LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống của con người từ xa xưa cho tới nay, không ai có thể
phủ nhận vai trò to lớn của đất đai. Đất đai là điều kiện tiên quyết không thể
thiếu của bất kỳ nên kinh tế nào, ngay cả những nước phát triển đời sống kinh
tế chủ yếu là sản xuất công nghiệp - dịch vụ, cho đến những nước đang phát
triển nền kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp.
Nước ta sau hơn 20 năm đổi mới đã có những thành tựu vượt bậc nhưng
hiện vẫn đang là một nước nông nghiệp. Vì vậy đất nông nghiệp đối với nước
ta càng có ý nghĩa hơn.
Huyện Thanh Trì thuộc thành phố Hà Nội là một huyện ngoại thành
thành phố Hà Nội. Nằm giữa ngã ba đường là cầu nối quan trọng giữa thủ đô
Hà Nội và các tỉnh thành lân cận như: Hà Tây, Hà Nam, Nam Định…Do đó
huyện có vại trò to lớn đối với sự phát triển của thủ đô, Tuy là một huyện
thuộc thành phố Hà Nội nhưng huyện Thanh Trì vẫn là một huyện sản xuất
nông nghiệp, cơ cấu kinh tế đang trên bước đường chuyển mình chưa hình
thành cơ cấu triệt để cho nền sản xuất. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp và đảm
bảo các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp là vấn đề quan trọng trong
phát triển kinh tế huyện, mà cụ thể là quản lý và sử dụng đất nông nghiệp trên
toàn huyện. Đứng trước xu thế công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đô thị hoá diễn
ra ngày càng nhanh, ngày càng mạnh. Đất nông nghiệp đang đứng trước nguy
cơ thu hẹp dần diện tích, do đó để có được hiệu suất sử dụng đất nông nghiệp
ngày càng cao và hợp lý, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp ngày càng phải hoàn thiện, chặt chẽ hơn nữa.
Đối với huyện Thanh Trì, số lượng lao động làm trong ngành nông
nghiệp chiếm đa số( 68,9%), diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 53,6 %
(thống kê năm 2005) qua đây để thấy được vai trò của đất nông nghiệp với
toàn huyện và có nhận định đúng đắn hơn về công tác quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp của huyện Thanh Trì.Qua thời gian thực tập tại Phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện Thanh Trì, nhận thức được tầm quan trọng của
công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp em đã lựa chọn đề tài “Tăng
cường công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Thanh
thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chương I:
2
Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1 Những vấn đề chung về đất nông nghiệp
1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Trước khi đi sâu tìm hiểu về đất nông nghiệp chúng ta tìm hiểu qua về
sự hình thành của đất đai trên bề mặt trái đất nói chung. Đất đai được hình
thành thông qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ vào sự phong hoá đá mẹ dưới sự
tác động của không khí, gió, nước, sinh vật..Sản phẩm của quá trình phong
hoá đá đó là các chất vô cơ Như: N,C,S,Mg…Theo thời gian sản phẩm của
quá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của động vật,
thực vật bị chết, phân, chất thải của động, thực vật (đây chính là một phần
nguồn dinh dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này)… và hình
thành nên đất.
Đất đai được hình thành trên bề mặt trái đất do đó đất đai là một
khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu, lớp đất
phủ bề mặt,…); và theo chiều ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình,
thuỷ văn, thảm thực vật…). Quỹ đất đai của mỗi vùng, địa phương luôn bị
giới hạn bởi địa giới hành chính của vùng, địa phương đó. Quỹ đất đai của
một đất nước bị giới hạn bởi biên giới, địa giới lãnh thổ quốc gia, Và tổng quỹ
đất của tòan thế giới bị giới hạn bởi bề mặt trái đất, Chính vì thế không ai có
thể nói rằng đất đai là nguồn tài nguyên vô tận, không có giới hạn mà ngược
lại đai có giới hạn.
Con người từ thủa sơ khai, khi con người còn là con người nguyên thuỷ
cuộc sống mông muội dựa hoàn toàn vào đất đai. Đất đai là nơi con người
khai thác, các loài động vật, thực vật bằng cách săn bắn, hái lượm, trú ngụ…
trồng thuỷ sản…,hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”.
