ây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường đại học - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN THUỶ
XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
CÁN BỘ GIẢNG DẠY TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục
Chuyên ngành đào tạo thí điểm TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội - 2010
1
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
7
1. Lý do chọn đề tài
7
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
3. Mục đích nghiên cứu
10
4. Câu hỏi nghiên cứu
11
5. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

1.3.1.2. Một số tiêu chí đánh giá giảng viên hiện nay
28
1.3.1.3. Các phương pháp đánh giá giảng viên hiện hành
33
1.4. Thực tiễn công tác đánh giá giảng viên trong trường đại học ở
Việt Nam
33
2
1.4.1. Thực trạng đội ngũ nhà giáo
33
1.4.2. Việc đánh giá giảng viên đại học
36
1.4.2.1. Đánh giá của SV
37
1.4.2.2. Tự đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên
39
Chƣơng 2: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN
50
2.1. Hình thành bộ tiêu chí
50
2.1.1. Các phương pháp và cách tiếp cận đánh giá
50
2.1.2. Nội dung các tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giảng
viên
50
2.1.3. Phương pháp thu thập thông tin

3
Những cụm từ viết tắt đƣợc sử dụng trong luận văn - ĐG
Đánh giá
- ĐH
Đại học
- GV
Giảng viên
- NG&CBQLGD
Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- NL
Năng lực
- SV
Sinh viên
64
Bảng 2.6
Số liệu trung bình chung và độ lệch chuẩn về trả lời
phiếu hỏi của sinh viên.
65
5
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát huy lợi thế cạnh tranh quốc tế của Việt
Nam về nguồn lực con người trong quá trình toàn cầu hoá. Đây là trách nhiệm
của toàn Đảng, của hệ thống chính trị xã hội, của toàn dân, trong đó các nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục (NG&CBQLGD) là những người trực tiếp

- Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ NG&CBQLGD của hệ thống
giáo dục quốc dân;
- Nghị định số 35/2001/NĐ-CP về chế độ chính sách đối với
NG&CBQLGD công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn, nay được thay thế bằng Nghị định 61/2006/NĐ-CP;
- Nghị quyết số 09/2003/NQ-CP góp phần quan trọng trong việc sắp
xếp đội ngũ, giải quyết giáo viên không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;
Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới, nhất là trong bối
cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh
thế thế giới với nhiều thời cơ, vận hội nhưng cũng phải đối mặt với không ít
những khó khăn và thách thức. Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng
định quan điểm nhất quán về tư tưởng, chủ trương hành động là coi “con
ngƣời là vốn quý nhất”. Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ được coi là
“quốc sách hàng đầu”. Văn kiện Đại hội X chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo với
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thức
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”. Mục tiêu của giáo dục nước ta
là “đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức,
sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng
7
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”. [26]
Ngày nay, việc đảm bảo chất lượng đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực đào
tạo đại học là một trong những mục tiêu chiến lược của nhà nước và của các
trường đại học, một trong những điều kiện để đảm bảo và nâng cao chất
lượng giáo dục đại học mà các trường đại học đang sử dụng là công tác kiểm

Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Việc nghiên cứu đề xuất xây dựng bộ tiêu
chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trường đại học có nhiều cách tiếp cận,
khía cạnh để nghiên cứu. Trong đó, năng lực và nhiệm vụ trọng tâm của cán
bộ trong trường đại học là giảng dạy và để làm tốt công tác này các năng lực,
nhiệm vụ khác như nghiên cứu khoa học, tổ chức, hiểu sinh viên…có nhiệm
vụ hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy đạt kết quả cao. Do vậy, trong khuôn khổ
nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ và để nghiên cứu đạt kết quả cao chúng
tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất của cán bộ
giảng dạy là năng lực giảng dạy của giảng viên, từ đây chúng tôi tập trung vào
nghiên cứu và đề xuất: “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy
của giảng viên trong trường đại học”.
Phạm vi về không gian và thời gian: Nghiên cứu này tập trung áp dụng
thử nghiệm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Phạm vi về loại hình đánh giá: Nghiên cứu này tập trung vào hai loại
hình đánh giá chính đó là:
- Tự đánh giá của giảng viên.
- Sinh viên đánh giá giảng viên.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Hình thành cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong trường đại học.
- Mô tả nội dung bộ tiêu chí đánh giá
- Kiểm chứng độ tin cậy của bộ tiêu chí đánh giá.
9
4. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:

