lối
bằng
chữ
chiến công thần - Cách kể chuyện
Thì Chí, chương
3
Nguyễn Chuyển
Du
hại dân.
Cuộc đời và tính - Giới thiệu tác
thể văn cách Nguyễn Du, giả, tác phẩm.
(Mượn cốt (TK 18- xuôi
vai trò và vị trí Truyện thơ Nôm,
truyện
của ông trong lịch lục bát.
19)
thành
“Kim Vân
thơ lục sử văn học Việt - Tóm tắt nội
Kiều
bát – thể Nam.
Nguyễn
Trân trọng ngợi ca Nghệ thuật ước
Thuý Kiều Du
vẻ đẹp của chị em lệ cổ điển lấy
(TK 18-
Thuý Kiều.
Vẻ thiên nhiên làm
19)
đẹp toàn bích của chuẩn mực để tả
những thiếu nữ vẻ
đẹp
con
phong kiến. Qua người. Khắc hoạ
đó dự cảm về kiếp rõ nét chân dung
người tài hoa bạc chị
mệnh.
- Thể hiện cảm
12
tươi
thiên
bằng
đẹp, những từ ngữ,
hình
ảnh
giàu
chất tạo hình.
Cảnh ngộ cô đơn - Miêu tả nội tâm
Kiều ở lầu Nguyễn
Ngưng
văn
văn Nguyễn Du
Bức tranh thiên Tả
Cảnh ngày Nguyễn
xuân
nhân
Du
đời, sự nghiệp, vai Nôm, một trong
Kiều
Chiểu
Nôm –
trò của Nguyễn những tác phẩm
Nguyệt
(TK19)
2082
Đình Chiểu trong xuất
câu thơ
lịch sử văn học NĐC được lưu
lục bát.
VN.
Nga
-
cảm, trọng nghĩa,
khinh tài ; KNN
hiền hậu, nết na,
ân tình.
Như vậy, phần lớn các tác phẩm Trung đại chương trình Ngữ văn 9 đã đạt
mức điêu luyện, tinh xảo về ngôn ngữ, các hình thức mĩ từ như ẩn dụ, ước lệ
tượng trưng, nghệ thuật đối, nhân hóa, thâm xưng, điệp ngữ, đảo ngữ, ... đã được
sử dụng khi xây dựng hình tượng nhân vật. Chính vì vậy, trong quá trình giảng
dạy, cần bám sát đặc trưng thể loại, các tín hiệu nghệ thuật để trên cơ sở đó, dẫn
dắt học sinh đi tìm cái hay, cái đẹp trong tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm.
4.3. Chuẩn bị tâm thế cho học sinh và hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài
4.3.1. Cần chuẩn bị tâm thế cho học sinh: Đây là việc rất cần thiết, nếu
không làm cho học sinh quyết tâm, hứng khởi như trước khi vào một trận đánh
gian nan thì sẽ hạn chế thắng lợi. Vậy làm thế nào để học sinh hăm hở và biết cách
học? Đó là nghệ thuật của mỗi giáo viên trước đối tượng cụ thể của mình.
Đối với bản thân tôi, sau khi kết thúc cụm bài về văn bản nhật dụng ở học kì
I lớp 9, tôi động viên các em sẵn sàng, náo nức bước vào một thế giới văn chương
trung đại đầy bí ẩn và hấp dẫn, nhưng cũng đầy khó khăn thử thách đòi hỏi các em
phải có tinh thần không sợ mỏi gối chùn chân bằng cách dẫn dắt, nói chuyện, kể
chuyện thơ, tổ chức cho các em xem vở chèo “Chiếc bóng oan khiên” được
chuyển thể từ “Chuyện người con gái Nam Xương”, cho các em xem những hình
ảnh minh họa các nhân vật trong “Truyện Kiều”, .... đồng thời sơ lược cho các em
biết được nghệ thuật xây dựng các nhân vật và tại sao các tác giả trung đại lại sử
dụng các nghệ thuật đó khi xây dựng nhân vật qua từng tác phẩm để các em có cái
nhìn tổng quan về nghệ thuật trong văn học trung đại từ đó giúp các em thấy được
ý nghĩa của việc học các tác phẩm văn học trung đại và cách học các văn bản
trung đại nhằm giúp các em tự tin, hào hứng bước vào bài học.
nhuyễn đến mức thuộc thơ, sống với bài thơ, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của
15
tác phẩm, đặc biệt nắm chắc được những đặc sắc về nghệ thuật và tác dụng của
các nghệ thuật trong văn bản đó để hiểu được thấu đáo nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm.
4.4.2. Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh: Cần kiểm tra sự chuẩn bị của
học sinh, bởi đây chính là tiền đề quan trọng để học sinh cảm thụ được tác phẩm
ngay trên lớp. Kiểm tra kĩ bài soạn ở nhà của học sinh, có biện pháp nhắc nhở, phê
bình thậm chí cảm hóa nếu học sinh có biểu hiện soạn chống đối như: soạn sơ sài,
soạn nhưng chỉ là chép lại mà không hiểu, không nhớ.
