1
MỞ ĐẦU
Cơ cấu kinh tế là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp
lý có tính chất quyết định tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, quyết định đến
tăng trưởng kinh tế trong hiện tại và tương lai. Sự khủng hoảng kinh tế ở một số
nước trên thế giới và trong khu vực có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên
nhân chung khá quan trọng bắt nguồn từ chính sách cơ cấu. Do đó vấn đề chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế là hết sức cần thiết trong quá trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá của bất cứ quốc gia nào nếu không muốn đứng vào danh sách các nước
nghèo nhất thế giới.
Qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đánh giá cao kết quả của quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt nam nói chung và của tỉnh Hà nam nói riêng, song
cũng phải thừa nhận rằng chúng ta chưa khai thác được hết các nguồn lợi thế đó vì
vậy hàng loạt các giải pháp của chính phủ được đưa ra nhằm định dạng lại cơ cấu
ngành kinh tế một cách hợp lý cho từng ngành, từng địa phương.
Với Hà nam, một tỉnh nghèo lại mới được tái lập, nguồn lực tự nhiên và kinh
tế xã hội thay đổi nên cơ cấu kinh tế cũ cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với
tình hình hiện nay, việc định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
là hết sức cần thiết đối với tỉnh. Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi lựa chọn tỉnh
Hà nam làm đối tượng nghiên cứu.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù rộng, với khả năng cho phép chúng tôi chỉ tập
trung đi sâu nghiên cứu về cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Thông qua việc
thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn, kết hợp với những kiến thức lý luận đã
được học và được đọc, chúng tôi mong muốn đưa ra định hướng và một số giải
pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Đó cũng chính
là lý do ra đời đề tài “Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà
Nam trong giai đoạn 2010 - 2015 “. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung
chính sẽ được trình bầy trong 3 chương:
Chương I: Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng.
VÀ TỈNH HÀ NAM NÓI RIÊNG
I.
LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1.
Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Cơ cấu kinh tế luôn luôn biến đổi theo
hướng ngày càng hoàn thiện và việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình. Có
hai dạng cơ cấu kinh tế là cơ cấu kinh tế đóng và cơ cấu kinh tế mở trong đó cơ cấu
kinh tế mở được vận dụng rộng rãi ở các nước vì những ưu điểm của nó
Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu
lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá
trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh
thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, cơ
cấu thành phần kinh tế hình thành dựa trên chế độ sở hữu. Trong cơ cấu kinh tế, cơ
cấu ngành kinh tế giữ vai trò quyết định, vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ
cấu ngành kinh tế mà rõ hơn là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế được hình thành và mối
quan hệ của các ngành đó với nhau biểu thị bằng vị trí, sự tác động qua lại và tỷ
trọng của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Từ các góc độ kác nhau cơ cấu ngành kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu như: Cơ cấu ngành theo giá trị sản lượng, cơ cấu ngành theo sản phẩm cuối
cùng, cơ cấu ngành theo quy mô vốn đầu tư và cơ cấu ngành theo lao động. Các chỉ
tiêu phản ánh cơ cấu ngành chỉ mang tính thời điểm vì cơ cấu ngành luôn luôn biến
đổi để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
triển cân đối các ngành. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng bộc lộ những yếu điểm lớn
đó là đưa nền kinh tế đến chỗ khép kín, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài và nước
đang phát triển thì không có điều kiện để vận dụng những lý thuyết trên.
Lý thuyết cơ cấu ngành không cân đối hay “cực tăng trưởng”
Lý thuyết này cho rằng nên duy trì một cơ cấu không cân đối vì nó sẽ gây nên
áp lực kích thích đầu tư, hơn nữa nó sẽ khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồn
lực khi chỉ phải tập trung nguồn lực cho một số ngành nhất định. Với những ưu
điểm của mình lý thuyết đã được áp dụng rộng rãi ở những nước chậm phát triển từ
đầu thập niên 80 trở lại đây.
