ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
MAI DIỆU THÚY
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ
XÃ HỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – Năm 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------MAI DIỆU THÚY
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ
XÃ HỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS MAI THỊ THANH XUÂN
Hà Nội – Năm 2014
của một số địa phương..............................................................................................36
1.3.1. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở huyện Ân Thi,
tỉnh Hưng Yên…………..........................................................................................36
1.3.2. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở huyện Vân Đồn,
tỉnh Quảng Ninh.......................................................................................................37
1.3.3. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở huyện Hải Hà,
tỉnh Quảng Ninh.......................................................................................................39
1.3.4. Một số bài học rút ra cho huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang......................41
3
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG
KINH TẾ XÃ HỘI NÔNG THÔN CỦA HUYỆN LẠNG GIANG,
TỈNH BẮC GIANG TRƢỚC YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI…43
2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội nông thôn huyện Lạng Giang ....................................................................43
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.......................................................43
2.1.2. Chính sách của huyện Lạng Giang đối với việc xây dựng hệ thống
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới....47
2.2. Thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của huyện Lạng Giang từ
năm 2006 đến nay......................................................................………………..…49
2.2.1. Hệ thống giao thông nông thôn.....................................................................50
2.2.2. Hệ thống các công trình thủy lợi, thủy nông.................................................52
2.2.3. Hệ thống các công trình cung cấp điện.........................................................54
2.2.4. Hệ thống trường học.....................................................................................56
2.2.5. Y tế................................................................................................................57
2.2.6. Xây dựng các công trình văn hóa, thể dục thể thao, thông tin liên lạc….…59
2.2.7. Hệ thống cung cấp nước sạch.......................................................................62
2.2.8. Hệ thống chợ nông thôn................................................................................63
kinh tế xã hội trong nông thôn mới...........................................................................83
3.3.3. Đa dạng hóa nguồn vốn huy động và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn...................................................................................................................86
3.3.4. Nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội nông thôn.......................................................................................................89
3.3.5. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ trong phát triển hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn...................................95
KẾT LUẬN .............................................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................98
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2
CSHT
Nông thôn mới
8
SX
Sản xuất
9
THCS
Trung học cơ sở
10
THPT
Trung học phổ thông
11
UBND
Ủy ban nhân dân
6
Kết quả xây dựng các công trình cung cấp điện
55
4
2.4
Kết quả xây dựng hệ thống trường học
56
5
2.5
Kết quả xây dựng và phát triển các công trình y tế
57
6
2.6
7
2.7
Kết quả xây dựng mạng lưới bưu chính viễn thông
(HĐH) nông nghiệp nông thôn, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận
dân cư nông thôn được nâng cao, bộ mặt nông thôn đã từng bước thay đổi,
khang trang và sạch đẹp. Đó là nhờ trong những năm qua, Đảng và nhà nước
đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn,
trong đó điển hình là một số chương trình, dự án như: Chương trình Mục tiêu
quốc gia về xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm; Chương trình 135, Chương
trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Dự án
5 triệu ha rừng… và một số chương trình, dự án lớn khác như: Phong trào
Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá; Thực hiện quy chế dân chủ và
cải cách hành chính ở cơ sở; Phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn…
nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân mà
trọng tâm là nhằm xây dựng nông thôn mới (NTM) có kinh tế phát triển, đời
sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, ngang tầm với các
nước phát triển trong khu vực.
Huyện Lạng Giang là một huyện thuộc vùng trung du miền núi của tỉnh
Bắc Giang. Căn cứ thông báo kết luận số 238-TB/TW, ngày 07/4/2009 của
Ban Bí Thư Trung ương và Đề án “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình
nông thôn mới” được Ban Bí thư thông qua. Đề án sẽ được triển khai trên 11
xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hoá. Trong đó, xã Tân Thịnh, huyện
Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là một trong 11 xã đại diện cho vùng trung du,
đáp ứng được các yêu cầu: Xã có điều kiện kinh tế xã hội ở mức trung bình
khá của tỉnh, thành phố và của vùng; Đại diện cho các vùng kinh tế - văn hoá
để thuận lợi cho việc tổ chức nhân rộng mô hình về sau; Nhân dân nhất trí
8
cao, đồng thuận, hăng hái và tự nguyện xin tham gia chương trình thí điểm
xây dựng mô hình nông thôn mới; Có đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình,
am hiểu về xây dựng nông thôn mới để chỉ đạo, tổ chức người dân và cộng
công bố gần đây về vấn đề này, trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài có các
công trình tiêu biểu sau:
Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam của Đỗ Hoài Nam và Lê Cao Đoàn, Nxb Khoa học
xã hội, năm 2001. Công trình đã đề cập đến tầm quan trọng của phát triển hạ
tầng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và những bất cập trong việc
phát triển hạ tầng ở nông thôn trong tiến trình kinh tế xã hội hiện nay. Đồng
thời đưa ra bài học kinh nghiệm về phát triển hạ tầng ở Thái Bình và một số
giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hạ tầng trong điều kiện mới.
Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn
mới tại một số điểm vùng đồng bằng sông Hồng, Khóa luận tốt nghiệp
của Nguyễn Tuấn Nghĩa, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
năm 2011. Khóa luận đã đánh giá thực trạng vai trò của người dân trong xây
dựng nông thôn mới, xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số giải
pháp chủ yêu để nâng cao vai trò người dân trong việc tham gia xây dựng mô
hình phát triển nông thôn mới.
Công trình: “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa thế kỷ
cuối XX và một số định hướng đến năm 2010” của tác giả Trần Ngọc Bút
(2002), đã đi sâu nghiên cứu những chính sách, cơ chế, giải pháp cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn… trong đó có đề cập đến một số chính sách phát
triển hạ tầng nông thôn.
Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
mới”, của PGS,TS. Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê năm 2003. Đây là công
10
trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có
tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm,
công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn
thôn trong điều kiện xây dựng mô hình NTM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống KCHT KT-XH theo yêu cầu
xây dựng NTM ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang từ năm 2006 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hệ thống KCHT
KT-XH đáp ứng yêu cầu NTM đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình NTM và hệ thống KCHT
KT-XH nông thôn, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật và hệ
thống kết cấu hạ tầng văn hóa xã hội, trong đó tập trung vào nội dung phát
triển hệ thống KCHT theo yêu cầu xây dựng NTM.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung: Nghiên cứu một số yếu tố cơ bản của hệ thống kết
cấu hạ tầng KT-XH nông thôn trong điều kiện xây dựng NTM.
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu hệ thống KCHT KT-XH nông thôn
tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến nay và những năm tới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ
nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ
12
trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng mô hình NTM
và hệ thống KCHT KT-XH trong mô hình NTM.
- Phương pháp cụ thể:
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh… để đánh
giá thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn. Ngoài ra,
luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số học
một nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi
trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành
thị và dân chủ yếu làm nông nghiệp” [23, tr.578]. Khái niệm nông thôn được
xây dựng dựa trên cơ sở khái niệm thành thị. Nếu thành thị là một khu vực có
mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các
khu vực quanh nó. Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư
đông đúc…, hoặc thành thị là từ chỉ chung các điểm dân cư kiểu thành phố
như các thị xã, thị trấn, thị tứ, khu dân cư công nghiệp thì nông thôn là khu
vực có những yếu tố như lãnh thổ, môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế…
khác với thành thị.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì nông thôn là khu vực có dân cư
chủ yếu làm nông nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế, một số vùng nông thôn
nước ta hiện nay người dân không sống chủ yếu bằng nghề nông. Ví dụ như
làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) có tới 85% số hộ làm nón, 25% số hộ còn
lại làm nông nghiệp và các nghề phi nông nghiệp khác. Như vậy, dân cư ở
làng Chuông chủ yếu làm nghề làm nón – một nghề phi nông nghiệp nhưng
làng Chuông vẫn được coi là vùng nông thôn chứ không phải thành thị. Như
14
vậy, yếu tố “dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” trong định nghĩa không tuyệt
đối đúng.
