Luận văn hoạt động quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở VN - Pdf 37

Lời nói đầu
Từ hàng chục năm nay, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần quan
trọng trong việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tợng hởng bảo
hiểm xã hội và gia đình họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống nh ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm
hoặc mất nguồn thu nhập. Chính sách BHXH cũng có tác dụng động viên
công nhân viên chức, lực lợng vũ trang yên tâm công tác sản xuất, chiến đấu
góp phần thắng lợi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng XHCN. Bớc sang cơ chế kinh tế mới với quan hệ lao động phong
phú, đa dạng, chính sách BHXH trong cơ chế cũ không còn phù hợp nữa. Do
đó việc nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận nhằm đổi mới hoàn
thiện chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình mới là một yêu cầu cấp
thiết.
Quỹ BHXH là một nội dung rất quan trọng trong chính sách BHXH.
Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng nó vừa
mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật
chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Chính vì vậy, việc đảm bảo hệ thống tài chính cho quỹ BHXH là hết sức cần
thiết và mang ý nghĩa sống còn đối với hoạt động của BHXH. Thông qua việc
xem xét đánh giá cơ chế quản lý BHXH ở Việt nam từ đó đa ra những kiến
nghị nhằm hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý quỹ BHXH cho phù hợp với
giai đoạn mới. Từ những lý do trên và quá trình thực tập tôi đã chọn đề tài
"Hoạt động quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt nam".
Kết cấu đề tài gồm ba chơng:
Chơng I : Lý luận chung về Bảo hiểm xã hội.
Chơng II : Thực trạng quản lý quỹ Bảo hiểm XH ở Việt nam.
Chơng III: Hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý quỹ BHXH.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy giáo và
các cán bộ Vụ BHXH - Bộ LĐTBXH đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.

BHXH đợc định nghĩa nh vậy phản ánh tổng quát về mục tiêu, bản chất
và chức năng của sự nghiệp này. BHXH có mục đích cuối cùng là hớng tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội, thể hiện sự gắn kết quyền lợi và
trách nhiệm của các cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội với mỗi ngời.
BHXH là một trong những quyền cơ bản của con ngời trong một xã hội
hiện đại và mục tiêu cao cả nhất của nó là vì sự an toàn, phòng tránh đợc hậu
quả về những tổn thất, thất bại gây ra bởi những rủi ro trong cuộc sống hay
trong quá trình lao động. BHXH hớng tới sự phát triển, sự đảm bảo tốt nhất
cho con ngời, góp phần quan trọng vào tạo lập sự ổn định và thịnh vợng của
xã hội .

2


Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng của
Đảng và Nhà nớc. ở nớc ta, hiện nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về
BHXH, tuỳ cách tiếp cận. Từ giác độ thu ta có thể hiểu: BHXH là sự bảo
đảm thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi họ bị mất việc
làm, thông qua việc hình thành sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các
bên tham gia BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của ngời lao
động và gia đình họ, đồng thời đảm bảo an toàn xã hội. Theo các nhà hoạt
động trong lĩnh vực lao động và xã hội thì BHXH là sự đảm bảo của xã hội
đối với ngời lao động, thông qua việc huy động nguồn đóng góp của ngời sử
dụng lao động, ngời lao động và sự hỗ trợ của Nhà nớc để trợ cấp cho ngời lao
động khi họ bị mất sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già và chết
nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, đồng thời
góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Theo các nhà làm luật, thì BHXH là một
chế định bảo vệ ngời lao động.
Nh vậy, khái niệm BHXH đang đợc sử dụng ở Việt nam hẹp hơn, không