Đất đai khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được gọi là
ruộng đất. Con người tác động vào đất nông nghiệp tạo ra của cải, vật chất
cho đời sống. Đất nông nghiệp - ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là
tư liệu lao động của con người. Lúc đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứng
nhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh tế “tự cung tự cấp”. Xã hội phát triển
quá trình chuyên môn hoá xảy ra, nông phẩm không đơn chỉ để phục vụ cho
4
bản thân người sản xuất nữa. Nông phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thị
trường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và cho toàn xã
hội. Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp – ruộng đất chiếm vị
thế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người.
1.2 Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chung của
đất đai đồng thời có những đặc điểm riêng của nó.
1.2.1. Đặc tính hai mặt: Đất nông nghiệp không thể sản sinh và có khả
năng tái tạo
Như chúng ta đã biết về quá trình hình thành đất đai là quá trình của tự
nhiên, đó là một quá trình dài, diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiều yếu
tố khác nhau, không thể ngày một ngày hai mà có khi là cả hàng ngàn hàng
vạn năm mới hình thành nên được đất đai trên bề mặt trái đất. Đất đai không
thể di chuyển vị trí, nó có luôn luôn cố định (nó được hình thành ở đâu thì
luôn ở đó, bản thân nó không thể di chuyển) đồng thời đất đai được hình
thành với một số lượng hạn chế trên toàn cầu và phạm vi từng quốc gia. Tính
cố định không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đất đai đồng thời
cũng quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian (theo cả chiều rộng và
chiều sâu) gắn liền với môi trường mà đất đai phải chịu chi phối (nguồn gốc
hình thành,đá mẹ, các hệ sinh thái, khí hậu, chế độ mưa nắng…). Con người
độ chiếm hữu ruộng đất đã biến quyền sở hữu đất đai từ sở hữu chung của tập
thể, bầy đàn thành sở hữu tư nhân. Cùng với quá trình thương mại hoá nền
nông nghiệp thì việc chia nhỏ quyền sở hữu đất đai
(đất nông nghiệp) và quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng là một tất yếu dĩ
nhiên dẫn đến quá trình bần cùng hoá nông dân những người luôn cần đến
đất đai như là một tư liệu lao động, đối tượng lao động trực tiếp. Người nắm
trong tay đất đai là người có nhiều quyền lợi kinh tế lớn nhất trong nền sản
xuất xã hội, song song với nó người sở hữu đất đai còn nắm quyền các lực về
mặt chính trị. Kẻ không có đất đai chỉ là kẻ làm thuê, làm công bị tách ra
khỏi tư liệu sản xuất, mất đi tư liệu sản xuất. Và như vậy, trong xã hội xuất
hiện sự tách biệt giữa người sở hữu đất đai (đất nông nghiệp) và người sử
6
dụng đất đất đai (đất nông nghiệp), người sở hữu đất nông nghiệp giờ đây
không phải là người lao động trực tiếp mà trao quyền sử dụng, lao động trực
tiếp đó cho các đôi tượng khác qua các hình thức cho thuê đất, giao đất, thuê,
mướn (những đối tượng này cần có tư liệu sản xuất là đất đai nhưng lại bị
tách khỏi quyền sở hữu đất)…
Người sở hữu đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp, là người chủ sở hữu duy nhất đất nông nghiệp được
nhà nước công nhận về mặt pháp lý, nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi hợp
pháp cho người sở hữu đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Người
sở hữu đất nông nghiệp có quyền sử dụng, khai thác, mua bán, ứng dụng
khoa học vào sản xuất phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật nhà
đặt ra…
Ở nước ta ngay sau ngày đất nước được giải phóng năm 1945 đất nước
bước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; và cho tới nay pháp luật nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà Nước làm đại diện chủ sở hữu”,
1.2.3. Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú
Trên bề mặt trái đất đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
được hình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốc
sinh ra đất đai. Đất nông nghiệp được tạo ra mang những tính chất khác nhau
phụ thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp đất nông nghiệp đó. Chính vì vậy
mà chúng ta có những loại đất nông nghiệp khác nhau như: đất phù sa, đất đỏ
bazan, đất sét thịt, đất cát…Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại đất nông nghiệp
khác nhau có tính chất và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại.
