Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ MAI DIỆU THÚY

PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ
XÃ HỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ



LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS MAI THỊ THANH XUÂN
Hà Nội – Năm 2014 3

MỤC LỤC
Trang
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI 7
1.1. Mô hình nông thôn mới 7
1.1.1. Khái niệm và bản chất của mô hình nông thôn mới 7
1.1.2. Các tiêu chí chủ yếu của mô hình nông thôn mới 9

2.2.1. Hệ thống giao thông nông thôn 50
2.2.2. Hệ thống các công trình thủy lợi, thủy nông 52
2.2.3. Hệ thống các công trình cung cấp điện 54
2.2.4. Hệ thống trường học 56
2.2.5. Y tế 57
2.2.6. Xây dựng các công trình văn hóa, thể dục thể thao, thông tin liên lạc….…59
2.2.7. Hệ thống cung cấp nước sạch 62
2.2.8. Hệ thống chợ nông thôn 63
2.3. Đánh giá thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của huyện đáp
ứng yêu cầu phát triển nông thôn mới …………………….… …65
2.3.1. Những thành tựu cơ bản 65
2.3.2. Những hạn chế của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn theo yêu cầu
mô hình nông thôn mới 66
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 68
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾT
CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ XÃ HỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
GIAI ĐOẠN 2010 – 2020……………………………………………………… 71
3.1. Quan điểm về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu

5
cầu xây dựng nông thôn mới của huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ……….71
3.1.1. Hệ thống kết cấu hạ tầng tầng kinh tế xã hội có tầm quan trọng đặc
biệt trong quá trình xây dựng nông thôn mới ……….………………71
3.1.2. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn là nhân
tố thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế ……………………… 72
3.1.3. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội là nhiệm vụ của
cả Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư 73
3.2. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng knh tế xã hội nông thôn mới
huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 75

2
CSHT
Cơ sở hạ tầng
3
HĐND
Hội đồng nhân dân
4
KCHT
Kết cấu hạ tầng
5
KHHGĐ
Kế hoạch hóa gia đình
6
KT-XH
Kinh tế xã hội
7
NTM
Nông thôn mới
8
SX
Sản xuất
9
THCS
Trung học cơ sở
10
THPT
Trung học phổ thông
11
UBND
Ủy ban nhân dân

2
2.2
Kết quả phát triển các công trình thủy lợi, thủy nông
53
3
2.3
Kết quả xây dựng các công trình cung cấp điện
55
4
2.4
Kết quả xây dựng hệ thống trường học
56
5
2.5
Kết quả xây dựng và phát triển các công trình y tế
57
6
2.6
Kết quả xây dựng các công trình văn hóa, thể dục
thể thao
60
7
2.7
Kết quả xây dựng mạng lưới bưu chính viễn thông
61
8
2.8
Kết quả phát triển hạ tầng mạng lưới chợ nông thôn
63
9

xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hoá. Trong đó, xã Tân Thịnh, huyện
Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là một trong 11 xã đại diện cho vùng trung du,
đáp ứng được các yêu cầu: Xã có điều kiện kinh tế xã hội ở mức trung bình
khá của tỉnh, thành phố và của vùng; Đại diện cho các vùng kinh tế - văn hoá
để thuận lợi cho việc tổ chức nhân rộng mô hình về sau; Nhân dân nhất trí