cầu về BHXH và cũng là những nhu cầu tự nhiên trong hệ thống các nhu cầu
về cuộc sống của con ngời. Điều này xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm
bảo các tiêu chuẩn hay giá trị cho một cuộc sống tối thiểu. Theo nhà nghiên
cứu tâm lý và hành vi của con ngời Maslow, nhu cầu BHXH nằm trong nhóm
nhu cầu ở bậc thiết yếu cùng với các nhu cầu về điều kiện sinh tồn khác là ăn,
ở, mặc và đi lại mức tối thiểu nhất. BHXH cần phải đợc đảm bảo trớc khi thoả
mãn các nhu cầu xã hội khác rộng hơn trong đời sống con ngời.
BHXH thực sự là một nhu cầu bức thiết. C. Mác đã từng viết Vì nhiều
rủi ro khác nhau nên phải dành một số thặng d nhất định cho quỹ BHXH để
mở rộng theo kiểu luỹ tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết, phù hợp
với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số. BHXH thoả mãn các
nhu cầu về đảm bảo cuộc sống nh đã trình bày ở trên, BHXH còn là cần thiết
để tái sản xuất sức lao động, một trong những tiền đề quan trọng nhất để tái
sản xuất xã hội.
2.2. Dới góc độ kinh tế:
BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp. Trong đó: đối với những ngời
hởng các chế độ BHXH, đó là sự đảm bảo thu nhập, bảo đảm cuộc sống khi
họ ở trong điều kiện khó khăn do giảm hoặc mất khả năng lao động mà giảm
hay mất thu nhập, thông qua việc tích luỹ dần của cá nhân trong quỹ BHXH
và sự đóng góp của số đông những ngời có cùng khả năng gặp rủi ro nh nhau.
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hoạt động BHXH mang nội dung
của quá trình phân phối lại một phần thu nhập trong dân c thông qua việc hình
thành và sử dụng quỹ BHXH, một quỹ tiền tệ tập trung có quy mô rất lớn và
ngày càng tăng lên.
Khi có sự phát triển của thị trờng tài chính và nếu đợc sự quản lý và sử
dụng tốt, quỹ BHXH còn có khả năng sinh lời từ đầu t hợp pháp khác nhau.
Việc sử dụng quỹ BHXH để đầu t sinh lời đợc thấy rõ trong các nớc có nền
kinh tế thị trờng phát triển. Hiện tại BHXH Việt nam bắt đầu thực hiện hoạt
động này nh dùng quỹ để mua trái phiếu. Trong tơng lai, việc sử dụng quỹ
BHXH vào các hoạt động đầu t cũng sẽ đợc mở rộng ra với nhiều hình thức

trong những ràng buộc giữa những con ngời với nhau trong những mối quan
hệ nhất định trong cộng đồng mặc dù xuất phát điểm bao giờ cũng là nhu cầu
của mỗi con ngời. BHXH gắn liền với những biến cố làm giảm hoặc mất khả
năng lao động, mất việc làm, đó có thể là những rủi ro ngẫu nhiên: ốm đau, tai
nạn lao động ... nhng cũng có thể là những trờng hợp xảy ra hoàn toàn không
ngẩu nhiên nh: tuổi già, thai sản. Đồng thời những biến cố đó có thể xảy ra cả
trong và ngoài quá trình lao động. Sự giảm hoặc mất khả năng lao động làm
giảm hoặc mất thu nhập, phần thu nhập này sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ
nguồn quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia đóng góp.

5


3. Sự cần thiết và tác dụng của BHXH
3.1. Sự cần thiết của BHXH:
Con ngời muốn tồn tại và phát triển luôn cần phải thoả mãn các nhu cầu
tối thiểu về vật chất và tinh thần và để thoả mãn các nhu cầu đó con ngời phải
lao động, sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm. Mặt khác, con ngời ai cũng phải
trải qua các giai đoạn phát triển của đời ngời đó là: sinh ra, lớn lên, trởng
thành và chết. Trong các giai đoạn sinh, lão, bệnh tử của con ngời thì không ai
có thể tồn tại độc lập khỏi sự giúp đỡ, chia sẻ của những ngời xung quanh.
Cuộc sống không phải lúc nào cũng diển ra bình thờng, con ngời không phải
bao giờ cũng gặp thuận lợi, có đủ thu nhập và điều kiện sinh sống mà trái lại
rủi ro luôn đi kèm với con ngời. Trong nhiều trờng hợp rủi ro bất ngờ xảy ra
làm cho ngời lao động bị giảm hoặc mất thu nhập hay những điều kiện sinh
sống khác do ốm đau, TNLĐ, già yếu. Khi rơi vào các trờng hợp đó, các nhu
cầu cần thiết của cuộc sống con ngời không vì thế mà giảm đi hoặc mất đi,
thậm chí còn tăng lên hoặc phát sinh những nhu cầu mới nh chi phí khám
chữa bệnh khi ốm đau xảy ra. Bởi vậy, muốn đảm bảo duy trì cuộc sống ngời
lao động làm thế nào để tạo ra nguồn thu nhập thay thế hoặc bù đắp.