Với Hà nam, một tỉnh mới được tách lập lại, nền kinh tế kém phát triển, nguồn
lực hạn hẹp nhất là nguồn lực về vốn. Vì vậy, Hà nam nên áp dụng mô hình “cực
tăng trưởng” cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của mình, tập trung
vào một vài ngành, lĩnh vực đầu tầu lôi kéo toàn bộ nền kinh tế của tỉnh phát triển.
3.
Những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố, do đó việc
phân tích các nhân tố này sẽ cho phép tìm ra một cơ cấu ngành hợp lý. Có hai nhóm
nhân tố chính ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế :
5
Nhóm nhân tố địa lý, tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên.
Nhóm những nhân tố trên ảnh hưởng lớn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế.
Bởi vì nguyên tắc của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phải tạo ra được một cơ cấu
kinh tế hợp lý trên cơ sở sử dụng được hiệu quả mọi lợi thế so sánh. Với mỗi đặc
điểm khác nhau về vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên thì sẽ có một cách lựa
chọn cơ cấu kinh tế khác nhau. Ví dụ như tỉnh Hà Nam có nguồn tài nguyên đá vôi
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ tìm ra các ngành mũi nhọn tạo khả năng
tăng trưởng mạnh cho đất nước, vùng hoặc địa phương đồng thời giải quyết mối
quan hệ bền vững giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, với
phát triển nguồn nhân lực.
6
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trước hết chuyển dịch cơ cấu ngành nhằm nâng cao vai trò và thiết lập mối
quan hệ chặt chẽ giữa các ngành với nhau, tạo đà cho các ngành cùng nhau tăng
trưởng và phát triển.
Chuyển dịch cơ cấu ngành giúp các ngành có điều kiện tiếp thu trình độ khoa
học công nghệ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mặt khác chuyển dịch cơ cấu ngành sẽ nâng cao tính hiệu quả và mở rộng quá
trình hợp tác kinh tế giữa các vùng trong nước cũng như quốc tế.
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu xã hội.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế không chỉ có tác động đến thay đổi
cơ cấu dân cư mà còn tạo điều kiện nâng cao trình độ người lao động và mức sống
dân cư, từ đó cũng làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng của dân cư.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông
nghiệp. Việc phát triển mạnh các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như
dệt may, da giày, điện, điện tử... đã thu hút một lực lượng lớn lao động từ khu vực
nông nghiệp và nông thôn. Bên cạnh đó, mức thu nhập của dân cư ở khu vực thành
thị thường cao hơn ở nông thôn dẫn tới một bộ phận dân cư di chuyển từ nông thôn
ra thành thị làm thay đổi cơ cấu dân cư.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với khu vực nông nghiệp và
nông thôn, việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển các ngành đem
lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển các lĩnh vực phi nông nghiệp, gắn chặt với quá
chiến lược phát triển hướng nội, vì vậy nền kinh tế đạt được sự phát triển thần kỳ và
đã trở thành một nước công nghiệp phát triển.
Một điển hình thành công nữa trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là
trường hợp của các nước NIC và ASEAN với việc thực thi chiến lược hướng ngoại.
Đài Loan thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung phát triển
nông nghiệp bằng con đường hiện đại hoá, thâm canh hoá, hoá học hoá, đồng thời
phát triển các ngành công nghiệp điện, điện tử, hàng tiêu dùng thông thường và
hàng tiêu dùng cao cấp do đó Đài Loan đã phát triển đều cả về công nghiệp và nông
nghiệp.
Singapore có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đặc biệt mạnh dạn. Lúc đầu,
kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào thương mại quốc tế và dịch vụ. Khoảng 15 năm
trở lại đây nhà nước Singapore quyết định xây dựng những ngành sản xuất tạo nên
sức mạnh kinh tế của mình. Các ngành công nghiệp có chất lượng cao như công
nghiệp điện tử, dụng cụ y tế, hoá dầu, vận tải biển, du lịch được đưa vào cơ cấu
kinh tế. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ cũng được đầu tư phát triển và có một vị trí
quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Singapore.
