1
M
1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
•
•
Ị
M
J
vPháp luật về quy hoạch sử dụng đấtv
iầ thực tiễn trong việc quy hoạch đấỂ
ị xây dựng nông thôn mới tại huyện ị
I
Nam Giang - Quảng Nam”
I
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là bộ phận hợp thành của môi
trường sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố dân cư và tổ chức các
hoạt động kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, việc sử dụng tài nguyên đất đai một cách
họp lý và hiệu quả là vấn đề được cả thế giới quan tâm. Tuy nhiên, hiện trạng sử
pháp luật về QHSDĐ chưa hoàn thiện và do sự yếu kém trong việc thực hiện pháp
luật QHSDĐ của cơ quan chức năng. Nhận thức được tầm quan trọng của QHSDĐ
nên Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống
pháp luật QHSDĐ trong giai đoạn hiện nay.
Mặc dù hoạt động QHSDĐ trên thực tế còn nhiều hạn chế nhưng vấn đề này vẫn
chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện. Các công trình nghiên cứu và
pháp luật QHSDĐ hết sức ít ỏi, chủ yếu chỉ dừng lại ở các bài báo ở trên tạp chí và
trên các báo điện tử, chưa đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu của người sử dụng đất và
yêu cầu về việc tham khảo và thực hiện của các cơ quan nhà nước, v ấn đề quy
hoạch đất xây dựng nông thôn mới cũng được nhiều người nghiên cứu nhưng lại
được nhìn nhận và đánh giá ở trên phương diện khác. Các công trình nghiên cứu
chủ yếu chỉ chú ý với vấn đề đầu tư cơ sở hạ tầng mà chưa đặt nó vào công tác
QHSDĐ. Chính vì thế nghiên cứu pháp luật về QHSDĐ trong việc quy hoạch đất
xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay là hết sức cấp thiết.
Với mục tiêu nhìn nhận và đánh giá những kết quả của pháp luật QHSDĐ và
việc thực hiện pháp luật QHSDĐ để quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại
huyện Nam Giang giai đoạn 2011 - 2015. Phân tích, đánh giá những kết quả đạt
được và những bất cập tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch cũng như đề ra
các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật QHSDĐ và nâng cao hiệu quả sử
dụng đất để quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang trong
những năm tới, bản thân đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quy hoạch
sử dụng đất và thực tiễn trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mớỉ tạỉ
huyện Nam Giang - Quảng Nam” Đây là đề tài lần đầu tiên được nghiên cứu nên
tài liệu nghiên cứu còn hạn chế, bản thân chưa học tập được phương pháp nghiên
cứu của người đi trước. Do đó, bản thân rất mong nhận được sự quan tâm và đóng
góp ý kiến của người quan tâm đến hoạt động QHSDĐ và công tác quy hoạch đất
xây dựng nông thôn mới để đề tài này được hoàn thiện hơn.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và thực tiễn
trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mói tạỉ huyện Nam Giang Quảng Nam” tác giả rút ra được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, hiểu
nhằm đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về QHSDĐ.
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động QHSDĐ và thực
tiễn thực hiện trong quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại huyện Nam Giang,
thông qua đó thấy được thực trạng pháp luật về QHSDĐ cũng như thực trạng thực
hiện pháp luật về QHSDĐ trong việc quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới tại
huyện Nam Giang.
- Từ thực trạng thực hiện pháp luật QHSDĐ nói chung và hoạt động QHSDĐ để
quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới của tỉnh huyện Nam Giang nói riêng, khóa
luận mong muốn tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn để nâng cao hiệu quả
4
hoạt động QHSDĐ trong công tác quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn huyện Nam Giang.
4. Đốỉ tượng và phạm vỉ nghiền cứu.
