Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường đại học - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN THUỶ

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
CÁN BỘ GIẢNG DẠY TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục
Chuyên ngành đào tạo thí điểm

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội - 2010

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN THUỶ

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
CÁN BỘ GIẢNG DẠY TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SỸ


5. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

11

6. Phạm vi và thời gian khảo sát

12

7. Cấu trúc của luận văn

12

Chƣơng 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

13

1.1. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài

13

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

17

1.2.1. Khái niệm năng lực

17

1.2.2. Năng lực giảng dạy



1.3.1.2. Một số tiêu chí đánh giá giảng viên hiện nay

28

1.3.1.3. Các phương pháp đánh giá giảng viên hiện hành

33

1.4. Thực tiễn công tác đánh giá giảng viên trong trường đại học ở

33

Việt Nam
1


1.4.1. Thực trạng đội ngũ nhà giáo

33

1.4.2. Việc đánh giá giảng viên đại học

36

1.4.2.1. Đánh giá của SV

37

1.4.2.2. Tự đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên


53

2.1.3.3. Chọn mẫu

61

2.2. Kết quả điều tra nghiên cứu

61

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

72

1. Kết luận.

72

2. Khuyến nghị

73

Tài liệu tham khảo

76

Phụ lục.

79



Danh mục bảng biểu

Trang

Sơ đồ 1.1

Chu trình đánh giá.

23

Bảng 2.1

Đề xuất các tiêu chí và chỉ số đánh giá năng lực

51

giảng dạy của giảng viên.
Bảng 2.2

Các tiêu chí và chỉ số đánh giá năng lực giảng dạy

60

của giảng viên (sau khi chỉnh sửa).
Bảng 2.3

Tần suất trả lời phiếu hỏi của giáo viên.


đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát huy lợi thế cạnh tranh quốc tế của Việt
Nam về nguồn lực con người trong quá trình toàn cầu hoá. Đây là trách nhiệm
của toàn Đảng, của hệ thống chính trị xã hội, của toàn dân, trong đó các nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục (NG&CBQLGD) là những người trực tiếp
thực hiện và vì vậy họ giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng và sự
phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân.
Tổ chức Văn hoá và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã
khuyến cáo: “Mọi cuộc cải cách giáo dục đều bắt đầu từ người giáo viên”.
Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục ngày càng đông đảo và phần lớn có phẩm chất đạo đức, ý thức
chính trị tốt, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao.
Đội ngũ này cơ bản đã đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng
đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự phát triển giáo dục trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một mặt phải tiếp tục phát huy
hiệu quả hơn những ưu điểm, mặt khác phải được phát triển và nâng cao chất
lượng, khắc phục nhanh chóng và kiên quyết những hạn chế, yếu kém.
Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục (NG&CBQLGD) thể hiện trong việc những năm gần
đây đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Quyết định quan trọng
liên quan đến chủ trương xây dựng đội ngũ NG&CBQLGD và các chính sách
đối với NG&CBQLGD như:
5


- Kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 Khoá IX đã chỉ ra một
trong 5 giải pháp để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 Khoá VIII là:
“Xây dựng đội ngũ NG&CBQLGD một cách toàn diện”;
- Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư;

tạo đại học là một trong những mục tiêu chiến lược của nhà nước và của các
trường đại học, một trong những điều kiện để đảm bảo và nâng cao chất
lượng giáo dục đại học mà các trường đại học đang sử dụng là công tác kiểm
định đánh giá tất cả các khâu của quá trình giáo dục như: đánh giá chương
trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất...Tôi
nhận thấy việc xây dựng tiêu chí đánh giá các khâu của quá trình giáo dục là
cần thiết, trong phạm vi tiếp cận của một luận văn thạc sỹ việc xây dựng các
tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường đại học là một trong những
công việc quan trọng và là cơ sở cho việc đảm bảo và nâng cao chất lượng
đào tạo tại các trường đại học hiện nay.
Ngành giáo dục, bằng những chủ trương và biện pháp cụ thể, đang
phấn đấu cho một nền giáo dục có chất lượng tốt nhằm đạt được mục tiêu
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và để
chất lượng các loại hình đào tạo của ngành đạt kết quả cao thì vai trò của đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (NG&CBQLGD) nói chung và vai
trò của đội ngũ NG&CBQLGD trong các trường đại học nói riêng đóng vai
trò quan trọng trong quá trình từng bước nâng cao và đảm bảo chất lượng đào
tạo ở bậc đại học. Do vậy, việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng
dạy trong trường đại học là một trong những việc làm cần thiết.
Trên cơ sở đó, là cán bộ đang công tác tại trường đại học tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường
đại học”.
Đề tài này, tác giả mong muốn bước đầu tìm hiểu và đề xuất xây dựng
bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường đại học.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
7