rủi ro. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì cơ chế này bộc lộ nhiều bất
cập, tính pháp lý không cao. Do vậy, nhiều chủ sử dụng lao động đã không tự
giác tham gia, tính chất rủi ro còn quá lớn không có sự đảm bảo về tài chính
một cách vững chắc. Trớc tình hình đó, Nhà nớc phải can thiệp điều chỉnh, sự
can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nớc, một mặt Nhà nớc phải
tăng chi tiêu ngân sách, đồng thời buộc giới chủ và thợ phải góp thêm một
phần để đảm bảo cho chính mình. Từ đó, cả giới chủ và thợ đều đợc đảm bảo
và họ thấy có lợi. Các nguồn đóng góp của giới chủ, thợ và sự hỗ trợ của Nhà
nớc hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung- quỹ BHXH.
Mặt khác, khi nền kinh tế ngày càng phát triển những rủi ro đi liền với
nó cũng xuất hiện nh thất nghiệp, tai nạn lao động, ốm đau, những rủi ro này
gây ra thiệt hại về thu nhập ngày càng lớn hơn. Do vậy, BHXH cũng ngày
càng phải hoàn thiện hơn để thích ứng với tình hình cụ thể.
Nh vậy, BHXH ra đời là một đòi hỏi khách quan của thực tế và ngày
càng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia,
mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết phải tham gia BHXH, nó trở
thành quyền lợi và nhu cầu của ngời lao động và đợc thừa nhận là nhu cầu tất
yếu khách quan, một trong những quyền lợi cơ bản của con ngời nh Tuyên
ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
10/12/1948: Tất cả mọi ngời, với t cách là thành viên của xã hội đều có
quyền đợc hởng BHXH ...
3.2. Tác dụng của BHXH.
Trên cơ sở cơng lĩnh công ớc Giơnevơ (Công ớc năm 1952) các quốc
gia tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình mà có những hình thức tổ
chức BHXH riêng phù hợp. Tuy vậy, ở tất cả các quốc gia đều có chung một
điểm là: BHXH do Nhà nớc thống nhất và quản lý. Từ khi BHXH xuất hiện
đến nay, hoạt động này vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính cộng đồng, nhân
văn lớn, điều này cũng có nghĩa là dù kinh tế có phát triển đến mức độ nào, dù
có biến động nh thế nào về thể chế chính trị, xã hội thì bản chất BHXH vẫn


Cũng giống nh tất cả các loại hình bảo hiểm khác, BHXH cũng dựa trên
nguyên tắc lấy số đông bù số ít và vì vậy ngời lao động bình đẳng trong
nghĩa vụ đóng góp cũng nh trong quyền lợi nhận đợc từ quỹ BHXH. Tập hợp
tất cả những ngời đóng BHXH thuộc tất cả các ngành nghề, lĩnh vực hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Bao gồm tất cả các loại
công việc từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ nhàng đến nặng nhọc độc hại...