4.4.3. Lựa chọn phương pháp dạy học: Cần có những phương pháp thích
hợp, đồng thời phải biết cách sử dụng, phối hợp các phương pháp phân tích tác
phẩm một cách nhuần nhuyễn nhất, nhằm giúp học sinh vừa nắm bắt tri thức, vừa
nắm bắt phương pháp học tập, nghiên cứu.
4.4.4. Tạo hứng thú cho học sinh từ cách vào bài: Cần tìm cách vào bài
để tạo không khí phù hợp với bài học. Có thể là một đoạn thơ, một bức tranh...
mang nội dung tư tưởng tương đồng với tác phẩm chuẩn bị học.
Ví dụ: Giới thiệu bài mới khi học đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều
Nguyệt Nga” của Nguyễn Đình Chiểu, tôi chọn cách vào bài như sau:
Nguyễn Đình Chiểu có hai câu thơ nổi tiếng thể hiện quan điểm về văn
chương: “Văn dĩ tài đạo”
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Quan điểm ấy được quán triệt trong suốt cuộc đì sáng tác của ông, cả trước
và sau khi Pháp xâm lược. Lục Vân Tiên là tác phẩm nêu cao đạo lí sống của dân
gian “Anh hùng tiếng đã gọi rằng, giữa đường thấy chuyện bất bình nào tha” ca
ngợi đức tính “trai thì trượng nghĩa làm đầu. Gái thời tiết hạnh làm câu trau
mình” Bài học Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn
Tác dụng của cách sử dụng những hình ảnh đó ?
17
Hình ảnh: Bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi.... mượn cảnh vật của
thiên nhiên để chỉ sự trôi chảy của thời gian -> Nàng là người vợ thủy chung, yêu
chồng tha thiết.
? Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, chi tiết cái bóng có ý nghĩa
gì trong cách kể chuyện?
" Cái bóng" trong câu chuyện có ý nghĩa đặc biệt vì đây là chi tiết tạo nên
cách thắt nút, mở nút hết sức bất ngờ.
Đối với Vũ Nương: Trong những ngày chồng đi xa, vì thương nhớ chồng, vì
không muốn con nhỏ thiếu vắng bóng người cha nên hàng đêm, Vũ Nương đã chỉ
bóng mình trên tường, nói dối con đó là cha nó. Lời nói dối của Vũ Nương với
mục đích hoàn toàn tốt đẹp.
Đối với bé Đản: Mới 3 tuổi, còn ngây thơ, chưa hiểu hết những điều phức
tạp nên đã tin là có một người cha đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng
ngồi, nhưng nín thin thít và không bao giờ bế nó.
Đối với Trương Sinh: Lời nói của bé Đản về người cha khác (chính là cái
bóng) đã làm nảy sinh sự nghi ngờ vợ không thuỷ chung, nảy sinh thái độ ghen
tuông và lấy đó làm bằng chứng để về nhà mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi để
Vũ Nương phải tìm đến cái chết đầy oan ức.
Cái bóng cũng là chi tiết mở nút câu chuyện. Chàng Trương sau này hiểu ra
nỗi oan của vợ cũng chính là nhờ cái bóng của chàng trên tường được bé Đản gọi
là cha. Bao nhiêu nghi ngờ, oan ức của Vũ Nương đều được hoá giải nhờ cái bóng.
Chính cách thắt, mở nút câu chuyện bằng chi tiết cái bóng đã làm cho cái
chết của Vũ Nương thêm oan ức, giá trị tố cáo đối với xã hội phong kiến nam
quyền đầy bất công với người phụ nữ càng thêm sâu sắc hơn.
? Nhận xét nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật dựng truyện,
Tố nga: người con gái đẹp (đây là điển tích của Trung Quốc). Chị Hằng Nga
(tên nôm là Thường Nga - vợ của Hậu Nghệ, lấy trộm thuốc trường sinh trốn lên
cung trăng làm 1 tiên nữ. Vì mặt trăng sắc trắng nên gọi là Tố Nga (tố là trắng,
nga là người con gái đẹp)
19
? Câu thơ "Mai cốt cách, tuyết tinh thần" cho ta biết gì về cách tả của tác giả?
Mai cốt cách: cốt cách của mai là hình thì mảnh mai, sắc thì rực rỡ, hương
thì tao nhã => gợi tả vẻ đẹp cốt cách thanh cao như mai (mai là một loài hoa đẹp
và quý).
Tuyết tinh thần: tinh thần của tuyết là trắng trong, tinh khiết, thanh sạch =>
gợi tả vẻ đẹp tâm hồn trinh trắng như tuyết.