Như vậy, từ kinh nghiệm của các nước phát triển hiện nay, kể cả những nước
láng giềng mà trước đây có điểm xuất phát tương tự đã cho ta bài học bổ ích và từ
đó thấy được sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
8
Thứ ba, yêu cầu phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu ngành kinh tế để tạo ra động lực cho tăng trưởng.
Các nước đang phát triển, phải thay đổi căn bản cơ cấu Công nghiệp và Nông
nghiệp, trong đó vai trò của Công nghiệp được tăng cường, giảm mạnh tỷ trong
Nông nghiệp trong cơ cấu GDP. Do đó vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một đòi hỏi cấp thiết phải đặt ra.
Đối với Hà Nam, một tỉnh mới được tái lập vào năm 1997, xuất phát điểm về
HƯỞNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ.
Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ
cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam nói riêng.
Chính vì vậy để nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam thì trước hết phải
xem xét những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội đem lại.
1-
Điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý, Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, cách thủ đô Hà
nội gần 60 km về phía nam, tương lai sẽ trở thành thành phố vệ tinh của thủ đô.
Tỉnh Hà nam có thuận lợi lớn vì nằm trên tuyến giao thông chính quốc lộ 1A và
đường sắt xuyên Bắc- Nam. Trong tương lai khi tuyến hành lang kinh tế đường 21
nối Sơn Tây- Hoà Lạc- Xuân Mai hình thành, cầu Yên Lệnh thông sang Hưng Yên,
tuyến xa lộ Bắc Nam được xây dựng sẽ càng tạo nhiều khả năng giao lưu hợp tác
giữa Hà nam và các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước. Không chỉ có lợi thế về
tuyến đường bộ, đường sắt, tỉnh Hà nam còn có một hệ thống đường thuỷ vô cùng
tiện lợi. Các con sông lớn chảy qua tỉnh bao gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu
và sông Nhuệ không những tạo thuận lợi cho giao thông đường thuỷ mà còn đắc lực
phục vụ tưới tiêu thuỷ lợi cho phát triển nông nghiệp.
Tỉnh Hà nam nằm giáp với các tỉnh Hà Tây ở phía Bắc, Hưng Yên, Thái Bình
ở phía Đông, Nam Định ỏ phía Đông Nam, Ninh Bình ở phía Nam và Hoà Bình ở
phía Tây. Nhìn chung các tỉnh này có cầu rất lớn về xi măng, đá, vật liệu xây
dựng,... mà không có điều kiện sản xuất. Hà nam có thể đáp ứng và tận dụng thị
trường rộng lớn này để đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
của tỉnh nhà.
Hà nam nằm tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Hà Nội- Hải
Phòng- Quảng Ninh. Tình hình đó đã đặt Hà nam vào vị trí đối đầu và cạnh tranh
nghiệp vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, gia công xuất khẩu.
Về Tài nguyên, tài nguyên khoáng sản đặc biệt là nguồn đá vôi, sét được phân
bố tập trung ở phía Tây sông Đáy thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm rất
thuận lợi cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, đá, gạch.
Đá vôi có hàm lượng canxi từ 95-100% và đôlômit 0-5% dùng để sản xuất xi
măng và sản xuất bột nhẹ, còn đá vôi có hàm lượng ngược lại canxi từ 0-5% và
đôlômit từ 95-100% dùng làm đá xây dựng, vật liệu độn hoặc để sản xuất hoá chất
manhê. Ngoài ra đá vôi còn là nguyên liệu để sản xuất ra đất đèn dùng trong công
nghiệp khí hàn, công nghiệp tổng hợp hữu cơ, sản xuất sợi vinylon.