chuyên gia có kinh nghiệm trong giáo dục đại học.
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS và phần mềm Quest.
5.3. Mô tả mẫu nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí có thể áp dụng thử nghiệm:
- Chọn ngẫu nhiên 220 cán bộ giảng dạy để phát phiếu tự đánh giá năng
lực giảng dạy của giảng viên.
- Chọn ngẫu nhiên 250 sinh viên để phát phiếu hỏi ý kiến sinh viên về
năng lực giảng dạy của giảng viên.
6. Phạm vi và thời gian khảo sát
- Phạm vi nghiên cứu: Tại một trong số các trường đại học thành viên
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Thời gian triển khai nghiên cứu: Dự kiến sẽ nghiên cứu trong khoảng
12 tháng (từ tháng 4/2009 đến tháng 4/2010).
7. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan, cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Đề xuất xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy
của giảng viên trong trường đại học.
Kết luận và khuyến nghị
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục.



12
ngũ cán bộ tốt thì dứt khoát là đơn vị hoặc địa phương đó sẽ vững mạnh và
khá tốt.
Từ cơ sở lý luận đến thực tiễn cho thấy: Việc ĐG cán bộ có ý nghĩa và
vai trò rất quan trọng nhưng để ĐG được đúng cán bộ cũng là một việc vô
cùng khó khăn. Hồ Chủ tịch cũng đã đề cập đến vấn đề này và khẳng định:
"biết người cố nhiên là rất khó".
Trong thời gian qua, thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước
trong xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhận xét
ĐG cán bộ ngày càng dân chủ, khách quan, công khai hơn trước. Nhưng vẫn
còn là việc ĐG chung chung ở một số cơ quan cấp uỷ đảng và chủ yếu nêu ưu
điểm. Có tình trạng còn né tránh. Việc ĐG cán bộ hàng năm có khi chưa được
bổ sung lưu giữ vào hồ sơ cán bộ. Như vậy, vô hình chung là đã buông lỏng
quản lý cán bộ, theo dõi cán bộ sẽ không được liên tục, hệ thống và sẽ khó
khăn cho việc đề bạt, bổ nhiệm hoặc điều động, luân chuyển cán bộ.
Nhưng ĐG đúng cán bộ là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp.
Trong quá trình ĐG cán bộ, có nhiều tác động khách quan ảnh hưởng đến
việc ĐG cán bộ.
Một là, vấn đề hội nhập quốc tế và khu vực với phương châm đa dạng
hoá, đa phương hoá đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội. Trong đó mỗi
con người, mỗi tổ chức có những chức năng, nhiệm vụ suy nghĩ, việc làm
khác nhau vì vậy đã làm cho việc ĐG cán bộ khó khăn, phức tạp thêm. Sự
khó khăn, phức tạp đó còn thể hiện ở chỗ: có người bên ngoài thì tốt, nhưng
suy nghĩ bên trong, những việc làm chưa bộc lộ bằng hành động thì rất khó
ĐG.
Hai là, cơ chế thị trường tác động đến đời sống vật chất của người cán
bộ. Bên cạnh đó, mỗi người cán bộ có nhiều mối quan hệ khác nhau tác động
đến. Vì vậy, có không ít trường hợp tổ chức cơ quan có nhận xét ĐG tốt, 14
thiết phải nhận xét, ĐG và phải ĐG giá nhận xét đúng cán bộ là một công việc
cần thiết và rất hệ trọng.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc
xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thực sự là
những định hướng quan trọng cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Ở trong nước, những năm gần đây một số luận văn thạc sỹ đã chọn đề
tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục
làm đề tài tốt nghiệp. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển ĐNCBQL
chủ yếu đề cập tới đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Chẳng hạn tác giả
Nguyễn Văn Thêm đề xuất các “Biện pháp quản lý của phòng giáo dục trong
công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phổ thông huyện Yên
Dũng tỉnh Bắc Giang” đề tài này tác giả tập trung đi sâu vào nghiên cứu và
đưa ra các biện pháp làm thế nào để quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ giáo
dục phổ thông; Tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy nghiên cứu “Một số biện pháp
phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng mầm non tỉnh Bình Định đến năm
2010” ở đề tài này người nghiên cứu lại chú trọng vào công tác quản lý và
phát triển đội ngũ cán bộ giáo dục mầm non; Tác giả Nguyễn Văn Toàn
nghiên cứu “Các giải pháp quản lý của phòng giáo dục nhằm nâng cao chất
lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng tiểu học” đề tài của tác giả Nguyễn Văn
Toàn tập trung nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục tiểu học. Tác giả Hoàng Hồng Trang nghiên cứu “Những
biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý ở các phòng ban chức năng của
Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong
giai đoạn hiện nay”, Tác giả Sái Công Hồng nghiên cứu “Xây dựng các tiêu