8


Chính vì thế tính chất xã hội của BHXH là rất cao. BHXH phân phối lại thu
nhập giữa các đối tợng khác nhau giữa những ngời có thu nhập cao và những
ngời có thu nhập thấp, giữa những ngời khoẻ mạnh đang làm việc và những
ngời ốm đau bệnh tật, thai sản ... Thực hiện chức năng phân phối lại, BHXH
cũng đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội.
d. BHXH tập trung đợc nguồn vốn lớn cho phát triển sản xuất.
Nguồn quỹ hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia cũng là
nguồn vốn nhàn rỗi có thể dùng để đầu t vào nền kinh tế quốc dân. Quỹ
BHXH có thể có số d và phần quỹ nhàn rỗi đợc đầu t cho các chơng trình kinh
tế, xã hội, vừa đóng góp vào xây dựng đất nớc vừa làm tăng trởng quỹ. Trong
điều kiện hiện nay hoạt động này có ý nghĩa rất quan trọng.
Ngoài ra, với chức năng giám đốc của mình, BHXH tiến hành kiểm tra,
giám sát việc tham gia và thực hiện chính sách BHXH để đảm bảo thực hiện
các nghĩa vụ và quyền lợi của ngời sử dụng lao động và ngời lao động theo
những quy định của pháp luật. Qua đó tạo điều kiện để ngời lao động yên tâm
làm việc, còn ngời sử dụng lao động chủ động hơn trong việc quản lý và sử
dụng lao động trong quá trình hoạt động của mình. Chức năng giám đốc còn
thể hiện ở các khâu nghiệp vụ của hoạt động BHXH và thực hiện chính sách
BHXH.
4. Nội dung cơ bản của BHXH.

bền vững.
4.2. Các yêu cầu có tính nguyên tắc của BHXH.
Lĩnh vực BHXH liên quan đến rất nhiều đối tợng, có phạm vi hoạt động
rất rộng và thể hiện trên nhiều mặt khác nhau. Để thực hiện đợc chức năng là
đảm bảo an toàn cho ngời lao động, khuyến khích ngời lao động trong quá
trình làm việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội, hoạt
động này phải tuân theo các nguyên tắc nhất định. Thực tế do tính chất hoạt
động và mục đích của BHXH không hoàn toàn nh nhau trong mọi điều kiện.
Do vậy, không thể có những nguyên tắc chung thống nhất cho mọi trình độ
phát triển, cho mọi hình thức BHXH ở tất cả các nớc. Tuy nhiên, về cơ bản
hoạt động BHXH phải đảm bảo thực hiện theo những yêu cầu mang tính
nguyên tắc chung sau đây:
a. Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và h ởng
quyền lợi về BHXH.
Yêu cầu này xuất phát từ quyền bình đẳng của mọi công dân trong xã
hội, một quyền lợi cao nhất mà mọi quốc gia đều thừa nhận và cam kết thực
hiện. Thực hiện yêu cầu này là sự đảm bảo mọi thành viên trong xã hội, trớc
hết là những ngời có nhu cầu tham gia vào lĩnh vực BHXH mà không hề có
bất cứ một sự phân biệt nào. Nhà nớc với t cách là ngời quản lý toàn bộ và đại
diện quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội có trách nhiệm đứng ra tổ chức
hệ thống BHXH để đáp ứng nhu cầu đó. Việc đảm bảo thoả mãn nhu cầu này
phải đợc thực hiện trên cơ sở một hệ thống pháp luật với những quy định luật

10


pháp và chính sách thích hợp. Đồng thời phải dựa trên cơ sở một hệ thống tổ
chức BHXH phát triển thống nhất và hoạt động có hiệu quả cao. Còn có một
bộ phận lớn cha tham gia vào BHXH chứng tỏ những hạn chế của hệ thống
BHXH trong việc thực hiện nguyên tắc này. Đây là một vấn đề cần đợc giải

độ cụ thể thích hợp trong BHXH.