9
cao, đồng thuận, hăng hái và tự nguyện xin tham gia chương trình thí điểm
xây dựng mô hình nông thôn mới; Có đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình,
am hiểu về xây dựng nông thôn mới để chỉ đạo, tổ chức người dân và cộng
đồng thực hiện. Các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động tích cực, sâu sát với
đời sống của người dân.
Do điều kiện địa lý, tự nhiên khó khăn nên sự phát triển KT-XH của
huyện nói chung và phát triển hệ thống KCHT nói riêng còn ở trình độ rất
thấp. Để phát huy những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo ở Tân Thịnh để
triển khai nhân rộng, huyện đã chú trọng tới công tác xây dựng NTM ở các xã
khác trong toàn huyện và nhận thức được tầm quan trọng của hạ tầng KT-XH,
huyện đã nỗ lực phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, trạm y tế, đường
điện, các cơ sở giáo dục…, coi đây là tiền đề để xây dựng NTM. Dù vậy, trên
thực tế việc phát triển hạ tầng KT-XH tại huyện vẫn còn nhiều hạn chế bất
cập so với yêu cầu của mô hình NTM. Vấn đề này đang đặt ra nhiệm vụ hết
sức nặng nề cho cán bộ và nhân dân huyện Lạng Giang trên con đường rút
ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển so với các huyện trong
tỉnh cũng như trên phạm vi cả nước.
Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả chọn đề tài: “Phát triển hệ thống kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới tại
huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
kinh tế chính trị.
Thực hiện đề tài này, luận văn nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:
+ Tại sao phải xây dựng mô hình nông thôn mới và hệ thống kết cấu hạ

mới”, của PGS,TS. Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê năm 2003. Đây là công

11
trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có
tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm,
công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn
nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ. Công trình đã
luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn
nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra
trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở
về những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta
như vấn đề đầu tư, vấn đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng
cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã được tác giả lý giải với nhiều luận cứ có
tính thuyết phục.
Nhìn chung, các công trình trên đã tập trung nghiên cứu tới sự phát
triển của nền nông thôn Việt Nam từ sau đổi mới, nhưng kể từ khi Việt Nam
thực hiện Đề án nông thôn mới thì chưa có một công trình cụ thể nào, đi sâu
phân tích về cơ sở hạ tầng của nông thôn trong giai đoạn mới, nhất là trong
những huyện nghèo như Lạng Giang, Bắc Giang. Đây là khoảng trống mà đề
tài: “Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu xây
dựng nông thôn mới tại huyện Lạng Giang, Bắc Giang” sẽ cố gắng giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu
NTM của KCHT KT-XH, tìm ra nguyên nhân của những thành công và hạn
chế trong việc thực hiện quá trình này, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy
quá trình xây dựng hệ thống KCHT đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM tại
huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh… để đánh
giá thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn. Ngoài ra,
luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số học
giả trong nước về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn.
6. Đóng góp mới của luận văn
Về lý luận: Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nông
thôn, cơ sở hạ tầng nông thôn trong mô hình nông thôn mới.
Về thực tiễn: Chỉ ra những bất cập của hệ thống KCHT KT-XH nông
thôn huyện Lạng Giang so với yêu cầu của xây dựng NTM và đề xuất giải
pháp khắc phục.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về phát triển hệ thống
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
Chương 2. Thực trạng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
nông thôn của huyện Lạng Giang theo yêu cầu xây dựng mô hình nông thôn
mới.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở huyện Lạng Giang,
tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2020.

14
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ XÃ HỘI
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Mô hình nông thôn mới
1.1.1. Khái niệm và bản chất của mô hình nông thôn mới
1.1.1.1. Khái niệm nông thôn

dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường
trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
1.1.1.2. Bản chất của mô hình nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới
là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Với tinh thần đó, nông thôn mới được thể hiện:
Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại.
Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa.
Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được
nâng cao.
Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển.