Đối tượng mà khóa luận nghiên cứu đó là các quy định của pháp luật về hoạt
động QHSDĐ. Đồng thời, tìm hiểu việc áp dụng pháp luật vào hoạt động QHSDĐ
cũng như thực tiễn của hoạt động QHSDĐ trong việc quy hoạch đất xây dựng nông
thôn mới tại huyện Nam Giang.
v ề phạm vi nghiên cứu, khóa luận chủ yếu nghiên cứu vấn đề về QHSDĐ và các
quy định về quy hoạch đất xây dựng nông thôn mới trong phạm vi các quy định của
Luật đất đai năm 2003 và các văn bản pháp quy về vấn đề quy hoạch đất xây dựng
nông thôn mới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác -L ê Nin.
Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các vấn đề dựa trên cơ sở khoa học,
thực tiễn và lý luận giúp cho nội dung báo cáo mang một sắc thái riêng dựa trên
nền tảng khoa học từ đó rút ra quan điểm cho bản thân. Ngoài những phương pháp
II. PHÄN N01 DUNG
CHÜÖNG 1: MQT SO VAN DE LY LUÄN YE QUY HOACH SÜ’DyNG DAT VA QUY
HOACH DAT XÄY Dy’NG NÖNG THÖN MÖI
1.1. Nhimg van de chung ve quy hoach su dung dat
1.1.1. Khäi niem ve quy hoach su dung dat.
V l mat ban chit, quy hoach lä su chuyln höa tu y tucmg qua tu duy thänh hänh
dong nhäm tao ra nhüng k it qua d l dat dugc muc tieu nhät dinh. Tren thuc tl, y
tuang vä mong muon cüa con nguai luön cö xu huang näng cao khong ngimg
nhung dilu kien d l thuc hien dugc y tuang thi luön bi giai han bai su han chi cüa
cäc nguön luc, vi vay cän phäi cö tu duy. Nhu vay, quy hoach la qua trinh cüa tu
duy ly thuyet quan he voi tüng su viec dugc hinh thänh vä the hien qua mot qua
trinh hänh dong thuc te. Trong qua trinh näy nhä quy hoach phäi tinh toan, can
nhäc vä dh xuit nhung hoat dong cu thl d l dat dugc k it qua din din muc tieu. Muc
tieu dat dugc phäi dam bao tinh hieu qua vä tinh b ln vung.
Xet tren quan dilm dät dai lä tu lieu sän xuät dac biet thi QHSDD la mot pham
trü kinh te - xä hoi vä cö the xäc dinh khäi niem QHSDD la he thong cäc bien phäp
cüa Nhä nuac, quän ly vä to chüc su dung dät hgp ly, hieu qua thong qua viec phän
bö dät dai cho cäc muc dich sü dung dät vä dinh huang tö chüc sü dung dät trong
cäc cap länh thö, cäc ngänh, to chüc don vi nhäm näng cao hieu qua sän xuät xä
hoi, thuc hien duong löi kinh tl cüa Nhä nuac tren ca so du bäo theo quan dilm
sinh thäi, ben vung, phü hgp voi xä hoi vä bäo ve moi trucmg
Xet tren quan dilm dät dai lä täi nguyen quöc gia, la mot ylu t6 ca ban cüa sän
xuät xä hoi, nguön luc quan trong cüa su phät triln kinh tl - xä hoi thi QHSDD lä
mot he thöng chi tieu dänh giä tilm näng dät dai, nhüng loai hinh sü dung dät vä
cäc tilm näng kinh tl - xä hoi nhäm lua chon vä xäc dinh cäc giäi phäp sü dung dät
töi uu, däp üng cäc nhu cäu cüa con nguai tren ca sa bäo ve cäc nguön täi nguyen
lau däi.
Xet tren quan diem dät dai lä täi nguyen quöc gia, lä möt yeu tö ca bän cüa sän
nhau. QHSDĐ luôn là một bộ phận cấu thành của phương thức sản xuất xã hội nhất
định trong giai đoạn lịch sử đó. Chính vì thế, khi phương thức sản xuất thay đổi thì
đặc điểm của QHSDĐ cũng thay đổi theo. Trong thời kỳ trước, QHSDĐ nhìn
chung còn mang nặng yếu tố chủ quan, các phương án QHSDĐ chưa chú trọng đến
yếu tố môi trường và phát triển kinh tế. Các phương án QHSDĐ của xã hội trước
chỉ chú ý tới những biện pháp trước mắt là ổn định cuộc sống của người dân chứ
chưa chú trọng tới việc phát triển bền vững.