2.1. Đối tượng nghiên cứu
Hình thành và mô tả bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:
- Bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong trường
đại học cần được xây dựng như thế nào? Dựa trên cơ sở nào?
- Dựa trên cách thức nào để đánh giá độ tin cậy của bộ tiêu chí đánh giá
năng lực giảng dạy của giảng viên trong trường đại học?
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục,
về quản lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ giảng dạy; các sách, tài liệu, báo cáo về
quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ... Từ đó phân tích tổng hợp, hệ thống hóa,
khái quát hóa các tài liệu để xây dựng khung lý thuyết và các khái niệm công
cụ làm luận cứ lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Là đề tài nghiên cứu về đánh giá năng lực của cán bộ giảng dạy trong
trường đại học nên trong quá trình tiến hành, đề tài sẽ sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu sau đây :
- Phương pháp thảo luận nhóm;
- Phương pháp phỏng vấn.
- Trao đổi kinh nghiệm.
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp khảo sát, chọn mẫu điều tra;
- Dùng bảng hỏi để thu thập thông tin, dữ liệu;
- Phân tích dữ liệu qua mô tả, tương quan;
- Phương pháp quan sát, điều tra xã hội học, thống kê
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các tài liệu có
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các
9



Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ và tiêu chuẩn để đánh giá
(ĐG), xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ lãnh đạo, quản lý nói
riêng là một trong những nội dung quan trọng trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng của Người. Theo truyền thống tốt đẹp của mấy ngàn năm lịch sử
dựng nước và giữ nước, những tiêu chí đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh
tổng kết, bổ sung, nâng lên thành những tiêu chí lý luận để đánh giá người cán
bộ lãnh đạo.
Vấn đề ĐG cán bộ nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý trong tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh có một vị trí cực kì quan trọng. Vì nó là điểm khởi đầu
làm cơ sở cho việc bố trí, sử dụng đúng cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng: ĐG cán bộ là xác định đúng ai tốt, ai xấu, mặt nào mạnh, mặt nào yếu;
khả năng công tác của họ thế nào để từ đó mà bố trí, sử dụng cho "đúng
người, đúng việc".
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Biện pháp quan trọng khi ĐG cán bộ
là ĐG, chọn lọc cán bộ một cách khách quan. Mặt khác, khi ĐG cán bộ là dựa
vào tinh thần tự phê bình và phê bình. Đó là tinh thần tự kiểm điểm phê bình
của cá nhân người cán bộ lãnh đạo; sau đó được tập thể cấp uỷ và đơn vị góp
ý kiến xây dựng theo tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng. Có như vậy
mới tránh được bệnh chủ quan, phiến diện trong việc ĐG cán bộ. Khi đề cập
đến tiêu chuẩn để ĐG cán bộ, Người cho rằng: "cán bộ nào, phong trào ấy".
Đó chính là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn công tác, lao động và học tập mà
người cán bộ tham gia. Người cũng chỉ rõ: Nếu một đơn vị, một địa phương
kém thì khó có thể ĐG có một đội ngũ cán bộ tốt. Còn thường khi có một đội
11


ngũ cán bộ tốt thì dứt khoát là đơn vị hoặc địa phương đó sẽ vững mạnh và
khá tốt.
Từ cơ sở lý luận đến thực tiễn cho thấy: Việc ĐG cán bộ có ý nghĩa và
vai trò rất quan trọng nhưng để ĐG được đúng cán bộ cũng là một việc vô