11
Nguồn sét Hà nam được kiến tạo từ hai nguồn gốc là gốc trầm tích và gốc
phong hoá. Sét gốc phong hoá là loại sét tốt, được dùng làm phụ liệu cho sản xuất xi
măng trong tỉnh. Sét gốc trầm tích dùng làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói.
Như vậy, Hà nam có nguồn đá vôi và sét đủ khả năng cho công nghiệp sản
xuất xi măng với trữ lượng 3-5 triệu tấn/ năm trong nhiều năm. Chất lượng đá vôi
và sét khá tốt lại phân bố gần trục giao thông, dễ khai thác, gần nơi tiêu thụ lớn.
Ngoài ra, Hà nam còn có nguồn than bùn được phát hiện tại Tam Chúc, thuộc
huyện Kim Bảng, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Về Tài nguyên du lịch, Hà nam là một tỉnh có tài nguyên du lịch khá phong
phú, cả về tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Hà nam có
các di vật khảo cổ như trống đồng, công cụ bằng đồng, các tác phẩm nghệ thuật,
điêu khắc mang dấu ấn của thời đại lịch sử. Hà nam có đền Trần Thương ở Lý Nhân
thờ Đức Thánh Trần, đình thờ Lê Đại Hành ở Thanh Liêm, đền Lảnh ở Duy Tiên,
chùa Bà Đanh, Ngũ Động Sơn ở Kim Bảng, chùa Tiên, Kẽm Trống ở Thanh Liêm,
đền thờ Nguyễn Khuyến ở Bình Lục, vườn tưởng niệm nhà văn Nam Cao ở Lý
Nhân,..Hơn nữa, Hà nam là một vùng quê giàu các lễ hội dân gian tuyền thống, với
56 lễ hội được tổ chức trong năm trong đó có 20 lễ hội mang di tích lịch sử, 16 lễ
năm 2002. Các chương trình văn hoá, giáo dục, y tế được triển khai góp phần quan
trọng thúc đẩy các mặt hoạt động xã hội phát triển lành mạnh. Hà nam là một tỉnh
dẫn đầu về phổ cập giáo dục tiểu học, các cơ sở y tế được nâng cấp, y tá, bác sỹ
được bổ sung, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững và tăng
cường, các tệ nạn xã hội ngày càng giảm.
Tuy nhiên nền kinh tế Hà nam vẫn còn mang tính thuần nông, nông nghiệp
chiếm 44% GDP, công nghiệp địa phương nhỏ bé, thương mại dịch vụ phát triển
chậm, thu ngân sách mới đáp ứng được 40% chi, chưa có đầu tư nước ngoài. Điều
đó đặt ra cho Hà nam một thách thức đòi hỏi tỉnh phải nhanh chóng chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế để có thể phát triển ngang với các tỉnh khác trong khu vực.
Về dân số và nguồn nhân lực, nguồn nhân lực được xem như là một lợi thế
phát triển quan trọng. Quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy
mô và tốc độ tăng dân số. Theo số liệu điều tra gần đây nhất, dân số Hà nam năm
1999 đã là 791.614 người, trong đó dân số ở tuổi lao động là 426.673 người, chiếm
53,9% dân số toàn tỉnh. Số lao động ở khu vực nông thôn là 380.890 người, chiếm
89,27% và ở thành thị là 45.783 người, chỉ chiếm 10,73%. Là một tỉnh mà thu nhập
còn nặng về nông nghiệp, cơ sở vật chất yếu kém, với nguồn lao động như trên
đang gây sức ép về việc làm và cải thiện đời sống. Mặt khác, lao động nông nghiệp
có 287.253 người chiếm xấp xỉ 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ có 126.087
người chiếm 30%, trong đó số được đào tạo ngành nghề là 58.008 người, chiếm
13,5%, như vậy số lao động ở nông thôn thiếu việc làm đang đi đến các khu vực
khác làm dịch vụ là rất lớn, chiếm gần 20% lao động nông thôn. Ở nông thôn, thời
gian nhàn rỗi còn nhiều mà cơ hội gia tăng việc làm ở khu vực nông nghiệp hầu như
không đáng kể, có chăng chỉ là rải rác ở những nơi có ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, với tay nghề gia truyền là chính, không được đào tạo cơ bản. Hơn nữa, lao
động trong nông nghiệp với trình độ trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, người lao động
sử dụng cơ bắp và sức súc vật kéo là chính. Tất cả những điều đã đề cập ở trên cho
thấy trình độ lao động của tỉnh nói chung còn thấp, và thực tế Hà nam có nguồn lao
động khá dồi dào nhưng lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề là phổ biến và
thiếu lao động được đào tạo kỹ thuật, nhất là lao động có kỹ thuật cao.