Ngày nay, trước những thảm họa do thiên tai và môi trường gây nên, thêm vào
đó là sức ép của sự gia tăng dân số khiến con người ngày càng chú ý tới vấn đề
QHSDĐ. Con người đã có những biện pháp QHSDĐ một cách thích họp nhằm
ngăn chặn những ảnh hưởng xấu của môi trường cũng như hướng tới mục tiêu phát
triển bền vững. QHSDĐ không chỉ quan tâm đến vấn đề môi trường và sinh thái mà
còn quan tâm đến các lĩnh vực khác như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân
số...
Tóm lại, chúng ta thấy đặc điểm của QHSDĐ trong mỗi giai đoạn khác nhau,
luôn thể hiện chính sách cũng như đường lối của các giai cấp thống trị. Hay nói
cách khác, QHSDĐ cũng mang bản chất giai cấp và thể chế chính trị của mỗi nhà
2 Đại học luật Hà Nội (2006), giáo trình luật đất đai, nhà xuất bản tư pháp Hà Nội
8
nước trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhất định. Trong xu hướng cả thế giới
đang đối mặt với những thảm họa mang tính toàn cầu thì yêu cầu về QHSDĐ phát
triển một cách bền vững và bảo tồn được các di tích lịch sử là một yếu tố quan
trọng cần được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm.
1.1.3 Sơ lược về quy hoạch và sử dụng đất ở Việt nam qua các thời kỳ
Với những đặc điểm QHSDĐ ta có thể chia QHSDĐ qua năm giai đoạn cơ bản
đó là giai đoạn trước năm 1980; giai đoạn 1980 đến 1986; giai đoạn 1987 đến
9
Đây là thời kỳ đánh dấu sự ra đời Luật đất đai năm 1987. Lần đầu tiên nước ta
có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh đến lĩnh vực đất đai tạo cơ sở pháp lý
quan trọng cho công tác QHSDĐ. Mặc dù Luật đất đai 1987 không thể khái quát
hết mọi vấn đề của quan hệ pháp luật đất đai. Nhưng xét trên phương diện lịch sử
thì Luật đất đai 1987 đã làm tròn được sứ mệnh lịch sử của mình. Thời kỳ này,
nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới sau hội nghị đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI. Công cuộc đổi mới đất nước làm cho nền kinh tế đứng trước những khó
khăn và thử thách lớn khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Tuy vậy, đây là thời
kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản
lý tập trang của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho hộ nông
dân và thực thi các chính sách đổi mới khác, công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở
cấp xã nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất, dãn dân và một số nơi
có xu hướng đô thị hóa rõ rệt.
- Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam thời kỳ 1993 - 2003
Khi đất nước chuyển sang một giai đoạn mới, Luật đất đai 1987 không thể đảm
đương được sứ mệnh lịch sử của mình nữa nên yêu cầu mới đặt ra là phải thay thế
luật cũ bằng một luật mới tiến bộ hơn. Để đáp ứng yêu cầu đó Luật đất đai 1993 ra
đời nhằm điều chỉnh quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường, xóa bỏ tình trạng vô
chủ trong quan hệ sử dụng đất, xác lập quyền năng cụ thể cho người sử dụng đất. Ở
thời kỳ này, công tác đất đai đi vào nề nếp sau một thời gian dài tuyệt đối hóa về
công hữu hóa đất đai ở miền Bắc và buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía Nam
dẫn đến tình trạng có quá nhiều diện tích đất không có chủ sử dụng đất. Sau Đại hội
Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước triển khai công tác nghiên cứu chiến lược
phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ở hầu hết các tỉnh thành, các vùng
kinh tế, các vùng trọng điểm và quy hoạch phát triển ngành ở hầu hết các bộ ngành.