Nhất là những cán bộ giữ các cương vị lãnh đạo bằng nhiều hình thức, thủ
đoạn khác nhau. Thực tế đã có một số cán bộ có chức, có quyền đã có quá
trình tham gia cách mạng, được đánh giá rất tốt nhưng do mắc bẫy kẻ thù đã
bị biến chất, thoái hoá, thậm chí mắc sai lầm nghiêm trọng.
Bốn là, cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới phát triển như vũ
bão. Mỗi cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý cần
nhận thức vấn đề này để vừa nâng cao nhận thức, tư tưởng, vừa phấn đấu
nâng cao cả trình độ sử dụng khoa học - công nghệ, kỹ năng lãnh đạo vừa có
biện pháp thực hiện nhằm nâng cao trình độ và năng lực quản lý điều hành; sự
sáng tạo nghiên cứu khoa học công nghệ. Với vấn đề này, nhiều người cán bộ
đã có được những kết quả nghiên cứu khoa học rất có giá trị.
Thực tiễn đất nước ta đã trải qua một quá trình chiến tranh lâu dài, gian
khổ chống xâm lược. Cán bộ và nhân dân ta phải chịu đựng nhiều khó khăn,
thiếu thốn cả vật chất và tinh thần. Đến nay, thời thế cách mạng đã chuyển
sang giai đoạn mới - hoà bình và phát triển, đòi hỏi người cán bộ phải có ý chí
nghị lực và tinh thần mới, đấu tranh với kẻ thù nghèo nàn, lạc hậu. Trong bối
cảnh đan xen giữa yếu tố tích cực và tiêu cực, vấn đề phải có thời gian và tinh
thần kiên quyết, một nghị lực mới, phát huy bản chất của người cộng sản không bị cám dỗ bởi những tiêu cực và vững vàng vượt qua được quá trình
chọn lọc, thử thách để đảm bảo được tiêu chuẩn người cán bộ lãnh đạo, quản
lý đúng với yêu cầu mới hiện nay. Làm thế nào để đánh giá đúng được cán bộ
một cách chân thực, khách quan và đúng bản chất người cán bộ không phải
dễ. Thưc tiễn hoạt động đấu tranh cách mạng của Đảng đã cho thấy việc cần
13


thiết phải nhận xét, ĐG và phải ĐG giá nhận xét đúng cán bộ là một công việc
cần thiết và rất hệ trọng.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc
xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thực sự là

tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền” đề tài này tác giả đã tập trung vào xây
dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng giảng dạy đại học và chất lượng chương
trình đào tạo tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Mục tiêu môn học, Nội
dung môn học; Tài liệu học tập; Hoạt động kiểm tra đánh giá, Nội dung
chương trình đào tạo; Cấu trúc chương trình đào tạo; Trang thiết bị dạy học;
Hoạt động giảng dạy; Đánh giá chung toàn khoá học).v.v.
Qua các nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy rằng các nghiên cứu đều
tập trung hướng về đội ngũ nhà giáo và cán bộ giáo dục được triển khai
nghiên cứu ở nhiều bình diện khác nhau. Song chưa có những đề tài nghiên
cứu cụ thể về xây dựng bộ tiêu chí ĐG năng lực giảng dạy của giảng viên
(GV) trong trường đại học (ĐH). Trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đề xuất
hướng nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giảng
viên trong trường đại học mục đích nằm bước đầu đề xuất cơ sở lý thuyết và
thực tiễn cho việc xây dựng bộ tiêu chí.
Ngoài ra, những năm gần đây còn có hàng loạt các công trình nghiên
cứu khoa học tại các hội thảo nâng cao và đảm bảo chất lượng giáo dục đại
học được tổ chức định kỳ ở cấp Nhà nước và cấp Đại học Quốc gia đây là
nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho đề tài luận văn này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Khái niệm năng lực
Có rất nhiều cách tiếp cận, hiểu khác nhau về khái niệm năng lực (NL)
và theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi) thì NL là khả năng đơn
lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng

15


cụ thể, NL có thể được ĐG thông qua kết quả có thể quan sát và đo đếm
được.
Theo các nhà nghiên cứu Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn: Năng

đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người học, muốn
người học phát huy khả năng sáng tạo, tư duy độc lập và chủ động sáng tạo
trong học tập đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay cần
phải đổi mới chương trình đào tạo, đặc biệt là đối với đội ngũ GV và nâng cao
NLGD cho đội ngũ này là điều hết sức cần thiết.
- NL hiểu biết rộng, để phát triển nhân cách cho sinh viên (SV) thì
giảng viên phải có tri thức, thái độ, tình cảm, quan điểm, kỹ năng... mà loài
người đã khám phá ra, do vậy NL nắm vững, làm chủ những tri thức thuộc
lĩnh vực giảng dạy của mình là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bài của
GV.
- NL hiểu SV trong quá trình giảng dạy, được xem là chỉ số cơ bản của
NL sư phạm là điều kiện tiên quyết để hoạt động giảng dạy của GV thành
công, GV hiểu mọi hoàn cảnh của SV để có biện pháp tác động phù hợp, giúp
cho SV có được sự phát triển tốt nhất. NL hiểu SV trong quá trình giảng dạy
được ĐG theo các vấn đề: Dự đoán được mức độ khó khăn và thuận lợi của
SV khi tiếp thu bài mới; Nắm vững trình độ của SV; Đo lường được mức độ
hiểu bài của SV; Hiểu biết các đặc điểm nhân cách của SV (tính cách, thiên
hướng, sở trường...); Có khả năng phân tích, tổng hợp xây dựng chân dung
tâm lý của SV; Quan sát và xác định phản hồi của SV; Ghi nhớ các đặc điểm
riêng của từng SV.
- NL nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học chuyên môn là một
trong những nhiệm vụ của GV và còn là biện pháp nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. NL này được ĐG ở: Khả năng nhận biết, nhận xét, phân tích
công việc của người khác và rút ra kinh nghiệm của bản thân; phát hiện vấn
đề nảy sinh trong tri thức khoa học và giáo dục SV, phát triển thành đề tài
17


nghiên cứu; Thành quả của nghiên cứu khoa học và bài giảng được gắn với
đời sống xã hội; Có nhu cầu tự học, tự nghiên cứu.

động tối đa sự tham gia của SV vào thực hiện kế hoạch.
- NL vạch dự án phát triển nhân cách, được tạo nên từ nhiều yếu tố tâm
lý như: óc tưởng tượng sư phạm, tính lạc quan sư phạm. Nhờ có công việc
này mà công việc của giáo viên trở nên có kế hoạch, chủ động và sáng tạo.
NL này ĐG trên cơ sở: Kỹ năng vạch kế hoạch phát triển nhân cách cho SV;
Xây dựng mô hình nhân cách cho SV; Dự đoán được kết quả tác động sư
phạm đối với SV; SV biết phân tích phê phán, biết hình thành lý lẽ của cá
nhân, tập thể; Biết tự tìm kiếm kiến thức; Hình thành cho SV tình yêu môn
học, ngành học, khát khao mang kiến thức của mình phục vụ xã hội.
- NL ứng xử sư phạm, Trong quá trình giáo dục, GV thường đứng trước
nhiều tình huống sư phạm khác nhau. Do vậy, đòi hỏi GV phải hiểu tâm lý
SV, hiểu những điều đang diễn ra trong suy nghĩ của SV, mặt khác đòi hỏi
GV phải giải quyết linh hoạt các tình huống sư phạm của từng cá nhân cũng
như tập thể SV. NL này được đánh giá qua: Phân tích, nhận định tình huống
chính xác; Sử dụng hợp lý đúng mức các mức tác động sư phạm; Giải quyết
vấn đề hợp lý và biết nắm bắt cơ hội.
- NL giao tiếp, NL này là một thành phần cơ bản của hoạt động sư
phạm, GV không chỉ giao tiếp với SV trong giờ học mà còn các giờ hoạt động
ngoại khoá và các hoạt động khác trong và ngoài trường. NL này được ĐG ở
kỹ năng: Luôn đặt mình vào vị trí của SV và các bậc phụ huynh; Biết tìm ra
chủ đề giao tiếp và duy trì giao tiếp; Biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ; Biết xác định thời gian và không gian giao tiếp.
1.2.3. Khái niệm dạy học
Giảng dạy là sự điểu khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái
niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách.
Giảng dạy và học tập có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học tập
nhằm vào việc chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì giảng dạy lại có mục đích là
19