2004
2005
2006
2007
2008
Cả nước
7,94
6,34
7,10
7,67
8,80
Hà nam
5,0
4,0
9,15
Đối với nông nghiệp, phát triển nông nghiệp trong khả năng cho phép đảm bảo
an toàn lương thực và tạo cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, phát
triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Đối với dịch vụ, phát triển mạnh ngành thương mại, đẩy nhanh hoạt động xuất
khẩu của tỉnh, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển những loại
hình dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, thông tin viễn thông, giao thông vận tải,..
Cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, điện khí hoá nông thôn, thực
hiện kiên cố hoá kênh mương, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn,
những tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh, xây dựng các trụ sở làm việc cho tỉnh
mới tách, nâng cấp hệ thống thông tin bưu điện,... nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
vào phát triển kinh tế của tỉnh.
Xuất phát từ định hướng trên, trong thời gian qua cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
Hà nam cũng có những chuyển biến tích cực và tiến bộ.
Thứ nhất trong cơ cấu ngành kinh tế theo GDP:
Biểu2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP
thời kỳ 2004 – 2008.
Ngành
Tổng GDP
1.
Công nghiệp
2.
Nông nghiệp
3.
Dịch vụ
2004
100
16,26
52,64
31,10
Tỷ trọng ngành công nghiệp tăng đáng kể qua các năm từ 16,26% năm 2004
lên 25,54% năm 2008 và dự kiến đạt khoảng 26,7% vào năm 2010. Như vậy có thể
thấy rằng ngành công nghiệp ngày càng phát huy hơn nữa vai trò đầu tàu của mình
để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá của tỉnh, nổi bật lên trong công nghiệp là sự
tăng nhanh của công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến lương thực,
thực phẩm. Tuy nhiên, với tỷ trọng 25,54% trong cơ cấu GDP thì công nghiệp vẫn
chiếm một tỷ trọng nhỏ và cần phải được nâng lên trong thời gian tới để giữ vị trí
chủ đạo trong nền kinh tế của tỉnh.
Tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm tương đối trong giai đoạn 2004 - 2008
từ 52,64% vào năm 2004 xuống còn 44,03% vào năm 2008, đây cũng là xu thế tất
yếu của quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá, tạo tiền đề cho việc phát triển các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Tuy vậy, với tỷ trọng 44,03% thì nông nghiệp vẫn
chiếm tỷ trọng khá cao, gây trở ngại cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nền kinh tế của tỉnh.
Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP giai đoạn 2004 - 2008 có sự
thay đổi không đáng kể từ 31,1% năm 2004 xuống còn 30,43% năm 2008. Điều này
không có nghĩa là ngành này không tăng trưởng, trái lại GDP của ngành này liên tục
tăng mạnh qua các năm nhất là hoạt động thương mại và các dịch vụ vận tải, khách
sạn nhà hàng, bưu chính viễn thông,...Bởi vì cùng với sự đi lên của các ngành công
nghiệp thì các ngành thuộc khối dịch vụ cũng có bước phát triển theo và nó sẽ làm
thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Tóm lại, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh thời kỳ 2004 - 2008 có sự chuyển
dịch theo xu hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông
nghiệp. Sau 5 năm tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng 8,61% . Đây là
xu hướng tích cực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy vậy, cơ cấu
ngành kinh tế của tỉnh Hà nam năm 2008 vẫn là cơ cấu Nông nghiệp- Công nghiệpDịch vụ.