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không
thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [2, tr.1]. Theo Thông tư này, khái
niệm nông thôn cũng được dựa trên khái niệm thành thị. Tuy nhiên trong khái
niệm này thì yếu tố dân cư lại không được đưa ra. Từ những khái niệm về
nông thôn trên, có thể định nghĩa: Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộc
1.1.2.1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển
Quy hoạch là bố trí, sắp xếp địa điểm, diện tích sử dụng các khu chức
năng trên địa bàn xã: khu phát triển dân cư; hạ tầng KT-XH, các khu sản xuất
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… theo chuẩn NTM theo Thông tư
hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
Để có mô hình nông thôn mới mang tính kế thừa và bổ sung, phát triển
mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề quy hoạch được đặt lên
hàng đầu, trở thành tiêu chí đầu tiên. Nếu quy hoạch không đi trước một bước
và không có chất lượng thì xây dựng nông thôn mới sẽ gặp khó khăn và
không đi đến đích, từ đó vấn đề quy hoạch nông thôn mới là khâu quan trọng,
có ý nghĩa quyết định trong vấn đề xây dựng nông thôn mới.
Tiêu chí quy hoạch thể hiện tính hợp lý trong sắp xếp, bố trí các khu
vực nông thôn, đảm bảo KCHT nông thôn được bền vững. Tiêu chí này gồm
ba nội dung:
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: xác định
nhu cầu sử dụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu
16
phục vụ sản xuất hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ…
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường theo chuẩn
mới: có khu thể thao xã, nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bãi xử lý rác, hệ
thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước thải, công viên cây xanh, hồ nước
sinh thái…
- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân
cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc.
1.1.2.2. Phát triển hạ tầng KT-XH
nghiệp nhỏ hơn 30%.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo lớn hơn 35%.
- Có tổ hợp tác xã hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.
1.1.2.4. Phát triển văn hóa – xã hội và bảo vệ môi trường
- Đạt phổ cập giáo dục trung học
- 85% học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ
thông, bổ túc, học nghề)
- 30% số người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
- Trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn làng văn hóa
- 85% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
18
1.1.2.5. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” và
các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
- An ninh, trật tự xã hội được giữ vững.
1.1.3. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới để phát triển nông nghiệp nông thôn
theo hướng hiện đại
Nông nghiệp nước ta hiện nay còn chưa phát triển theo chiều sâu mà
chủ yếu phát triển theo bề rộng dựa trên những ưu đãi có sẵn của tự nhiên.
Những người làm nông nghiệp chủ yếu là người dân có trình độ thấp, quanh
năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, mức đầu tư vào công nghệ thấp,
hàm lượng kỹ thuật chế biến trong sản phẩm còn thấp trong đó chi phí sản
xuất cao, do đó giảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Hàng nông sản
luôn gặp khó khăn khi vượt qua các rào cản kỹ thuật hết sức khắt khe của các
tới 36% số hộ có dưới 0,2 ha đất canh tác. Thu nhập bình quân cư dân nông
thôn chỉ bằng 76,6% bình quân chung cả nước. 85% hộ nghèo của cả nước
sống ở nông thôn. Khoảng cách thu nhập của cư dân thành thị và nông thôn
quá xa và càng ngày càng rộng ra. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt
Nam, nếu như khoảng cách thu nhập trung bình giữa người giàu và người
nghèo ở Việt Nam là 8,9 lần trong năm 2008 thì đến năm 2011 mức này là 9,2
lần. Hơn nữa, các vấn đề xã hội ngày càng nhiều do trình độ nhận thức thấp
của người dân. Tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng gia
tăng. Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm đất, nước và
không khí, làm cạn kiệt tài nguyên môi trường do khai thác tự phát.
Thứ tư, xây dựng NTM để thay đổi diện mạo nông thôn, thay thế nông
thôn truyền thống bằng nông thôn hiện đại.
20
Hệ thống KCHT KT-XH là điều kiện vật chất quan trọng, có tính
quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, sau
gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam vẫn
chưa đạt được nhiều thành tựu tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Bởi
lẽ:
Hệ thống hạ tầng KT-XH nông thôn trong thời gian qua đã có những
bước tiến đáng kể về lượng và về chất, song sự tiến triển đó vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu của tiến trình CNH, HĐH nông thôn. Về căn bản hệ thống hạ
tầng KT-XH nông thôn ở nước ta chưa đạt được tiêu chuẩn quốc tế, còn mang
đậm sắc thái hạ tầng KT-XH của những nước nền kinh tế chậm phát triển.