- ĐG thường xuyên cung cấp cái nhìn mới hoặc những thông tin mới
mà trước đây chưa được dự tính.
- Qua nhiều năm, ĐG được xem như một quá trình đối lập. Mục đích sử
dụng chính của nó là cung cấp sự "tán thành" hay "phản đối" về một chương
trình hoặc một dự án. Với nhiệm vụ này nó thường được chương trình hoặc
dự án xem như giám đốc hoặc điều phối viên là một vị trí ở bên ngoài luôn đe
doạ cản trở và có vẻ không hữu ích với thành viên của dự án. Trong khi điều
đó có thể đúng ở một vài trường hợp các ĐG không cần và hầu hết không
được tiến hành theo phương thức đối lập đó.
- Quan điểm hiện nay về đánh giá nhấn mạnh mối quan hệ hợp tác giữa
ĐG giá và thực hiện chương trình. ĐG không tách riêng khỏi hoặc thêm vào
một dự án mà là một phần của dự án từ khi nó bắt đầu. Lập kế hoạch, ĐG và
thực hiện là các phần của toàn bộ quá trình và chúng thực sự có hiệu quả nhất
khi chúng được kết hợp với nhau.
Lập kế hoạch dự án/điều
chỉnh

Những đánh giá cần thiết và
Đánh giá dự án

thu thập cơ sở dữ liệu

Thực hiện dự án

Sơ đồ 1.1. Chu trình đánh giá.
- ĐG cung cấp các thông tin cho những người hưởng lợi khác nhau. Nó
cho phép dự án thực hiện tốt hơn và chứng tỏ được giá trị của chúng, nó cũng

21



nếu có hiệu quả có thể hỗ trợ cho việc triển khai dự án và đảm bảo rằng
không có điều ngạc nhiên nào không được chờ đón trong suốt quá trình giám
sát.
- Đánh giá tiến độ: Mục tiêu của ĐG tiến độ là ĐG những tiến độ trong
việc đạt được các mục đích của chương trình và dự án. Nó bao gồm việc thu
thập thông tin để xác định liệu các tiến độ vượt bậc có đạt được không và chỉ
ra những phát triển không mong đợi. ĐG tiến độ thu thập thông tin nhằm xác
định ảnh hưởng của các hoạt động và chiến lược đối với người tham gia
chương trình học hoặc các cơ sở đào tạo ở các giai đoạn khác nhau của sự can
thiệp là gì? Bằng cách đo sự tiến bộ nhân viên hoặc cán bộ của dự án có thể
loại trừ nguy cơ những người tham gia đã trải qua toàn bộ chương trình để
đánh giá các kết quả. Nếu các dữ liệu được thu thập là một phần của ĐG tiến
độ không chỉ ra được những thay đổi mong đợi, các thông tin có thẻ được sử
dụng để điều chỉnh dự án. Dữ liệu thu thập được có thể đóng góp hoặc hình
thành cơ sở cho ĐG tổng kết được tiến hành trong tưong lai.
- ĐG tiến độ rất hữu ích trong một vòng đời của dự án, nhưng điều
quan trọng nhất trong những giai đoạn đầu khi các hoạt động được thử
nghiệm và những hiệu quả đơn lẻ hoặc khớp với các thành phần dự án khác
chưa được biết đến.
1.2.4.2. Đánh giá tổng kết
Mục đích của ĐG tổng kết là đánh giá sự thành công của một dự án đã
trưởng thành trong quá trình đạt được mục tiêu đã đề ra. ĐG tổng kết (đôi khi
được đề cập đến như là ĐG ảnh hưởng hoặc kết quả) thường đặt ra rất nhiều
câu hỏi giống nhau cũng như ĐG tiến độ, nhưng nó diễn ra sau khi dự án đã
được thiết lập và khung thời gian định sẵn cho sự thay đổi đã xảy ra.
- Những thành phần nào có hiệu quả nhất? Những thành phần nào cần
cải thiện?
- Những kết quả nào xứng đáng với chi phí của chương trình?
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status