Thậm chí trong một loại đất nông nghiệp đó không phải ở đâu loại đất
đó cũng giống nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơ
giới, độ phì nhiêu của chúng là khác nhau. Ví dụ như: đất nông nghiệp do
phù sa Sông Hồng thường mang tính chất cơ giới nhẹ, nhiều kiềm. Phù sa
Sông Cửu Long thường mang tính chất cơ giới nặng hơn phù sa Sông Hồng,
Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu,
điều kiện tự nhiên của địa phương nơi đất nông nghiệp phân bố mà con người
8
lựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao cho
phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. Tính đa dạng và phong phú
của đất nông nghiệp vì thế cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người. Mỗi
một địa phương một loại đất, một tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩm
khác nhau, phù hợp và như thế con người sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp
đa dạng và phong phú hơn. Một số vùng có thể hình thành nên nền sản xuất
chuyên canh cây, con đặc sản mà không vùng nào có thể có đựoc mang lại giá
trị kinh tế cao.
1.3 Phân loại đất nông nghiệp
Phân loại đất nông nghiệp là một việc làm quan trọng cho công tác sản
xuất, quản lý đất nông nghiệp. Dựa vào sự phân loại đó con người có thể xác
định được mục tiêu sản xuất, cây con giống phù hợp, chế độ chăm sóc hợp lý,
• Đất trồng lúa
• Đồng cỏ chăn nuôi
• đất trồng cây hàng năm khác
+ Đất trồng cây lâu năm
- Đất lâm nghiệp:
• Đất rừng sản xuất
• Đất rừng phòng hộ
• Đất rừng đặc dụng
- Đất nuôi trồng thuỷ sản
- Đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của chính phủ
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Ta có thể nhận thấy sự thay đổi rất lớn giữa cách phân loại đất của luật
Đất đai năm 1993 và luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2003 đã quy
định chi tiết và cụ thể hơn, các loại đất đã được phân chia theo đúng mục đích
sử dụng. Sự thay đổi có thể thấy rõ, một số loại đất chuyên dùng và đất nông
nghiệp nay chuyển sang đất phi nông nghiệp nông nghiệp. Sự đổi mới này thể
hiện một tư duy mới tránh xảy ra sự trùng lặp, chồng chéo trong phân chia các
10
loại đất như trước đây.
Ngoài ra, việc phân chia đất nông nghiệp còn theo nhiều cách khác
nhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau. Ví dụ, phân chia đất nông nghiệp
dựa trên đặc tính đất đai, thổ nhưỡng của đất đai.
Hay ta có thể phân chia đất nông nghiệp theo phân bố vị trí địa lý, tính
chất màu mỡ của đất đai, độ phì nhiêu của đất nông nghiệp…Ta có đất nông
nghiệp phân bố ở đồng bằng, đất nông nghiệp phân bố ở miền trung du,…Đất
nông nghiệp có tính chất màu mỡ cao, đất nông nghiệp độ phì thấp, đất nông
Chính vì vậy người sản xuất đã có trong tay một tư liệu sản xuất vô cùng
quan trọng không thể thay thế được.
Mặt khác, mặc dù con người đã có sự cố gắng để tạo ra sản phẩm nông
nghiệp mà không cần dùng đến đất đai như: trồng cây trên nước, trồng cây
bằng dung dịch dinh dưỡng…Nhưng chưa có một quốc gia nào có thể tách
rời trồng trọt với đất nông nghiệp cả. Những sản phẩm tạo ra từ những thí
nghiệm chỉ là một khối lượng rất nhỏ và năng suất rất thấp, Điều này càng
chứng minh sự cần thiết, và tầm quan trọng của đất đai nói chung và đất nông
nghiệp. Có thể khẳng định con người luôn cần đến đất nông nghiệp để sản
xuất và đó là tư liệu sản xuất không thể thay thế được.
2.2.Việc sử dụng đất nông nghiệp là một trong những yếu tố quyết định
đến bảo vệ môi trường sinh thái của cuộc sống
Đất nông nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành nên môi trường,
gắn liền với môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái. Theo quy luật của
mối liên hệ phổ biến thì để có được môi trường trong sạch các yếu tố trong
môi trường phải được bảo vệ và trong lành, nếu không yếu tố này sẽ ảnh
hưởng đến yếu tố khác, một yếu tố không được bảo vệ có thể gây ảnh hưởng
xấu đến các yếu tố khác và như thế môi trường sẽ bị ô nhiễm.
Nếu đất nông nghiệp không có được môi trường trong sạch hiệu quả sử
dụng đất nói chung sẽ giảm sút đáng kể. Chúng ta có thể thấy nếu đất đai bị ô
nhiễm hậu quả tất yếu là nguồn nước bị ô nhiễm, không khí bị ô nhiễm, môi
trường sống bị ô nhiễm…Con người khai thác đất đai không có ý thức
thường chỉ xét đến các lợi ích trước mắt mà không thể nhìn thấy được lợi ích
12
lâu dài. Điều này càng làm suy giảm môi trường của cuộc sống hơn.