Hầu hết các công trình hạ tầng KT-XH nông thôn đều đã được xây
dựng từ lâu, tập trung chủ yếu ở thời kỳ đổi mới. Các công trình hạ tầng KTXH nông thôn đó chưa làm thay đổi căn bản tình trạng lạc hậu, kém phát triển
của hệ thống hạ tầng KT-XH, mới chỉ là một bước cải thiện hệ thống hạ tầng
KT-XH cũ và đến nay đã xuống cấp.
thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ
sức khoẻ... PGS. TS Lê Du Phong cho rằng kết cấu hạ tầng là “tổng hợp các
yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc
gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động KT-XH...” [16, tr.5].
TS Mai Thanh Cúc quan niệm kết cấu hạ tầng là: “hệ thống các công
trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và
nâng cao chất lượng cuộc sống”. Cơ sở hạ tầng bao gồm cung cấp nước, tưới
tiêu và phòng chống bão lụt, cung cấp năng lượng, giao thông, thông tin liên
lạc... Còn theo PGS. TS Đỗ Hoài Nam thì cho rằng hạ tầng “là khái niệm
dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ,
quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện” [2, tr.14]. Có quan niệm
22
cho rằng hạ tầng KT-XH được sử dụng để chỉ: “những hạ tầng đa năng phục
vụ cho cả kinh tế và xã hội; hoặc trong trường hợp để chỉ những hạ tầng
chuyên dùng phục vụ trong hoạt động kinh tế và văn hoá, xã hội khi cùng đề
cập đến cả hai loại hạ tầng phát triển KT-XH nói chung” [6, tr.158]. Quá trình
sản xuất cần có người lao động, tư liệu sản xuất và công nghệ. Trong tư liệu
sản xuất có một bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là những
cơ sở phương tiện chung nhờ đó mà quá trình công nghệ, sản xuất và dịch vụ
được thực hiện. Bộ phận này chính là cơ sở hạ tầng, kết cấu hạ tầng hay hạ
tầng. Như vậy mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, cụm từ khác nhau
nhưng các quan điểm, ý kiến này đều cho rằng: Cơ sở hạ tầng hoặc kết cấu hạ
tầng hay hạ tầng đều là những yếu tố vật chất làm nền tảng cho các quá trình
sản xuất và đời sống xã hội hình thành và phát triển.
Với quan niệm về hạ tầng như vậy, cùng với sự phát triển của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ làm cho hạ tầng không những có vai trò quan
trọng trong lĩnh vực kinh tế mà nó còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong
của một quốc gia. Bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phát triển
thì đều cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ, điều đó
cũng có nghĩa là phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phải xem nó là nền tảng,
là điều kiện tiền đề vật chất để thúc đẩy các hoạt động KT-XH phát triển.
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa, khái niệm thống nhất về nông thôn
nhưng về cơ bản khái niệm nông thôn thường được đặt trong mối quan hệ so
sánh với khái niệm đô thị. Căn cứ vào điều kiện thực tế và xét dưới giác độ
quản lý thì PGS. TS Nguyễn Ngọc Nông cho rằng “Nông thôn là vùng khác
với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có
mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển, có trình độ dân trí,
trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn” [5, tr.62]. Xét trên
giác độ nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc thù thì PGS. TS Đỗ Hoài
Nam cho rằng “Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ những khu vực dân cư
24
sinh hoạt có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp” [2,
tr.16]. Các quan điểm này đều khẳng định rằng các cư dân sống ở nông thôn
chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là hoạt động chủ yếu của các
ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp, các ngành nghề sản xuất kinh
doanh và dịch vụ phi nông nghiệp và dân cư của xã hội nông thôn là dân cư
của xã hội chậm phát triển. Tuy nhiên khái niệm nông thôn chỉ có tính tương
đối, một vùng nông thôn có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát
triển KT-XH của quốc gia cũng như từng địa phương.
Du có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song tất cả đều thống nhất ở chỗ
coi hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn trước hết là gắn với sở hữu
của làng, xã. Sau nữa là gồm những phương tiện làm cơ sở cho sự phát triển
KT-XH trên địa bàn nông thôn. Chúng tôi tán thành với quan niệm của GS.TS
Đỗ Hoài Nam và PGS.TS Lê Cao Đoàn trong cuốn sách “Xây dựng hạ tầng