“MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ”
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nói về tầm quan trọng của việc nắm vững lịch sử , qua đó giáo dục niềm tự
hào về lịch sử dân tộc, sinh thời Hồ Chí Minh có câu:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Thế nhưng, hiện nay giới trẻ hầu như không mấy quan tâm tới lịch sử nước nhà.
Họ khá thờ ơ với lịch sử Việt Nam nhưng đôi khi lại rất rành về lịch sử nước ngoài,
đặc biệt là Trung Quốc do xem nhiều bộ phim lịch sử của nước ngoài.
Trong nhiều năm nay, môn lịch sử luôn bị coi là môn phụ ở trường phổ thông. Là
một bộ môn xã hội, dung lượng kiến thức nhiều nên dễ nảy sinh tâm lí ngán ngẩm của
học sinh đối với môn này. Thêm vào đó, cách học lịch sử không kèm niềm đam mê
biến lịch sử thành môn học thuộc lòng khó "nuốt trôi” đối với học sinh. Bởi vậy biến
cách học của học sinh thành "học vẹt”. Mà học vẹt thì thường dễ quên nên sau khi
học xong học sinh hết nhớ lịch sử là chuyện bình thường.
Có một quan niệm khác môn Sử là môn thi của những người không học được
khối A, B, D và là môn của những người học “thuộc lòng”. Rất nhiều phụ huynh, học
sinh, mà ngay cả nhiều thầy cô dạy các môn tự nhiên cũng đều có quan niệm như vậy.
Và đã là môn phụ thì rất khó để học sinh quan tâm học hành tử tế, thầy giáo cũng mất
hứng thú, sáng tạo trong giảng dạy sao cho tốt.
Bên cạnh đó, sự lên ngôi của các ngành kinh tế, kĩ thuật và công nghệ ở bậc đại
học trong những năm qua cũng góp phần làm hạ thấp vai trò của môn lịch sử nói riêng
và các môn khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Ngày càng ít học sinh có năng lực
đam mê hoặc có mong muốn theo học môn lịch sử.
Xu hướng này có lẽ đi ngược với xu hướng phát triển của những nền giáo dục
tiên tiến. Chúng ta không học đâu xa, hãy nhìn sang Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc,… Đó là những nền giáo dục biết coi trọng môn lịch sử thể hiện qua việc sản
xuất và xuất khẩu được nhiều bộ phim lịch sử của nước mình. Có được điều đó xuất
phát từ việc nhà nước, xã hội và nhà trường nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của giáo dục lịch sử dân tộc.
Trên thực tế, cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, nhận thức của người dân
để nhằm mục đích giảng dạy môn lịch sử tốt hơn nữa, và các em học sinh ngày càng
yêu thích môn lịch sử hơn nữa nên vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong
các trường phổ thông luôn là một vấn đề quan tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã
hội.
Vậy, tại sao phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông?
Phải nhận thấy rằng, trong một số năm trở lại đây, việc dạy học lịch sử ở các trường phổ
thông đã có một số bước tiến về phương pháp dạy học. Việc tổ chức dự giờ học hỏi kinh
nghiệm, thao giảng cấp trường, thanh tra sư phạm hay mở các kì thi giáo viên dạy giỏi,
ứng dụng công nghệ thông tin giỏi, tập huấn đổi mới phương pháp giảng dạy... đã có tác
dụng đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả giờ dạy, chất lượng môn lịch sử.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn vẫn đang diễn ra là thế hệ trẻ vẫn rất mơ hồ về lịch
sử, không chỉ lịch sử thế giới mà cả lịch sử Việt Nam. Điều này được phản ánh phần nào
qua kết quả các kỳ thi tốt nghiệp và đại học trong vài năm gần đây, đặc biệt là kì thi tốt
nghiệp và đại học năm 2011 với hàng ngàn điểm 0 cho môn Lịch sử.
Điểm số chưa phải là tất cả, nếu như mọi người không được đọc những gì mà các em
học sinh viết trong bài. Có những sự kiện lịch sử sai một cách nghiêm trọng về nội
dung và thể hiện sự thiếu hiểu biết của người làm bài. Có thể đơn cử hai ví dụ sau đây:
“Pháp - Nhật đánh nhau Việt Nam vớ bở” hay “Hoàng Thượng Thích Quảng Đức thắt
cổ tự tử ở ngã Tư Sở”. Không biết rằng những nội dung này các em học sinh vô tình
hay cố tình viết vào bài thi, nhưng dù sao đó cũng là một hồi chuông cảnh báo về việc
học môn sử ở trường phổ thông cũng như ý thức đạo đức của các em về môn lịch sử.
Thực tế trên đã làm cho dư luận rất bức xúc và không ít người đã đổ lỗi kết quả đó
là do sự yếu kém trong công tác giảng dạy của giáo viên. Quan điểm đó thực ra có
phần đánh giá không công bằng vì nó mang tính chất “vơ đũa cả nắm”.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng cũng phải nhìn nhận một
sự thực đó là phương pháp giảng dạy sử học chưa được đổi mới.
2
Hầu như việc dạy học vẫn mang tính chất hỏi – đáp, đọc – chép mang tính chất
cách sống động, làm sao có thể giúp học sinh hiểu và biết được sâu sắc lịch sử.