Thứ hai, trong cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu tư.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên lãnh thổ tỉnh phần lớn là nguồn vốn
tín dụng, bình quân thời kỳ 2004 - 2008 là 59,2% tổng vốn đầu tư. Số vốn đầu tư từ
100
100
100
100
100
Tỷ trọng BQ 95-99
100
1.Công nghiệp
62,11 69,48 69,46 70,54 47,23
63,76
2.Nông nghiệp
4,95
10,65 21,33
9,65
3.Dịch vụ
tế xã hội của tỉnh từ trung tâm thị xã Phủ Lý đến các địa phương ngày một khang
trang, đổi mới.
Thứ ba, trong cơ cấu ngành kinh tế theo lao động.
Biểu 4. Chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế.
Đơn vị: %.
Ngành
2004
2005
2006
2007
2008
Tổng số
100
100
100
100
100
8,0
7,9
8,0
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Theo các số liệu trên đây cho thấy trong mấy năm qua số lao động làm việc
trong khu vực công nghiệp của Hà nam không được ổn định. Tỷ lệ lao động trong
công nghiệp giảm thấp nhất vào những năm 2006-2007 và năm 2008 tiếp tục tăng
lên đạt 11,2%. Như vậy có thể khẳng định là công nghiệp Hà nam chưa thực sự phát
triển, tỷ lệ lao động trong công nghiệp còn rất thấp so với toàn bộ lao động làm việc
trong nền kinh tế của tỉnh.
Lao động trong ngành dịch vụ có tăng nhưng không đáng kể, từ 7,6% năm
2004 lên 8,0% vào năm 2008. Lao động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ
cao là 80,8%. Điều đó cho thấy hai ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa
mạnh để có thể thu hút được lực lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp sang
hoạt động trong hai ngành này. Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm
và lao động trong các ngành kinh tế chưa ổn định.
Tóm lại, trong giai đoạn 2004-2008 nền kinh tế Hà nam đã có bước chuyển
biến đáng kể, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều
tăng qua các năm. Mặc dù tỷ trọng của nông nghiệp vẫn còn cao trong cơ cấu kinh
tế nhưng về cơ bản cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam đã có bước chuyển dịch
đúng hướng. Trong nội bộ các ngành thì vị trí của ngành công nghiệp và dịch vụ
ngày càng được khẳng định, tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng
lớn vì trước mắt nó là ngành nuôi sống phần lớn dân cư. Cùng với sự chuyển dịch
cơ cấu chung, từng ngành cũng có sự chuyển dịch trong nội bộ. Để nghiên cứu rõ
hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam có thể xem xét
thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
giai đoạn 1995-1999.
100
100
1.Vật liệu xây dựng
39,66
41,73
43,73
48,35
60,7
2.Chế biến LT- TP
13,36
15,5
15,75
15,42
16,0
3.Dệt may, da giày
1,14
0,06
6.CN khác
19,94
19,98
19,55
13,56
5,32
Công nghiệp
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Hà nam
là công nghiệp Vật liệu xây dựng. Trong những năm qua Hà nam đã biết tận dụng
lợi thế về tài nguyên đa dạng và phong phú của tỉnh nhà là đất sét và đá vôi để đẩy
mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng. Vì vậy đã đưa được giá trị của
ngành này tăng liên tục qua các năm nhất là vào những năm 2007, 2008 khi mà
công ty xi măng Bút Sơn được đưa vào hoạt động và liên tục sinh lời.Vị trí của
ngành vật liệu xây dựng được khẳng định nhờ tỷ trọng của ngành này trong cơ cấu
giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng từ 39,66% năm 2004 lên 60,7% vào năm
2008.