Tuy nhiên, con người có thể tác động lên đất đai theo hai mặt: một mặt
tiêu cực làm đất nông nghiệp và môi trường xấu đi. Một mặt tích cực làm đất
nông nghiệp và môi trường tốt lên.
diện tích nhất định cũng đã đủ cung cho nhu cầu của xã hội. Diện tích đất
nông nghiệp cần sử dụng cho quá trình sản xuất so với trước kia giảm xuống,
Diện tích đất nông nghiệp dôi ra dùng vào đâu?
Quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, ngành sản xuất công
nghiệp và dịch vụ ngày càng mở rộng. Nhu cầu đất đai phục vụ cho mục đích
sản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Quá trình chuyển dịch cơ
cấu đất đai cho các mục đích sử dụng của con người cũng xảy ra sao cho phù
hợp. Đất nông nghiệp sẽ là nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng
khác, quỹ đất nông nghiệp được cắt để phân bổ cho mục đích sử dụng khác.
Đối với nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều
vào nền sản xuất nông nghiệp do vậy diện tích đất nông nghiệp còn chiếm tỷ
trọng lớn trong quỹ đất của quốc gia. Tuy có diện tích khá lớn khoảng 22 triệu
Ha (năm 2004) nhưng đất nông nghiệp chưa được khai thác đúng mức, hiệu
quả và năng suất còn thấp, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp so
với thế giới .Vì vậy, cần thiết phải chuyển một số diện tích đất nông nghiệp
sang mục đích khác nhằm mang lại hiệu quả cao hơn. Trong quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước, cơ cấu nền kinh tế đang chuyển đổi
mạnh mẽ từng ngày, diện tích đất cần cung cấp cho mục đích xây dựng, giao
thông, đất ở, đất khu công nghiệp, thương mại…gia tăng nhanh chóng. Quỹ
đất nông nghiệp là một nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng đất
khác cho nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và sẽ được chuyển sang
mục đích phi nông nghiệp đã mang lại những hiệu quả lớn lao cho đất nước.
Tuy nhiên, sự chuyển đổi này cần phải có tính toán và có quy hoạch rõ ràng,
thực tế và mang tính dự báo cao…Trong hệ thống các điều khoản của Pháp
luật nước Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ cho các trường hợp điều
chỉnh các quỹ đất nhằm cân đối các nhu cầu và bảo đảm diện tích đất nông
nghiệp cần thiết của xã hội.
14
điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần
thiết.
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và
đối tượng quản lý. Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từ
trung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,,, và toàn bộ các cán bộ
công nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước
…Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã
hội… Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các
hoạt động, các mối quan hệ có liên quan. Riêng trong lĩnh vực quản lý Nhà
nước về đất đai chủ thể quản lý nhà nước về đất đai (cụ thể ở đây là đất nông
nghiệp) thì nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý
là các cá nhân, tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp,
có liên quan đến đất nông nghiệp…Và đối tượng của công tác quản lý nhà
nước về đất nông nghiệp là những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc,
vấn đề có liên quan đến đất nông nghiệp xảy ra trong xã hội.
Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, Nhà nước
có các vai trò và nhiệm vụ quan trọng sau:
- Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất đai (đất nông nghiệp) trên phạm vi
cả nước. Như đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nông
nghiệp của cả nước. Đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý của công tác quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp, Chính vì vậy nhà nước phải thống nhất quản
lý đất đai (đất nông nghiệp) trên phạm vi cả nước. Mục đích của việc này là
mang lại lợi ích chung cho xã hội đảm bảo sử dụng đất (đất nông nghiệp) hợp
lý và hiệu quả cao nhất, có tầm nhìn xa vì mục đích chung của cộng đồng.
Song song với nó Nhà nước luôn có các chế tài để đảm bảo quyền lợi, trách
nhiệm của mình và của người sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và đất đai
nói chung. Người sử dụng đất nông nghiệp phải tuân thủ các quy định đã đặt.
Nếu không chấp hành các quy định đó thì người sử dụng đất đã vi phạm pháp
cho ngân sách, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
Nhà nước tính thuế đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền đền
bù…dựa trên khung giá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra nhiều
17
loại mỗi loại có một khung giá khác nhau. Để phân chia được đất nông nghiệp
thì công tác đầu tiên là phân hạng, đo đạc, đánh giá đất. Qua đây ta có thể
thấy vai trò lớn của công tác đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai.