Có rất nhiều cách tiếp cận, hiểu khác nhau về khái niệm năng lực (NL)
và theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi) thì NL là khả năng đơn
lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng
16
cụ thể, NL có thể được ĐG thông qua kết quả có thể quan sát và đo đếm
được.
Theo các nhà nghiên cứu Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn: Năng
lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có
kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy [20]. Còn nhà tâm lý học người Pháp -
Denyse Tremblay thì cho rằng năng lực là khả năng hành động, đạt được
thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng
hiệu quả nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc
sống.
Nghiên cứu này xác định năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu
cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một công việc cụ thể
hay nói cách khác NL là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể
hiện thông qua các hoạt động có hiệu quả. Muốn đánh giá NL cá nhân phải
xem xét chúng trong hoạt động, NL của người lao động đáp ứng với yêu cầu
công việc là sự tổng hợp toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm được tích
luỹ trong quá trình học tập tại các cơ sở đào tạo và trong thời gian làm thực tế
được biểu hiện qua mức độ hoàn thành công việc của họ.
NL được thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể có kết quả, NL dưới
dạng tổng thể giúp các nhân nắm bắt và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cấu
trúc các thành tố của năng lực linh hoạt, dễ chuyển hoá khi môi trường và yêu
cầu hoạt động thay đổi. NL được ĐG thông qua việc theo dõi toàn bộ tiến
trình hoạt động của cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau. Đây chính là cách

riêng của từng SV.
- NL nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học chuyên môn là một
trong những nhiệm vụ của GV và còn là biện pháp nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. NL này được ĐG ở: Khả năng nhận biết, nhận xét, phân tích
công việc của người khác và rút ra kinh nghiệm của bản thân; phát hiện vấn
đề nảy sinh trong tri thức khoa học và giáo dục SV, phát triển thành đề tài
18
nghiên cứu; Thành quả của nghiên cứu khoa học và bài giảng được gắn với
đời sống xã hội; Có nhu cầu tự học, tự nghiên cứu.
- NL soạn bài giảng, GV phải đưa tri thức khoa học vào các bài giảng
và làm cho người khác tiếp nhận các tri thức đó, để làm được việc này đòi hỏi
GV phải có năng lực soạn bài giảng; thể hiện ở chỗ là GV có khả năng đánh
giá đúng giá trị tài liệu học tập nghĩa là xác lập mối quan hệ giữa yêu cầu kiến
thức đối với trình độ nhận thức của SV. NL này được ĐG qua một số kỹ
năng; xác định được các kiến thức cơ bản trong bài giảng; Xác định các quan
hệ các kiến thức trong bài giảng; Xác định và huy động các kiến thức liên
quan đến bài giảng; Liên hệ và ứng dụng bài giảng vào thực tiễn xã hội; Sử
dụng các phương tiện, phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung của bài
giảng; Các hoạt động của SV cần thực hiện trong bài học; Phân phối thời gian
giảng dạy hợp lý; Dự liệu được các tình huống nảy sinh trong lớp học.
- NL dạy học trên lớp, Quá trình dạy học bao gồm hoạt động của thầy
(hoạt động dạy học) và hoạt động của trò (hoạt động học tập) và thầy là chủ
thể của hoạt động dạy học và học trò là chủ thể của hoạt động học tập. Năng
lực này được ĐG ở một số kỹ năng sau; Tổ chức cho SV các hoạt động học
tập; Diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ; Sử dụng các phương tiện dạy
học hiện đại; Thực hiện các thí nghiệm, thực nghiệm; Bao quá lớp học; Phân
phối thời gian giảng dạy hợp lý; Giải quyết các tình huống phát sinh trong giờ