Các công trình nghiên cứu này đều tính tới năm 2010, phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội trong vòng 10 đến 15 năm tới, việc nghiên cứu triển khai công
gđ2
1986
gđ 5
1993
gđ 4
2003
^
*
Sư đồ 1: Sơ đồ thể hiện các giai đoạn phát triển QHSDĐ ở Việt Nam
Như vậy, chúng ta thấy QHSDĐ của nước ta qua các thời kỳ đều đánh dấu sự
phát triển từ thấp đến cao. Công tác QHSDĐ ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp
ứng được những yêu cầu mới của xã hội thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước trong công tác lập QHSDĐ. Mặc dù ở một số thời kỳ, QHSDĐ còn chưa được
quan tâm đúng mức và bộc lộ nhiều hạn chế. Tuy nhiên, so với hoàn cảnh điều kiện
xã hội lúc bấy giờ thì công tác QHSDĐ cũng đã mang lại nhiều đóng góp to lớn
cho việc thực hiện QHSDĐ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và kinh tế xã hội tại thời điểm lịch sử đó.
1.2 Những vấn đề chung về xây dựng nông thôn mới:
1.2. l.Khải niệm về xây dựng Nồng thôn mới
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông
nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu khá toàn diện
và to lớn. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất
hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh
lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trị cao trên thị trường thế
giới. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ và
an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước.
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,
gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa
nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển,
xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát
triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông
nghiệp là then chốt.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
phù họp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai
thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực
lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng
mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học,
công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng
cao dân trí nông dân.
12
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ,
tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà
thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đàm đà bản sắc dân tộc, tạo động
lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông
dân.
Như vậy chúng ta có thể rút ra khái niệm về xây dựng Nông thôn mới như sau:
Xây dựng nâng thân mới là một mục tiêu mang tỉnh toàn diện, bao hàm cả phát
mới phải được nằm trong qui hoạch tổng thể về phát triển nông nghiệp, sắp xếp dân
cư và đầu tư hạ tầng cơ sở. Do đó, để thực hiện được các vấn đề trên thì cần phải có
kế hoạch, qui hoạch sử dụng đất để vừa làm cơ sở pháp lý trong công tác quản lý về
đất đai, qui hoạch vừa để tạo được định hướng phát triển trong thời gian ngắn,
trung và dài hạn đáp ứng được yêu cầu phát triển về xây dựng nông thôn mới. Nếu
chính quyền địa phương có những định hướng, tầm nhìn tốt trong qui hoạch đất
đai, thì vấn đề xây dựng các vừng sản xuất, cụm dân cư, đường xá, trường học,
trung tâm hành chính của xã nông thôn mới sẽ thuận lợi, tạo động lực phát triển về
lâu dài và có tính bền vững. Ngược lại, nếu công tác QHSD đất không được quản
lý chặt chẽ, hoặc nói cách khác là chính quyền địa phương không quan tâm thực
hiện, thì nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới sẽ gặp nhiều khó khăn, rời rạc, các
vùng mạnh ai nấy làm, không theo một trật tự không gian và vùng cụ thể, vì vậy sẽ
không tạo được động lực để phát triển kinh tế- xã hội nông thôn tại địa phương.
1.3.2.
Sự cần thiết của thực hiện pháp luật qui hoạch với xây dựng nông thôn
mới
Từ mối quan hệ mật thiết giữa QHSDĐ và xây dựng nông thôn mới như đã phân
tích trên đây, thì việc thực hiện pháp luật QHSDĐ để xây dựng nông thôn mới là
cần thiết, nó vừa đảm bảo về mặt pháp luật trong quản lý, sử dụng đất, đồng thời
tạo được sự thống nhất trong định hướng phát triển về kinh tế- xã hội tại vùng nông
thôn, nhất là tại các địa phương miền núi cao, biên giới để nhằm thực hiện thành
công các mục tiêu về xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 26-NQ/TW
Trung ương 7 khóa X ngày 05/8/2008.