=> Hai câu sau vừa là nhận xét khái quát vẻ đẹp của mỗi người vừa là cách tả
cốt chỉ biểu hiện cho được cái hồn, cái tinh thần của vẻ đẹp chứ không đi sâu vào
tỉ mỉ, một cái nhìn phát hiện đầy trân trọng cña Nguyễn Du.
? Trong bốn câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật gì?
Biện pháp ước lệ quen thuộc trong văn học cổ: Sử dụng những quy ước
trong biểu hiện như dùng hình tượng thiên nhiên đẹp: trăng, hoa, ngọc, tuyết… để
nói về vẻ đẹp của con người.
..........
? Bằng những hiểu biết của em về “Truyện Kiều”, hãy trình bày về nghệ
thuật miêu tả và khắc hoạ tính cách nhân vật của Nguyễn Du?
? Thế nào là tả cảnh ngụ tình? Hãy phân tích một đoạn thơ tả cảnh ngụ tình
mà em thích nhất trong Truyện Kiều?
? Thế nào là bút pháp ước lệ? Thành công của Nguyễn Du khi dùng những
hình ảnh ước lệ để miêu tả nhân vật chính diện?
? So sánh cách kể của Truyện Kiều với Truyện Lục Vân Tiên ?
Tóm lại: Văn học cổ giống như một tảng băng trôi, có phần nổi, có phần
chìm. Phần nổi học sinh có thể tự cảm nhận được, phần chìm rất lớn kia tuỳ theo
Biết khai thác giá trị
Lớp
giá trị nghệ thuật
TS
%
21
58,0
Ghi chú
Chưa biết khai thác
Sĩ số
nghệ thuật
giá trị nghệ thuật
Ghi chú
TS
%
TS
%
9A
36
26
72,2
10
27,8
Số liệu trên cho thấy việc áp dụng sáng kiến trên thật sự có hiệu quả rõ rệt,
Tiếp cận và giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại có vô vàn các phương
pháp khác nhau. Nhiệm vụ của người giáo viên là phải tìm ra một phương pháp tốt
nhất để truyền thụ tác phẩm đến với các em học sinh.
22
Các tác phẩm văn thơ trung đại là những tác phẩm có giá trị nhưng khám
phá tìm hiểu và truyền thụ tới được các em học sinh để các em đồng cảm cùng tác
giả quả là rất khó.
Với lòng say mê yêu thích Ngữ văn nói chung, văn bản trung đại nói riêng
tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu, đúc rút Một số biện pháp khai thác giá trị nghệ thuật
trong văn bản văn học trung đại ở chương trình Ngữ văn 9. Kinh nghiệm này đã
và đang được áp dụng có hiệu quả trong giảng dạy. Khi áp dụng những biện pháp
trên vào bài dạy, tôi nhận thấy khả năng khai thác giá trị nghệ thuật trong văn bản
văn học trung đại của học sinh đã được nâng lên rõ rệt, giảm được số bài không
đạt yêu cầu, và số bài tốt cũng tăng lên.
Những biện pháp trên được tôi rút ra từ thực tế cũng như thông qua trao đổi
với đồng nghiệp, có thể vẫn còn hạn chế. Rất mong được tiếp thu ý kiến đóng góp
của BGH, Hội đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học của Phòng giáo
dục – đào tạo để các đồng nghiệp cùng suy ngẫm, bàn bạc và thống nhất phương
pháp tốt nhất, sao cho việc dạy - học những văn bản trung đại trong nhà trường đạt
hiệu quả cao, tạo sự hào hứng, say mê, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp
nhận cho học sinh.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Tiếp tục chỉ đạo các huyện, thị, các nhà trường tập trung vào việc đổi mới
phương pháp giảng dạy ở tất cả các môn học. Coi đó là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của toàn ngành.
Có nhiều tài liệu, chuyên san giúp các huyện, thị các trường THCS tích lũy
được nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác giá trị nghệ thuật trong tác phẩm văn
Rèn kĩ năng phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình qua việc miêu tả cảnh vật thiên
nhiên, độc thoại nội tâm, NT sử dụng điệp từ, điệp cấu trúc câu đem lại hiệu quả cao.
Cảm nhận được sự cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với nhân vật
trong truyện.
c. Thái độ: Giáo dục lòng thương cảm đối với con người bất hạnh, căm
ghét thế lực chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ.
2. Năng lực hình thành thông qua bài dạy.
Năng lực tiếp nhận văn bản.
Năng lực thu nhận và lí giải thông tin trong văn bản.
Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực hợp tác.
Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Năng lực sáng tạo
B. CHUẨN BỊ
1. Chuẩn bị của giáo viên:
Tranh Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Trang thiết bị, đồ dùng dạy học liên quan đến CNTT: Máy tính, máy chiếu.
Sách giáo khoa, giáo án, bài giảng, hướng dẫn học tập.
Tài liệu, tư liệu phục vụ bài giảng, tài liệu giải đáp, kiểm tra-đánh giá kết
quả học tập ....
2. Chuẩn bị của học sinh:
25