11


e. Đảm bảo tính công bằng trong xã hội.
Đây là một nguyên tắc quan trọng nhng cũng rất phức tạp trong xây
dựng và thực hiện chính sách về BHXH. Sự công bằng trớc hết phải đợc xét
đến những mối quan hệ giữa đóng góp và hởng thụ. Ngời đóng nhiều phải đợc
hởng nhiều hơn. Công bằng còn phải đợc thực hiện trong việc để cho ngời lao
động có cơ hội tham gia vào BHXH. Tuy nhiên, cũng nh các lĩnh vực bảo
hiểm khác trong nhiều chế độ của BHXH vẫn mang tính chất bù trừ cho nhau
giữa những ngời cùng tham gia BHXH. Đó là lấy số đông bù số ít, lấy thời
gian dài trong đóng góp để tính trả cho thời gian hởng. Đó cũng là tính xã hội,
tính cộng đồng.
Do vậy khó có đợc một sự công bằng mang tính tuyệt đối, nhng phải
đảm bảo sự hợp lý và trớc hết vì lợi ích số đông của cộng đồng. Tính công
bằng sẽ đợc nâng cao cùng với việc nâng cao trình độ tổ chức và quản lý trong
lĩnh vực BHXH.
4.3. Các cấp độ thực hiện.
Trong từng điều kiện khác nhau, trớc hết là trình độ phát triển kinh tế,
hay trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội nhất định của mỗi nớc mà
phạm vi và nội dung thực hiện khác nhau. Sự khác nhau này biểu hiện ở 3 cấp
độ hoạt động của BHXH sau:
- Cấp độ thứ nhất: BHXH áp dụng cho mọi thành viên trong xã hội, dới
hình thức nh là bảo trợ xã hội. Đối tợng đợc hởng BHXH ở đây là những ngời
không có khả năng đóng phí BHXH. Đó là những ngời nghèo, những ngời
không có thu nhập hoặc thu nhập thấp. Việc chi trả cho các đối tợng này đợc
Nhà nớc đứng ra đảm bảo.
- Cấp độ thứ 2: BHXH thực hiện đối với những ngời có công việc làm

6) Trợ cấp gia đình.
7) Trợ cấp thai sản.
8) Trợ cấp tàn tật.
9) Trợ cấp mất ngời nuôi dỡng.
4.5. Tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH Việt nam .
Việc tổ chức thực hiện sự nghiệp BHXH do cơ quan BHXH Việt nam
đảm nhiệm. BHXH Việt nam trực thuộc Chính phủ và có 3 cấp: cấp Trung ơng; cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ơng và cấp quận (huyện). BHXH
Việt nam hoạt động dới sự điều hành của Hội đồng quản lý BHXH Việt nam ,
chịu sự quản lý Nhà nớc của Bộ LĐ- TBXH. Cơ quan BHXH Việt nam có
nhiệm vụ tổ chức thu BHXH, quản lý BHXH và chi các chế độ trợ cấp BHXH
theo quy định của Nhà nớc.
II. Khái niệm chung về quỹ BHXH

1. Khái niệm quỹ BHXH.

13


Trong đời sống kinh tế- xã hội ngời ta thờng nói đến rất nhiều loại quỹ
khác nhau nh quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ
dự trữ quốc gia. Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các
phơng tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo
những mục tiêu và định hớng trớc. Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng và điều
kiện vật chất để thực hiện các hoạt động BHXH.
Tất cả các loại quỹ không chỉ tồn tại với một khối lợng tỉnh tại tại một
thời điểm mà luôn luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và
giảm đi ở đầu ra với một khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo
cho đầu ra ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều
hành đợc một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một
thời điểm mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một