Đặc biệt là trong những năm gần đây, khi dân số vẫn đang tiếp tục tăng, trong
khi đó, diện tích đất có hạn, đất nông nghiệp dần thu hẹp, nếu không thực hiện
pháp luật về QHSDĐ sẽ gây ra những tranh chấp, lấn chiếm, sử dụng đất không
đứng mục đích, ảnh hưởng lớn đến việc sắp xếp vùng sản xuất, cụm dân cư, đất xây
dựng cơ sở hạ tầng.v.v.từ đó tác động tiêu cực đến quá trình thực hiện đổi mới toàn
để các phương án QHSDĐ có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất.
Luật đất đai 2003 đã quy định về các căn cứ lập QHSDĐ dựa trên sự kế thừa
của Nghị định 68/2001/NĐ-CP của chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đai. Các căn cứ QHSDĐ được quy định tại điều 22 Luật đất đai 2003. Cụ thể, các
căn cứ xây dựng quy hoạch phải xuất phát từ: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của
các ngành và các địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường; Hiện trạng sử dụng
đất và nhu cầu sử dụng đất; Định mức sử dụng đất; tiến bộ khoa học và công nghệ
có liên quan đến việc sử dụng đất; Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ
trước [18,27]3.
2.3. Nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Từ những nguyên tắc và các căn cứ lập QHSDĐ, ta thấy nội dung của QHSDĐ
luôn biến đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở kế thừa những
quy định về nội dung QHSDĐ của Luật đất đai 1993 và Nghị định 68/2011/NĐ CP. Luật đất đai 2003 đã quy định nội dung QHSDĐ cụ thể như sau: Điều tra,
3 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003). Luật đất đai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
15
nghiên cứu, phân tích, tổng họp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử
dụng đất, đánh giá tiềm năng đất đai; xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất
trong kỳ quy hoạch; Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình,
dự án; Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;
Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất [18,29]4.
2.4. Kỳ quy hoạch sử dụng đất
Kỳ QHSDĐ là khoảng thời gian mà nhà nước đặt ra để chính quyền các cấp có
cơ sở xây dựng chiến lược từ tổng thể đến chi tiết để thực hiện các nội dung
QHSDĐ. Điều 24 luật đất đai 2003 quy định về kỳ QHSDĐ của tất cả các cấp là
mười năm. Quy định về kỳ quy hoạch là một quy định mới so với các văn bản pháp
đô thị; UBND xã có trách nhiệm lập QHSDĐ của cấp xã không thuộc quy hoạch
phát triển đô thị [18,30]5.
Thứ hai là về quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất
QHSDĐ muốn đi vào thực hiện trong cuộc sống phải được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét và phê duyệt. Xét duyệt là công đoạn cuối cùng trước khi các
phương án quy hoạch được công bố và đưa vào thực hiện trong cuộc sống. Đây là
bước mà cơ quan cấp trên xác nhận lại một lần cuối tính hợp lý và hợp pháp của
các phương án QHSDĐ của cấp dưới. Thẩm quyền quyết định và phê duyệt
QHSDĐ được quy định tại điều 26 luật đất đai 2003 cụ thể như sau: Quốc hội
quyết định QHSDĐ của cả nước do Chính phủ trình. Chính phủ xét duyệt QHSDĐ
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương xét duyệt QHSDĐ của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp. UBND huyện,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt QHSDĐ cấp xã không thuộc vùng quy hoạch
phát triển đô thị [18,31]6.
2.6. Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Điều chỉnh QHSDĐ là việc cơ quan nhà nước thay đổi một số nội dung của
QHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Việc điều chỉnh chỉ
thực hiện khi có một số thay đổi của các yếu tố có liên quan làm cho các QHSDĐ
đã được xét duyệt không còn phù hợp và khi đi vào thực hiện không có tính khả thi.
Việc điều chỉnh QHSDĐ được quy định tại điều 27 đã quy định rất cụ thể các
trường hợp điều chỉnh QHSDĐ, về nội dưng cũng như thẩm quyền quyết định xét
duyệt QHSDĐ của các cấp. Những quy định về điểu chỉnh đảm bảo được yêu cầu
về tính khả biến của QHSDĐ. Đặc biệt quy định cơ quan có thẩm quyền xét duyệt
QHSDĐ cấp nào thì có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh QHSDĐ cấp ấy là quy
định hợp lý. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã quy định cụ thể hồ sơ xét duyệt và hồ
sơ điều chỉnh xét duyệt QHSDĐ tại điều 17, 19, 20, 21 và 26 Nghị định
181/2004/NĐ - CP, theo đó mỗi cấp lập quy hoạch sẽ có những hồ sơ khác nhau.