- Đất đai là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào. Giá trị của đất
đai ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất đai ngày càng
phức tạp hơn. Con người đã nhìn nhận thấy được tính quan trọng của đất đại
đối với đời sống của mình. Chính vì vậy, các tranh chấp, mâu thuẫn, khiếu
kiện… trong các quan hệ đất đai thường nổ ra mạnh mẽ, Trong công tác quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp, cán bộ, công nhân viên chức có thể lợi dụng
quyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân, lợi ích
của người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của người khác,Chế tài Nhà
nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất nông nghiệp,
đảm bảo công bằng. Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực đất nông nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm các vi
phạm.
Trong xã hội nước ta, một thời đất đai được xem như “ vô giá” đơn
giản là vì đất đai không được mua bán trên thị trường. Ngày nay, đất đai là
một tài sản có giá trị lớn, được phép mua đi bán lại. Những mâu thuẫn trong
mua bán, cạnh tranh, đất đai nổ ra thường xuyên. Ngòai ra còn có nhiều loại
hình khác như: thế chấp đất đai, cho thuê đất đai, …Nhiều mối quan hệ nảy
sinh nhiều vấn đề phát sinh cần phải điều chỉnh. Để giảm thiểu những tác hại
có thể, công tác thanh tra, kiểm tra phải đặt lên hàng đầu.
3.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
Như đã trình bày ở trên đất nông nghiệp đóng vai trò to lớn đối với
từ 7% trở lên, thoát khỏi đói nghèo, đói ăn…Từ một đất nước đói nghèo, sống
nhờ vào viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứng
nhất nhì thế giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà còn
thoả mãn nhu cầu xuất khẩu nông phẩm. Đất nông nghiệp là một tiềm lực to
lớn mang lại cho toàn dân tộc ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao
động, phong tục tập quán, trình độ phát triển… nếu biết cách khai thác và sử
dụng sẽ là một tài nguyên vô giá cho sự phát triển của đất nước.
19
Đất nước mở cửa phát triển, trong xu thế giao lưu hợp tác với các nước
khác trên thế giới, nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thể giới WTO
cơ hội và thách thức đang chờ đón. Vấn đề lớn của nước ta trên con đường
phát triển là nguồn vốn, làm sao để thu hút được nhiêu nguồn vốn đầu tư từ
nước ngoài. Nguồn vốn đối ứng để chúng ta đưa ra thu hút đầu tư chính là đất
đai, Bản thân đất đã mang lại một nguồn vốn lớn các doanh nghiệp, công ty,
tổ chức ngay trên sân nhà, tạo nhiều thuận lợi cho công cuộc hội nhập, hợp
tác quốc tế của nước.
Các mối quan hệ liên quan đến đất đai vì vậy mà cũng trở nên đa dạng
và phức tạp hơn, không chỉ là mối quan hệ trong nước như trước kia nữa mà
phát triển hơn liên quan đến cả yếu tố nước ngoài. Nhà nước chủ thể quản lý
của xã hội, phải quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng một
cách hợp lý, có các chế tài mới phù hợp với xu thế hội nhập để có được hiệu
quả sử dụng tối ưu, lâu dài, bền vững…đảm bảo được nền độc lập dân tộc,
phát triển kinh tế.Trong các chế tài quản lý Nhà nước đã có và đâng dần hoàn
thiện những quy định liên quan đến yếu tố nước ngoài giúp cho quá trình hội
nhập của nước ta.
Thực tế cho thấy, công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể trong suốt thời
gian qua. Đó là những tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách hành chính,
Luật đất đai năm 2003 ra đời với nhiều nội dung mang tính chất đổi
mới (ví dụ như: sự phân chia đất theo tiêu chí mục đích sử dụng) là một bước
tiến quan trọng trong sự phát triển của hệ thống văn bản pháp luật về đất
đai.Tiếp theo đó nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện luật Đất đai năm 2003
đã được ban hành: luật, pháp lệnh,quyết định, nghị định, thông tư… để
hướng dẫn, quy định cho công tác quản lý các cấp, các ngành, các vùng, các
địa phương. Các hoạt động, mối quan hệ liên quan đến đất đai còn được điều
tiết thông qua một loạt bộ luật khác như: Luật Dân sự, Luật thuế sử dụng đất
nông nghiệp, Luật hình sự…và các văn bản khác hướng dẫn thi hành, áp
dụng luật có liên quan.