Trong thực tế không ai muốn mất việc làm hoặc mất, giảm khả năng lao
động để đợc hởng trợ cấp từ quỹ BHXH, do đó nó phù hợp với nguyên tắc
lấy số đông bù số ít. Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối lại thu nhập
giữa những ngời lao động có thu nhập khác nhau, giữa những ngời khoẻ mạnh
đang làm việc và những ngời đang ốm đau phải nghỉ việc hay giữa những ngời
đang hởng trợ cấp BHXH khác nhau. Từ đó cũng thấy rằng khả năng, vai trò
của quỹ BHXH trong việc phân phối lại thu nhập và công bằng xã hội, động
viên ngời lao động hăng hái làm việc: Khi ngời lao động đang làm việc sẽ có
thu nhập, còn khi mất khả năng lao động thì họ lại đợc hởng trợ cấp từ quỹ
BHXH. Nh vậy, họ đã có van an toàn để đảm bảo cuộc sống cho họ, đó là
chỗ dựa vững chắc khi họ không có khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh
viễn và làm cho ngời lao động yên tâm gắn bó với công việc.
Bên cạnh đó quỹ BHXH đầu t một phần vào các hoạt động kinh tế - xã
hội, khoản này không những tạo thêm khả năng mở rộng quỹ BHXH mà còn
góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Qũy BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết hậu
quả của rủi ro cho ngời tham gia, đảm bảo an toàn kinh tế cho ngời lao động
và gia đình họ, giảm thiểu tối đa thiệt hại kinh tế cho ngời sử dụng lao động,
tiết kiệm cho ngân sách Nhà nớc. Quỹ sử dụng để trợ cấp cho ngời lao động
và gia đình họ khi họ gặp phải rủi ro và một phần chi phí cho sự nghiệp quản
lý BHXH.
3. Nguồn hình thành quỹ BHXH.
Quỹ BHXH là một yếu tố mang tính chất sống còn đối với sự nghiệp
BHXH. Do đó, nguồn hình thành quỹ bao giờ cũng đợc quan tâm đúng mức
nhằm đảm bảo chi trả cho các đối tợng đợc hởng BHXH và đảm bảo cho hệ
thống BHXH hoạt động một cách có hiệu quả.
3.1. Sự đóng góp của ngời lao động
Hệ thống BHXH ở các nớc trên thế giới từ trớc đến nay chủ yếu vẫn
thực hiện trên nguyên tắc: Ngời tham gia BHXH phải đóng góp cho quỹ
BHXH mới đợc hởng trợ cấp BHXH. Ngời lao động tham gia đóng góp là để

định của Nhà nớc.
- Các nguồn thu khác: Tiền phạt do nộp chậm BHXH so với thời gian
quy định, tiền truy thu khi các đơn vị sử dụng lao động và ngời lao động đóng
thiếu tiền BHXH hoặc nhận thừa so với chế độ đợc hởng thụ.
Thông thờng sự đóng góp của ba bên: Ngời lao động, ngời sử dụng lao
động và Nhà nớc tạo ra nguồn quỹ cơ bản nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nớc mà tỷ lệ đóng góp
của mỗi bên đợc quy định khác nhau.

16


Ví dụ: ở Việt Nam, theo Nghị Định 12/CP (26/1/1995) đã quy định:
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung ngoài ngân sách Nhà nớc đợc
hình thành từ ba nguồn:
+ Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ lơng của
những ngời tham gia trong đơn vị.
+ Ngời lao động đóng bằng 5% lơng hàng tháng.
+ Ngân sách Nhà nớc (NSNN) đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực
hiện chế độ BHXH đối với ngời lao động.
Nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH là cân đối thu- chi.
4. Phân loại quỹ BHXH.
Để quản lý và sử dụng quỹ BHXH một cách có hiệu quả cần phải phân
loại quỹ BHXH. Có nhiều cách phân loại quỹ BHXH theo các tiêu thức khác
nhau, có thể phân loại nh sau:
* Phân loại theo tính chất sử dụng.
- Quỹ ngắn hạn: Chi trả cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp nhẹ.
- Quỹ dài hạn: Chi trả trợ cấp hu trí, tử tuất, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp nặng. Quỹ này chịu ảnh hởng của tài chính tiền tệ.

Trung ơng và địa phơng do Bộ LĐ- TBXH và Tổng liên đoàn lao động Việt
nam quản lý. BHXH Việt nam giúp Thủ tớng Chính phủ quản lý quỹ BHXH,
thực hiện các chính sách BHXH theo luật pháp Nhà nớc. BHXH Việt nam có
t cách pháp nhân, hạch toán độc lập, đợc Nhà nớc bảo hộ và quỹ BHXH đợc
quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nớc. BHXH Việt nam đặt dới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tớng Chính phủ, sự quản lý của Nhà nớc, của
Bộ LĐ- TBXH và các cơ quan quản lý Nhà nớc có liên quan, sự giám sát cua
tổ chức công đoàn.
III. Tình hình thực hiện BHXH ở một số quốc gia trên thế giới.