Nhìn chung các quy định của pháp luật về điều chỉnh QHSDĐ là khá đầy đủ và họp
lý. Tuy nhiên, hồ sơ xét duyệt điều chỉnh QHSDĐ chưa đề cập đến báo cáo đánh
giá môi trường chiến lược như các quy định của luật bảo vệ môi trường. Qua đó
nhà nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trích đăng trên báo của địa
phương.
- UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu
về QHSDĐ chi tiết và các dự án đầu tư đã được xét duyệt tại trụ sở UBND xã,
phường, thị trấn trong suốt kỳ QHSDĐ.
Những quy định trên giúp người dân có thể tiếp cận đầy đủ thông tin về
QHSDĐ để biết và thực hiện, các cơ quan nhà nước thể hiện sự công khai, minh
bạch trong quá trình xây dựng, lập, phê duyệt và đưa quy hoạch vào đời sống đồng
thời thể hiện sự dân chủ, công khai trong công tác quy hoạch. Hình thức công bố
thông tin QHSDĐ cũng được quy định đa dạng, người dân có thể tiếp cận thông tin
QHSDĐ trên mạng Internet, báo chí... Song những quy định này trên thực tế vẫn
còn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại nguồn thông tin hữu ích cho người
dân. Người dân không biết đến các phương án quy hoạch, gây khó khăn cho việc
thu hồi đất và bàn giao mặt bằng để nhà nước thực hiện các dự án đầu tư. Trong
thời gian tới, các cơ quan chức năng nên làm tốt việc công bố thông tin QHSDĐ
góp phần nâng cao hiệu quả của các phương án QHSDĐ trong cuộc sống, đảm bảo
tính ổn định và chiến lược lâu dài.
18
2.8. Thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Thực hiện QHSDĐ là việc triển khai áp dụng các nội dung trong QHSDĐ và
thực tiễn sử dụng đất. Đây chính là việc các cơ quan nhà nước thực hiện các hành
vi quản lý đất đai theo quy định của pháp luật và theo ý đồ sử dụng đất đã được xét
duyệt.
Việc thực hiện QHSDĐ được quy định tại điều 29 luật đất đai 2003 theo đó:
Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện QHSDĐ của cả nước, kiểm tra việc thực
hiện QHSDĐ của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. UBND cấp tỉnh và cấp
huyện chỉ đạo việc thực hiện QHSDĐ của địa phương, kiểm tra việc thực hiện
QHSDĐ của địa phương cấp dưới trực tiếp. UBND xã chỉ đạo thực hiện QHSDĐ
Bước 3
Bước 4
Bước 5
Bước 6
Lập
Thông
qua
Xét
duyệt
Công bố
Thực
hiện
Điều chỉnh
Lập hồ
sơ xét
duyệt
Thẩm
quyền
xét duyệt
KVĐT
Bộ
TNTMT
Chính
phủ
Bộ
TNMT
Quốc hội
Chính
phủ
Sở
TNMT
UBND
tỉnh
UBND
tỉnh
Chính
phủ
HĐND
huyện
UBND
huyện
UBND
tỉnh
QHSDĐ
cấp xã
không
thuộc
KVĐT
UBND
xã
HĐND
xã
UBND
huyện
UBND
xã
UBND
xã
UBND
xã
* sơ đồ 2: Stf đồ thể hiện trình tự, thẩm quyền xây dựng QHSDĐ của các
cấp
Qua sơ đồ trên, ta thấy giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng quy hoạch có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Cơ quan cấp trên luôn thực hiện chức năng giám
sát cấp dưới làm cho các QHSDĐ của các cấp họp lý và phù hợp với quy hoạch
tổng thể chung trong cả nước. Với cơ chế như trên, quá trình xây dựng, lập, quyết
định xét duyệt vừa tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương, vừa phân
công, phân nhiệm rõ ràng giữa cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính
nhà nước và thẩm quyền chuyên môn của cơ quan quản lý đất đai.