Cùng với ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành chế biến lương thực,
2005
2006
2007
2008
Ngành Nông nghiệp
100
100
100
100
100
-Trồng trọt
74,5
74,9
74,2
77,6
xu hướng tăng tỷ trọng vào những năm 2008, 2009 mặc dù sự chuyển dịch là rất
chậm. Giá trị của khu vực dịch vụ tăng lên hàng năm nhưng chưa đáng kể, nhất là
chưa tăng về tỷ trọng so với ngành nông nghiệp. Ngành trồng trọt vẫn chiếm một tỷ
trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp. Để đánh giá được toàn diện hơn
ngành nông nghiệp cần đi sâu nghiên cứu sự chuyển dịch trong từng ngành cụ thể:
20
Ngành trồng trọt.
Trong giai đoạn 2004-2008 ngành trồng trọt của tỉnh Hà nam đã đạt được tốc
độ tăng trưởng khá, tăng bình quân 4,96%/ năm. Đạt được tốc độ như vậy là do cơ
cấu cây trồng của Hà nam đã có sự thay đổi phù hợp, biểu hiện là sự thay đổi cơ cấu
sử dụng đất.
Biểu 7. Thực trạng cơ cấu sử dụng đất trong ngành trồng trọt
giai đoạn 2004-2008.
Đơn vị: %.
2004
2005
2006
2007
2008
Tổng số
100
6,1
Cây ăn quả
1,88
1,89
2,06
2,89
3,55
Cây công nghiệp
3,56
3,71
3,39
3,64
4,07
Cây khác
1,31
2004
2005
2006
2007
2008
Tấn
354.714 325.707 371.450 399.743 424.356
Tấn
318.814 287.665 343.336 363.431 383.453
quy thóc
1. Lúa
Năng suất
2. Ngô
Năng suất
3. Khoai lang
Năng suất
4. Sắn
Năng suất
Tạ/ha
29,92
32,0
Tấn
29.259
42.383
25.710
26.886
30.685
Tạ/ha
66,48
79,79
68,44
75,78
80,5
Tấn
để trồng cây ăn quả vì vậy diện tích và sản lượng cây ăn quả tăng nhanh qua các
năm, nhất là những cây nhãn, vải.
Cây công nghiệp cũng là loại cây đem lại giá trị kinh tế cao. Vì vậy trong thời
gian qua, nhân dân Hà nam đã mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp đặc biệt là
cây lạc, cây đay và cây công nghiệp dài ngày là cây chè. Do đó đời sống của nhân
dân cũng được cải thiện hơn
Tóm lại, trong giai đoạn 2004-2008,Ngành trồng trọt của tỉnh Hà nam đã có sự
chuyển dịch theo hướng tăng diện tích các cây ăn quả, cây công nghiệp, giảm diện
tích cây lương thực, đó là một hướng chuyển dịch tích cực để đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế của tỉnh nói chung.
22
Ngành Chăn nuôi.
Trong giai đoạn 2004-2008,cơ cấu vật nuôi của Hà nam chuyển dịch theo
hướng tập trung phát triển những con vật nuôi chính là bò và gia cầm. Đàn trâu
giảm từ 10,9 nghìn con năm 2004 xuống còn 6,5 nghìn con năm 2008, do máy cày
thay trâu làm đất ngày càng nhiều vì vậy trâu được chuyển dần sang mục tiêu nuôi
lấy thịt. Đàn bò có số lượng tăng không đáng kể , từ 22,9 nghìn con năm 2004 tăng
lên 24,9 nghìn con vào năm 2008, một phần là do nhu cầu thực phẩm ngày càng
tăng nên đàn bò giết thịt ngày càng lớn.
Đàn lợn có tốc độ tăng trưởng khá, từ 225,9 nghìn con năm 2004 đã tăng lên
268,2 nghìn con năm 2008, tăng bình quân 4,39%/ năm, tỷ lệ lợn nạc cao, sản lượng
thịt lợn xuất chuồng đạt 19.436 tấn vào năm 2008.