1. Mỹ.
a. Đối tợng tham gia:
ở Mỹ tất cả những ngời trong độ tuổi lao động là công dân Mỹ có thu
nhập, kể cả những ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc hộ
gia đình và lao động tự cung tự cấp có thu nhập trên mức thu nhập tối thiểu
(do Nhà nớc quy định mức tối thiểu) đều phải nộp thuế (một hình thức đóng
BHXH) hay còn gọi là thuế lơng cho quỹ BHXH.
b. Quỹ BHXH.
Nguồn tài trợ cho các chế độ trợ cấp BHXH là từ thuế phúc lợi xã hội
mà chính quyền liên bang thu. Trong số tiền lơng của ngời lao động, chính
quyền sẽ khấu trừ bớt số tiền thuế cố định. Sau đó đa các khoản thu này vào
các quỹ BHXH. Mức khấu trừ cụ thể:

18


- Ngời sử dụng lao động: 13,65%.
- Ngời lao động:
Tổng cộng:

7,65%.


19


- Quỹ trợ cấp hu trí, goá bụa, trợ cấp gia đình: Nguồn tài trợ này cũng
chủ yếu từ các khoảm đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
Đối với trợ cấp hu trí, ngời sử dụng lao động phải đóng bằng 9,8%, ngời lao
động đóng 6,55% tiền lơng, tổng cộng 16,35%. Để đợc hởng trợ cấp goá bụa
ngời lao động còn phải đóng góp 0,1%.
Đối với trợ cấp gia đình ngời lao động, ngời sử dụng lao động phải
đóng góp toàn bộ với tỷ lệ 5,4% lơng của ngời lao động.
c. Các chế độ BHXH.
ở Pháp phạm vi BHXH bao gồm hầu hết các chế độ BHXH theo quy
định của ILO (9 chế độ).
3. ở một số nớc Đông á.
ở Đông á, đối với những nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển sớm
trong khu vực, để tạo lập quỹ BHXH cũng dựa vào ba nguồn cơ bản: Ngời lao
động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc. Trớc hết là ngời sử dụng lao động và
ngời lao động phải đóng góp theo tỷ lệ trích vào lơng cho từng chế độ trợ cấp.
- ở Thái Lan, trợ cấp BHXH bao gồm: Thơng tật, ốm đau, thai sản, mất
khả năng lao động, tử tuất, tuổi già và thất nghiệp. Việc đóng BHXH theo cơ
chế: ngời lao động nộp 1/3 trên thu nhập, giới chủ nộp 1/3 và Nhà nớc 1/3. Ví
dụ chế độ thất nghiệp quy định: ngời lao động đóng 5%, ngời sử dụng lao
động đóng 5% và Nhà nớc 5%.
- ở Nhật Bản: sự đóng góp vào quỹ BHXH cũng tơng đối cao. Ngời lao
động phải dóng từ 3,5% đến 4,6% thu nhập hàng tháng, giới chủ đóng từ
25,5% đến 30,5%, còn Nhà nớc trợ cấp cho quỹ BHXH theo nhu cầu thiếu
hụt.
- ở Hàn quốc: Đối tợng tham gia là những ngời lao động thờng xuyên
ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp, các viên chức làm việc trong các cơ

đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động và đặc biệt là phụ thuộc
vào mức lơng của ngời lao động dùng làm căn cứ đóng BHXH trớc khi về hu.
Việc sử dụng các nguồn thu thuế từ lơng của ngời lao động và ngời sử
dụng lao động cho mục đích phúc lợi xã hội, đối với tất cả các công dân làm
việc trên lãnh thổ nớc mình và công dân nớc mình làm việc ở nớc ngoài nhng
có đóng thuế cho Chính phủ. Với cơ chế này, Chính phủ các nớc này cho rằng
không cần thiết có một tổ chức riêng biệt để quản lý quỹ BHXH, việc thực
hiện chi BHXH mang tính bao cấp với mục đích điều tiết thu nhập cá nhân
đảm bảo sự công bằng xã hội, vì vậy những ngời đợc hởng các chế độ BHXH
đều nhận đợc các khoản phúc lợi xã hội vợt quá mức đóng góp của mình. Mô
hình xây dựng hệ thống BHXH theo kiểu này chỉ phù hợp với điều kiện của
nền kinh tế phát triển, những nớc có mức phúc lợi xã hội cao. Trớc đây, chúng
ta đã xây dựng mô hình BHXH gần tơng tự nh mô hình này. Tuy vậy, nó đã
không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế- xã hội Việt nam bởi sự bao
cấp quá lớn của ngân sách Nhà nớc và bởi mức độ phát triển thấp của nền kinh
tế.