16
Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.
Những nội dung trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong quá trình
thực hiện cần phải giải quyết đồng bộ và toàn diện nhằm khơi dậy và phát huy
tốt vai trò người nông dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở nước ta
ngày càng văn minh, hiện đại .
1.1.2. Các tiêu chí chủ yếu của mô hình nông thôn mới
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-
TTg ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” bao gồm 19 tiêu chí,
được chia thành 5 nhóm. Dưới đây xin đề cập một số tiêu chí cơ bản nhất:
1.1.2.1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển
Quy hoạch là bố trí, sắp xếp địa điểm, diện tích sử dụng các khu chức

hạ tầng kinh tế như có nhiều khu sản xuất tập trung, đường giao thông thuận
tiện cho thông thương… thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Hay tại vùng đó có các cơ sở hạ tầng văn hóa như y tế, văn hóa, giáo dục…
thì sẽ góp phần nâng cao đời sống của người dân.
Các chỉ tiêu chính về cơ sở hạ tầng KT-XH của NTM là:
- 100% đường trục xã đến ngõ được bê tông hóa hoặc cứng hóa
- 85% chiều dài kênh mương được kiên cố hóa
- 99% số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn.
- 100% số trường học các cấp (từ Mầm non đến THCS) có cơ sở vật
chất đạt chuẩn quốc gia.
- 100% số thôn có nhà văn hóa và khu thể thao.

18
- 90% số hộ có nhà ở kiên cố.
- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông và có mạng Internet.
1.1.2.3. Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất
Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất là mục tiêu cơ bản của đề án
NTM. Phát triển kinh tế nhằm giúp người nông dân có đời sống ấm no, sung
túc hơn.
Các chỉ tiêu chính về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất của NTM là:
- Thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn 1,4 lần so với mức bình
quân chung của tỉnh.
- Tỷ lệ hộ nghèo dưới 6%.
- Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp nhỏ hơn 30%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo lớn hơn 35%.
- Có tổ hợp tác xã hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.
1.1.2.4. Phát triển văn hóa – xã hội và bảo vệ môi trường
- Đạt phổ cập giáo dục trung học
- 85% học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ

nguồn gốc, chứng chỉ báo cáo chất lượng… Đây thực sự là một trở ngại cho
nông nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, xây dựng NTM để có quy hoạch phân bổ và sử dụng nguồn tài
nguyên (đất đai, nguồn nước…) hợp lý và hiệu quả.

20
Các quy hoạch về đất, mặt nước cho sản xuất lúa gạo, cây công nghiệp
ngắn ngày, cây dài ngày, chăn nuôi và thủy sản… chưa rõ ràng, chưa đủ cụ
thể để quản lý chặt chẽ theo yêu cầu của sản xuất từng loại cây trồng, vật
nuôi. Tình trạng quy hoạch sản xuất nông, lâm, thủy sản liên tục bị phá vỡ tạo
ra sự hỗn loạn trong sản xuất, hao phí vốn đầu tư của người nông dân, gây
khó khăn cho đời sống của họ.
Quy hoạch đất để sản xuất nông, lâm, thủy sản lâu dài, đất chuyển sang
làm kết cấu hạ tầng nông thôn và tạo mặt bằng để phát triển các hoạt động
công nghiệp, dịch vụ, thương mại nông thôn vẫn chưa được xác định.
Thứ ba, xây dựng NTM để tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của người nông dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
giữa nông thôn và thành thị.
Theo báo cáo về tình hình nông dân và hoạt động của Hội Nông dân
Việt Nam, nông dân hiện nay vẫn đa số là những hộ sản xuất quy mô nhỏ, có
tới 36% số hộ có dưới 0,2 ha đất canh tác. Thu nhập bình quân cư dân nông
thôn chỉ bằng 76,6% bình quân chung cả nước. 85% hộ nghèo của cả nước
sống ở nông thôn. Khoảng cách thu nhập của cư dân thành thị và nông thôn
quá xa và càng ngày càng rộng ra. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt
Nam, nếu như khoảng cách thu nhập trung bình giữa người giàu và người
nghèo ở Việt Nam là 8,9 lần trong năm 2008 thì đến năm 2011 mức này là 9,2
lần. Hơn nữa, các vấn đề xã hội ngày càng nhiều do trình độ nhận thức thấp
của người dân. Tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng gia
tăng. Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm đất, nước và
không khí, làm cạn kiệt tài nguyên môi trường do khai thác tự phát.