Cùng với phát triển gia súc, đàn gia cầm của tỉnh cũng được đầu tư về giống,
thay đổi phương thức nuôi thả nên có tốc độ tăng trưởng lớn, bình quân thời kỳ
2004-2008 là 4,85%/ năm và tổng đàn gia cầm đạt 2.311,6 nghìn con vào năm 2008,
trong đó chủ yếu là đàn gà.
-12,04 %
2. Đàn Bò
,,
22,9
23,8
23,9
23,3
24,9
2,16 %
3.Đàn Lợn
,,
225,9
229,0
245,9
251,6
kinh tế chung của tỉnh .
c. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Dịch vụ.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế địa
phương, ngành dịch vụ cũng có những bước phát triển nhất định. Giá trị gia tăng
của khu vực dịch vụ thời kỳ 2004-2008 tăng khoảng 11%/năm.
23
Sự phát triển của khu vực dịch vụ đã tạo điều kiện thuận lợi và kích thích khu
vực sản xuất phát triển. Nhưng nhìn chung, hoạt động dịch vụ trên địa bàn còn nhỏ
bé cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với toàn bộ nền kinh tế địa phương. Số lượng lao
động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 8,0% năm 2008 trong tổng số
lao động đang làm việc. Tỷ lệ lao động chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội và đời
sống nhân dân. Cân đối lao động trên địa bàn mới có 380 lao động dịch vụ / 1 vạn
dân, trong khi đó tỷ lệ bình quân cả nước là 630 lao động dịch vụ/ 1 vạn dân, khu
vực địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc bộ là 2.300 lao động dịch vụ / 1 vạn dân.Thực tế
này cho thấy các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà nam chưa phát triển mạnh. Để
nghiên cứu rõ hơn về thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong ngành dịch vụ, có thể
xem xét từng ngành cụ thể.
Ngành Thương mại.
Hoạt động thương mại bao gồm kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu.
Những năm gần đây, ngành thương mại cũng có nhịp độ phát triển khá nhanh. Nhịp
độ phát triển thời kỳ 2000-2004 khoảng 12,7%/ năm, thời kỳ 2006-2008 đạt 12,5%/
năm. Năm 2008, ngành thương mại đã đóng góp cho kinh tế địa phương khoảng
6,6% tổng GDP toàn tỉnh. Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương
mại đã có sự thay đổi đáng kể. Nếu trước đây quốc doanh thương mại chiếm lĩnh
hầu hết thị trường thì những năm gần đây tỷ trọng của quốc doanh thương mại đã
giảm xuống nhanh chóng từ 37,2% năm 2000 xuống còn 18,6% năm 2004 và 16,6%
năm 2008. Đặc biệt khu vực thương mại tập thể chưa phục hồi được, tỷ trọng chiếm
313
2005
1.858
2006
2007
2008
11.870
22.631
29.282
7.397
16.633
16.777
4.473
5.998
12.505
Đơn vị: nghìn lượt người
Khách du lịch đến Hà nam
2006
2007
2008
-Khách quốc tế
2,217
1,747
1,8
-Khách nội địa
9,920
11,731
12,5
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam
Trong hai năm 2007,2008 Hình thức kinh doanh du lịch đã được mở rộng,
ngoài kinh doanh ăn uống còn các dịch vụ khác nên doanh thu tăng dần, từ 3,284 tỷ
đồng năm 2005 lên 5,5 tỷ đồng năm 2006 và đạt 6,2 tỷ đồng năm 2007.
Tóm lại, lượng khách du lịch và doanh thu tăng qua các năm cho thấy ngành
nghìn tấn
nghìntấnkm
593
27.200
679
38.811
1.123
50.615
1.190
53.475
1.233,6
55.105
2Vận tải hành khách
-KlượngHK
v/chuyển
-KlượngHK l/chuyển
nghìn người
nghìnng. km
482
37.700