Tóm lại, nội dung của pháp luật về QHSDĐ đã góp phần làm cơ sở pháp lý quan
trọng để các phương án quy hoạch có hiệu lực pháp luật trong thực tế. Pháp luật
quy định rất cụ thể các nguyên tắc, căn cứ cũng như trình tự thủ tục xây dựng các
phương án QHSDĐ giúp cho các phương án quy hoạch mang lại hiệu quả cao. Đặc
biệt, đối với các QHSDĐ chi tiết pháp luật đã quy định phải lấy ý kiến đóng góp
của người dân. Đây là một quy định tiến bộ thể hiện được quyền dân chủ của công
dân. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã chia QHSDĐ cấp xã thành hai trường hợp để
20
đáp ứng được nhu cầu thực tế khách quan. So với Luật đất đai 2003 và Nghị định
68/2001/NĐ - CP thì Luật đất đai 2003 đã thể hiện được một bước phát triển mới
trong hoạt động QHSDĐ. Tuy nhiên, những quy định đã không còn phù họp với
yêu cầu mới của xã hội nhưng Pháp luật vẫn còn áp dụng các quy định chung cho
tất cả các cấp quy hoạch trong khi đó ở mỗi cấp lại có nhu cầu, hiện trạng sử dụng
đất khác nhau mà Pháp luật vẫn chưa có cơ chế rõ ràng trong việc chịu trách nhiệm
của cá nhân, vẫn còn quy định trách nhiệm chịu tập thể và đặc biệt chưa chú ý tới
nguyên tắc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Nhiều quy định thiếu tính ổn
định, tính chiến lược và thiếu tính khả thi. Chính vì thế trong thời gian tới pháp luật
cần có những chính sách đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai về
QHSDĐ để hoạt động QHSDĐ thực sự là công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện
3.1.3. Điều kiện xã hội:
Toàn huyện có tổng dân số là 22.982 người, trong đó: đồng bào dân tộc thiểu
số là 17.967 người, chiếm 78,17% tổng số dân trên địa bàn.
Kết quả điều tra hộ nghèo trên địa bàn huyện Nam Giang năm 2011, đã được
UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 654/QĐ-UBND ngày 29/12/2011 Phê
duyệt kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2011 tỉnh Quảng Nam là
69,13%, với 3.661 hộ nghèo; hộ cận nghèo chiếm 4,38%, với 232 hộ.
3.1.4. Điều kiện về kỉnh tế
Là một huyện miền núi, với phần lớn là đồng bào DTTS, sinh sống chủ yếu
bằng sản xuất thuần nông, phương thức canh tác giản đơn, nhỏ lẻ và phân tán. Vì
vậy, Nam Giang có điều kiện kinh tế xuất phát điểm thấp, phần lớn nông sản làm ra
trước mắt là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và ổn định lương thực tại chỗ.
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm: 5.966,2 ha/ 6.000 ha đạt 99,4 % kế
hoạch. Trong đó, diện tích cây lương thực có hạt: 3.561,8 ha ( vụ Đông- Xuân: 767
ha, Hè- Thu: 2.794,8 ha ); diện tích gieo trồng lúa nước đạt 719,9 ha, bằng 99,3%
kế hoạch; diện tích gieo trồng các loại cây trồng khác đạt từ 90,5% trở lên so với kế
hoạch giao.
Tổng sản lượng lương thực có hạt đ ạ t: 6.202,6 tấn đạt 98,4% kế hoạch giao. Chăn
nuôi: Tổng đàn gia súc : 15.025 con. Trong đó:
Đàn bò: 5.216 con, bằng 86,9% so với kế hoạch; đàn trâu: 1.323 con; đàn heo:
7.534 con, bằng 94,1% kế hoạch; đàn dê: 737 con, bằng 92,5% kế hoạch.
Tổng đàn gia cầm: 28.305 con, bằng 94,3% kế hoạch.
-Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thực hiện ước đạt: 272,372 tỷ
đồng. Trong đó, thu trên địa bàn do huyện quản lý thu ước đạt 13,485 tỷ đồng.
Nhìn chung thu ngân sách trên địa bàn hằng năm có tăng, song vẫn còn thấp so với
nhu cầu chi của địa phương, thu ngân sách của huyện chưa đảm bảo tự cân đối.
Phần đảm bảo chi cho đầu tư phát triển và chi cho các hoạt động khác hiện nay chủ
yếu phụ thuộc vào ngân sách của tỉnh và từ các chương trình mục tiêu của Trung
ương phân bổ.v.v.
Tỷ lệ giảm sinh năm 2011 thực hiện 3,08%o, vượt 2,38%0 so với kế hoạch
giao.
- Văn hoá - thông tin Trên toàn địa bàn huyện có 4.015/4.358 hộ gia đình
đạt chuẩn văn hóa, tỷ lệ 93,13%; có 42/63 thôn đạt chuẩn thôn văn hóa, chiếm tỷ lệ
66%.
* Đánh giá
nhữngо thuân
loi
điểm tư• nhiên - kỉnh tế
о
•
• và khó khăn của đăc
•
xã hộỉ đối với công tác quản lý sử dụng đất:
Những thuận lợi:
- Nam Giang có vị trí địa lý - kinh tế - quốc phòng quan trọng, có đường biên
giới với nước bạn Lào anh em mang tính chiến lược không những của tỉnh mà cả
miền Trung. Nam Giang có tuyến đường xuyên Việt Hồ Chí Minh chạy qua đây là
tuyến đường quan trọng huyết mạch nối liền Bắc-Nam và nối với tuyến hành lang
kinh tế Đông - Tây, nối Việt Nam với các nước Đông Nam á. Có Quốc lộ 14 в đi
thành phố Đà Nằng và thông sang nước bạn Lào theo đường Quốc lộ 14 D qua cửa
khẩu Đắc ốc. Đường Hồ chí Minh, Quốc lộ 14B, quốc lộ 14 D sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho Nam Giang phát triển kinh tế và mở rộng giao lưu hàng hoá với các
tỉnh và với các nước trong khu vực.
23
- Tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp rất lớn, đất hoang hoá có khả
năng sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp nhiều, là điều kiện thuận lợi để phát
nông nghiệp với phát triển ngành công nghiệp chế biến chưa được hình thành đã
ảnh hưởng lớn quá trình sản xuất với quy mô lớn và sức cạnh tranh trên thị trường.
- Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong huyện còn nghèo nàn. Trình
độ dân trí thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu. Trình độ lao sản xuất còn
thấp kém, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp chưa
phổ biến, vẫn dựa vào thiên nhiên là chủ yếu. Đây là một trong những trở ngại lớn
24
trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đầu tư thâm canh phát triển
sản xuất.
- Lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu và trình độ
còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
- Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông nội vùng chưa phát triển nên việc đi lại
khó khăn, giao lưu kinh tế, văn hoá còn nhiều bất cập. Các công trình phúc lợi công
cộng thiếu và chất lượng phục vụ chưa cao, nên các bệnh sốt rét, sốt xuất huyết,
tiêu chảy thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và lao động sản xuất.
- Địa hình đồi núi phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn lượng mưa lớn và
tập
trung vào các tháng 9,10,11 hàng năm do đó đất đai dễ bị xói mòn rữa trôi mạnh
làm mất khả năng sản xuất của đất.
- Đất sản xuất nông nghiệp nằm phân tán, manh mứn gây khó khăn cho việc
đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Nhìn chung, về điều kiện kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện trong những năm
qua, mặc dù đã có nhiều khởi sắc, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đặc
biệt là về hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là tại địa bàn các xã vùng cao, trong
đó có 03 xã mới chia tách là: Tà Pơ, Đắc Tôi và Chơ Chun, cơ sở hạ tầng thiết yếu
còn rất nhiều hạn chế. Đời sống của nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông
nghiệp, năng suất còn thấp, giá trị canh tác trên một ha đất nông nghiệp chưa cao,