22
thực tế đã biểu hiện: Không kết hợp được các loại hạ tầng trong một khối
thống nhất và đồng bộ; mang tính ngắn hạn không phù hợp với tiến trình
CNH, HĐH và đô thị hoá; khai thác nguồn vốn đầu tư bằng quan hệ xin, cho;
tuỳ tiện huy động đóng góp của dân; sử dụng tuỳ tiện đất công… Vì vậy, cần
xây dựng một nông thôn mới, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trên.
1.2. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong mô
hình nông thôn mới
1.2.1. Khái niệm và các bộ phận hợp thành của hệ thống kết cấu hạ
tầng KT-XH ở nông thôn
1.2.1.1. Khái niệm
Cho đến nay, quan niệm về kết cấu hạ tầng vẫn còn có nhiều ý kiến
khác nhau. Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Nông thì: “Cơ sở hạ tầng là tổng thể
các ngành kinh tế, các ngành công nghệ dịch vụ” [15, tr.153]. Cụ thể cơ sở hạ
tầng bao gồm: Việc xây dựng đường xá, kênh đào tưới nước, bãi cảng, cầu
cống, sân bay, kho tàng, cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao
thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ
sức khoẻ PGS. TS Lê Du Phong cho rằng kết cấu hạ tầng là “tổng hợp các
yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc
gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động KT-XH ” [16, tr.5].
TS Mai Thanh Cúc quan niệm kết cấu hạ tầng là: “hệ thống các công
trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và
nâng cao chất lượng cuộc sống”. Cơ sở hạ tầng bao gồm cung cấp nước, tưới
tiêu và phòng chống bão lụt, cung cấp năng lượng, giao thông, thông tin liên
lạc Còn theo PGS. TS Đỗ Hoài Nam thì cho rằng hạ tầng “là khái niệm
dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ,
quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện” [2, tr.14]. Có quan niệm

23

vai trò là nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Nó là cơ quan vận hành và cung
ứng vốn cho nền kinh tế vận hành và phát triển. Do vậy, hoạt động của hệ
thống tài chính, ngân hàng giữ vai trò hết sức quan trọng trong vận hành của
toàn bộ nền kinh tế. Với vai trò là nền tảng, hệ thống tài chính, ngân hàng
cũng được coi là một loại hạ tầng mang tính thiết chế của nền kinh tế thị
trường hiện đại. Trong điều kiện hiện tại của sự phát triển và trong nền kinh tế
thị trường hiện đại, tôi thống nhất với PGS. TS Đỗ Hoài Nam cho rằng: “Hạ
tầng KT-XH của xã hội hiện đại là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những
phương tiện và thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho KT-XH phát triển” [2,
tr.16].
Thực tế cho thấy, hạ tầng KT-XH ngày càng đóng vị trí quan trọng
trong sự phát triển KT-XH của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hạ
tầng KT-XH là một trong những chỉ tiêu tổng hợp đánh giá mức độ phát triển
của một quốc gia. Bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phát triển
thì đều cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ, điều đó
cũng có nghĩa là phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phải xem nó là nền tảng,
là điều kiện tiền đề vật chất để thúc đẩy các hoạt động KT-XH phát triển.
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa, khái niệm thống nhất về nông thôn
nhưng về cơ bản khái niệm nông thôn thường được đặt trong mối quan hệ so
sánh với khái niệm đô thị. Căn cứ vào điều kiện thực tế và xét dưới giác độ
quản lý thì PGS. TS Nguyễn Ngọc Nông cho rằng “Nông thôn là vùng khác
với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có
mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển, có trình độ dân trí,
trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn” [5, tr.62]. Xét trên
giác độ nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc thù thì PGS. TS Đỗ Hoài
Nam cho rằng “Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ những khu vực dân cư

25
sinh hoạt có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp” [2,
tr.16]. Các quan điểm này đều khẳng định rằng các cư dân sống ở nông thôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status