4.1.2. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồ
21
hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai trên bề mặt trái đất có nhiều loại, nhiều tinh chất, nhiều vùng,
nhiều tính chất khác nhau chúng được sử dụng vào nhiều mục đích khác
nhau.. Để có một cơ chế quản lý phù hợp, có được định hướng, quy hoạch và
kế hoạch phù hợp với địa phương, tỉnh, thành phố, cả nước. Việc đầu tiên bắt
buộc nhà nước phải nắm được các thông tin về đất đai như: Diện tích, loại
đất, tình hình sử dụng, phân bố, mục đích sử dụng,… Những thông tin này sẽ
đóng góp rất lớn cho công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng.
Đối với đất nông nghiệp để quản lý được đất nông nghiệp một cách có
hệ thống nhà nước cũng cần những thông tin về đất nông nghiệp: diện tích,
tình trạng sử dụng, mục đích sử dụng (trồng cây ngắn ngày, dài ngày…). Từ
những thông tin về đất nông nghiệp người quản lý có được kế hoạch sử dụng
hợp lý và cho ra những quyết định sử dụng đứng đắn, giúp cho nền nông
nghiệp của đất nước phát triển đóng góp cho sự phát triển xã hội…Trong
quá trình quản lý, sau khi tìm hiểu đưa ra quyết định, song song thực hiện
hoạch, kế hoạch chung.
-
Việc đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp phải dựa vào cơ sở khoa
học, Tuân thủ các căn cứ để phân hạng đất nông nghiệp như: chất đất, vị trí,
địa hình, điều kiện khí hậu, thành phần cơ giới của đất…
Công tác đánh giá, điều tra, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng, phân hạng
đất nông nghiệp là một công tác rất quan trọng. Đó là cơ sở tiên quyết đầu
tiên đáp ứng cho công tác quản lý nhà nứơc về đất nông nghiệp, cho công tác
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất…căn cứ để xác định tiền thuê đất, tiền
sử dụng đất,thuế chuyển quyền sử dụng đất…Thực hiện nghĩa vụ tài chính
đối với nhà nước, tạo nguồn thu cho ngân sách.
4.1.3.
Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông
nghiệp
Bất kể quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói
chung và đất nông nghiệp nói riêng.
Đứng trên cương vị là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai nói chung
và đất nông nghiệp nói riêng. Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất cho các vùng, lãnh thổ, ngành… Xét trên phạm vi quy
hoạch thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp có thể được lập cho
23
một huyện, thành phố, vùng, cả nước. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất được quy định rất rõ và cụ thể trong luật đất đai năm 2003 từ điều 21 đến
điều 30. Điều 21 quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
xã hội luôn luôn vận động theo quy luật phát triển, các hoạt động diễn ra
không ngừng chính vì vậy mà nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnh
vực, các địa phương có sự thay đổi thường xuyên. Đối với đất nông nghiệp
cũng vậy. Chính vì lý do đó mà quy hoạch sử dụng đất mang tính khả biến, nó
phải được điều chỉnh, sửa đổi phù hợp với nhu cầu đất nước, sự phát triển của
xã hội.
Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp được lập theo kỳ kế hoạch, và phải
dựa trên quy hoạch sử dụng đất đã được ban hành, phù hợp với sự phát triển
khoa học công nghệ…Trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất nếu cần
phải đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp với phương hướng phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương thì phải tiến hành chỉnh sửa sao cho phù hợp.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai. Thông qua quy hoạch, kế hoạch nhà nước sẽ điều chỉnh,
phân bổ, xác định, thay đổi mục đích sử dụng ngắn hạn hay dài hạn, xác định
cơ cấu các loại đất cho các vùng đất, vùng lãnh thổ, quyết định phân bổ, thu
hồi các loại đất …Quy hoạch, kế hoạch phải được lập một cách có khoa học,
hệ thống, phải sát với thực tế. Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất phải tuân theo quy định của luật pháp.
4.1.4. Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
nông nghiệp.
- Công tác giao đất, cho thuê đất
“ Giao đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành
chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”
“Cho thuê đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho
đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”
Việc giao đất, cho thuê đất là một công việc cụ thể hoá của nhà nước về
25