phạm, GV không chỉ giao tiếp với SV trong giờ học mà còn các giờ hoạt động
ngoại khoá và các hoạt động khác trong và ngoài trường. NL này được ĐG ở
kỹ năng: Luôn đặt mình vào vị trí của SV và các bậc phụ huynh; Biết tìm ra
chủ đề giao tiếp và duy trì giao tiếp; Biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ; Biết xác định thời gian và không gian giao tiếp.
1.2.3. Khái niệm dạy học
Giảng dạy là sự điểu khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái
niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách.
Giảng dạy và học tập có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học tập
nhằm vào việc chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì giảng dạy lại có mục đích là
20
điều khiển sự học tập.
Giảng dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm
nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều
khiển hoạt động học (GS. Nguyễn Ngọc Quang).
Theo PGS. Lê Đức Ngọc - ĐHQG Hà Nội thì dạy đại học là dạy nhận
thức, dạy kĩ năng và dạy cảm nhận. Tùy theo khoa học (Tự nhiên hay Xã hội -
nhân văn, Cơ bản hay Công nghệ, Kĩ thuật ) và tùy theo mục tiêu đào tạo
(đại học hay sau đại học, chuyên môn hay nghiệp vụ, ) mà chọn chủ điểm
hay trọng tâm về dạy nhận thức, dạy kĩ năng hay dạy cảm nhận cho phù hợp
[13].
Tính nghệ thuật của việc giảng dạy đại học thể hiện ở năng lực truyền
đạt của người dạy làm sao cho khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển và
sáng tạo của SV để nhận thức, để cảm nhận và để có kĩ năng cao.
1.2.4. Khái niệm đánh giá
Khái niệm về ĐG đã tồn tại cách đây rất lâu, ở Trung Quốc đã có hệ
thống đánh giá chức năng 2000 năm trước công nguyên. ĐG có thể đồng
Lập kế hoạch dự án/điều
chỉnh Đánh giá dự án
Những đánh giá cần thiết và
thu thập cơ sở dữ liệu

Thực hiện dự án
Sơ đồ 1.1. Chu trình đánh giá.

án hoặc người ĐG để xem các yếu tố cần thiết có được chuẩn bị đầy đủ hay
chưa. Giám sát là quá trình kiểm tra ngoài, người giám sát chủ yếu đến từ các
cơ quan cấp vốn và chịu trách nhiệm giám sát sự tiến triển và việc tuân theo
một hợp đồng của dự án. Mặc dù hai hình thức này khác nhau, ĐG triển khai
23
nếu có hiệu quả có thể hỗ trợ cho việc triển khai dự án và đảm bảo rằng
không có điều ngạc nhiên nào không được chờ đón trong suốt quá trình giám
sát.
- Đánh giá tiến độ: Mục tiêu của ĐG tiến độ là ĐG những tiến độ trong
việc đạt được các mục đích của chương trình và dự án. Nó bao gồm việc thu
thập thông tin để xác định liệu các tiến độ vượt bậc có đạt được không và chỉ
ra những phát triển không mong đợi. ĐG tiến độ thu thập thông tin nhằm xác
định ảnh hưởng của các hoạt động và chiến lược đối với người tham gia
chương trình học hoặc các cơ sở đào tạo ở các giai đoạn khác nhau của sự can
thiệp là gì? Bằng cách đo sự tiến bộ nhân viên hoặc cán bộ của dự án có thể
loại trừ nguy cơ những người tham gia đã trải qua toàn bộ chương trình để
đánh giá các kết quả. Nếu các dữ liệu được thu thập là một phần của ĐG tiến
độ không chỉ ra được những thay đổi mong đợi, các thông tin có thẻ được sử
dụng để điều chỉnh dự án. Dữ liệu thu thập được có thể đóng góp hoặc hình
thành cơ sở cho ĐG tổng kết được tiến hành trong tưong lai.
- ĐG tiến độ rất hữu ích trong một vòng đời của dự án, nhưng điều
quan trọng nhất trong những giai đoạn đầu khi các hoạt động được thử
nghiệm và những hiệu quả đơn lẻ hoặc khớp với các thành phần dự án khác
chưa được biết đến.
1.2.4.2. Đánh giá tổng kết
Mục đích của ĐG tổng kết là đánh giá sự thành công của một dự án đã
trưởng thành trong quá trình đạt được mục tiêu đã đề ra. ĐG tổng kết (đôi khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status