21


Nh vậy, việc xây dựng mô hình BHXH phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh kinh tế - xã hội của Việt nam trong từng thời kỳ, ngoài ra trong điều kiện
đất nớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng việc tăng cờng khả năng đóng góp
của ngời lao động, ngời sử dụng lao động để có thể giảm nhẹ sự phụ thuộc vào
ngân sách Nhà nớc là một trong những hớng chính trong việc xây dựng và
thực hiện các chế độ, chính sách BHXH ở Việt nam hiện nay.

22



nhiệm quản lý 6 chế độ BHXH nói trên.
Thời kỳ từ quý II năm 1964 đến Nghị định 12/CP (ngày 26/1/95). Ngày
20/3/63 Chính phủ ra Nghị định 31/CP giao trách nhiệm quản lý BHXH cho 2
tổ chức: Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam tổ chức và thực hiện 3 chế độ
ngắn hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bện nghề nghiệp. Bộ Nội vụ
(nay là Bộ LĐ-TBXH) quản lý và thực hiện 3 chế độ dài hạn còn lại. Ngày
23


10/4/64 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 62/CP giao nốt trách nhiệm quản
lý một phần quỹ BHXH cho Bộ Nội vụ.
Ngày 22/6/93 Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời
các chế độ BHXH. Đây là một bớc đệm trớc hết nhằm xoá bỏ t duy bao cấp để
lại trong lĩnh vực BHXH. Nghị định này đã quy định rõ đối tợng tham gia, đối
tợng hởng, các chế độ nguồn hình thành quỹ BHXH. Nghị định này ra đời, nói
chung là phù hợp nguyện vọng của ngời lao động ở các thành phần kinh tế và
phù hợp với công cuộc đổi mới kinh tế nớc ta.Tuy nhiên do tình hình kinh tế
còn gặp nhiều khó khăn, số lợng hởng chính sách BHXH lao động lại đông, vì
vậy chính sách BHXH này cha thể hoàn toàn hợp lý và để BHXH đáp ứng đợc
nhu cầu của ngời dân, đảm bảo an toàn cuộc sống cho họ. Điều này đợc biểu
hiện ở những hạn chế sau:
- Các chính sách BHXH cũ đợc thực hiện ở phạm vi đối tợng hạn hẹp
công nhân viên chức Nhà nớc, cha mở rộng ra các thành phần kinh tế khác
ngoài xã hội.
- Các chế độ quản lý BHXH phân tán cho 2 hệ thống thực hiện .
- Nhà nớc hỗ trợ số lớn từ ngân sách do thu không đủ chi, cơ chế quản
lý cha tập trung thống nhất, một số kẻ hở đã hình thành trong cơ chế quản lý
tài chính, quản lý đối tợng tham gia BHXH ngày một nhiều và rõ nét hơn. Đó
là đóng BHXH không đầy đủ, khai man về tuổi đời và thời gian công tác.
Quản lý về chế độ ốm đau, thai sản lỏng lẻo theo cơ chế khoán gây lãng phí

+ Ngời lao động làm việc trong các cơ quan Nhà nớc.
+ Ngời lao đông làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh có sủ dụng từ 10 lao động trở lên.
+ Ngời lao động Việt nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nớc
ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt nam, trừ trờng hợp điều ớc Quốc tế mà nớc
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
+ Ngòi lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc
cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, Đoàn thể.
+ Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lợng vũ trang .
+ Ngời giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan quản lý
Nhà nớc, Đảng, Đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
+ Công chức, viên chức Nhà nớc làm việc trong các cơ quan hành chính
sự nghiệp, cơ quan Đảng Đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
Các đối tợng trên đi học, thực tập,công tác, điều dỡng trong và ngoài nớc mà vẫn hởng lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực hiện BHXH
bắt buộc.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status