Trong giáo dục nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, cần phải có phương pháp
bởi vì phải làm cho học sinh tiếp thu kiến thức bằng con đường ngắn nhất, với sự nỗ
lực của bản thân, dưới sự hướng dẫn giảng dạy của giáo viên. Lịch sử là một môn
khoa học, bởi vậy để học tốt môn lịch sử cần phải có một phương pháp dạy học môn
lịch sử tốt. Phương pháp dạy học lịch sử rất đa dạng, sinh động, phong phú, không thể
thực hiện một cách công thức, khô cứng, làm mất hứng thú học tập, tính tích cực và
khả năng nhận thức của học sinh.
II.1.2. Cơ sở thực tiễn
Có nhiều giáo viên chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc áp dụng những phương pháp
dạy học mới trong dạy học lịch sử, thậm chí một số giáo viên còn ngại đổi mới.
3
Đổi mới phương pháp trước hết phải bắt đầu từ việc đổi mới quan niệm dạy học.
Quan niệm dạy học ngày nay không phải là lấy thầy làm trung tâm như trước kia mà là lấy
trò làm trung tâm. Người dạy học là người hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của
học sinh. Muốn làm được như vậy, phải phát huy được năng lực nhận thức độc lập, phát
triển tính tích cực học tập của các em. Tuy nhiên, việc phát huy tính tích cực của học sinh
hiện nay của nhiều giáo viên chưa tốt do chưa có sự đổi mới phương pháp. Thường thì các
giáo viên quan niệm đặt nhiều câu hỏi hoặc cho học sinh ngồi thành từng nhóm thảo luận
là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực. Kết quả là giờ học
biến thành giờ hỏi – đáp thông thường mang tính chất căng thẳng, khô khan, thậm chí biến
thành cơ hội để học sinh ngồi nói chuyện với nhau. “Hỏi – đáp”, thảo luận chỉ là một vài
phương pháp, muốn phát huy ưu thế của phương pháp này cần kết hợp với các phương
pháp khác, đặc biệt là những phương pháp bộ môn (sử dụng lược đồ , tranh ảnh, phim tư
liệu...)
Hiện nay, ở một số vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa…, không ít giáo viên ít có
điều kiện được cập nhật thông tin khoa học nói chung, đổi mới phương pháp dạy học
nói riêng và không sử dụng thành thạo vi tính nên chưa nhận thức được tầm quan trọng
II.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
II.2.1. Kiến thức phải ngắn gọn
Môn lịch sử ở trường phổ thông là bộ môn có dung lượng kiến thức khá dài, nhất
là các mốc thời gian, số liệu và sự kiện lịch sử không ít. Thêm vào đó, thời lượng tiết
học lại khá ít (lớp 10 và 12 là 1,5 tiêt/ tuần; lớp 11 là 1 tiết/ tuần) nên giáo viên phải
biết cách ”gom” kiến thức lại cho học sinh. Đây là một điều vô cùng quan trọng vì
nếu giáo viên cho học sinh ghi tràn lan thì sẽ dẫn tới tâm lí ngán ngẩm đối với học
sinh bởi vì vốn dĩ lịch sử đã là một môn học khô khan. Kiến thức lịch sử nếu truyền
tải một cách không chọn lọc sẽ khiến học sinh chán học, lười học dẫn đến việc chất
lượng bộ môn thấp và hệ quả tai hại hơn là nó dẫn tới tình trạng giới trẻ không biết gì
về lịch sử dân tộc. Mà đã không biết sao có thể tự hào và phát huy được sức mạnh
cũng như truyền thống của dân tộc được.
Thực tế, nhiều giáo viên đã quá coi trọng việc truyền tải hết kiến thức trong SGK,
tức là thấy cái gì cũng quan trọng, cần phải cho học sinh ghi chép hết. Điều này dẫn
tới sự phản tác dụng khi học sinh nhớ nhầm sự kiện, nhớ sai số liệu. Không đâu xa lạ,
trong các kì thi tốt nghiệp hay cao đẳng đại học do Bộ giáo dục đào tạo tổ chức, khá
nhiều học sinh đã có những sai sót khiến người chấm bài cũng phải phì cười.
Ví dụ, trong kì thi tốt nghiệp THPT 2007, khi nói đến sự thống nhất các tổ chức
Cộng sản để thành lập ĐCSVN, có thí sinh viết:"Trước tình hình đất nước bị bọn thực
dân xâm lược, Đảng và Nhà nước ta quyết định thành lập ra Đảng Cộng sản Việt
Nam..." (HES 2521).
Một thí sinh khác trong đề thi trình bày diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
mùa xuân 1975 viết: "Chiến dịch Hồ Chí Minh 1970, quân ta tiến vào Him Lan, Bản
Kéo, lần lượt giành các đồi A1, C1, D, E... Hai bên chiến đấu giằng co quyết liệt và
cuối cùng ta đã giành thắng lợi buộc Mỹ phải kí hiệp định Pari năm 1972".
Cũng câu hỏi trên, bài thi có mã số phách HNS 1420 trả lời: "...Đêm 30/12, rạng sáng
1/1/1975, nhân lúc quân lính Mĩ (...) đang say sưa, quân ta tấn công. Tiếng súng đầu
tiên nổ lên, kháng chiến bắt đầu. Giặc lúng túng chống trả không kịp, bỏ cả đồn bốt
chạy sang Trung Quốc".
Khi nói về tội ác của Mĩ - Diệm, có thí sinh viết: "... Mĩ - Diệm đã đàn áp nhân
- Chính sách của chế độ phong kiến (đứng đầu là Sác lơ I) và giáo hội Anh
- Mâu thuẫn giữa quí tộc mới, tư sản với các thế lực phong kiến phản động
2. Diễn biến cách mạng Anh:
- Sự kiện bùng nổ: tháng 8-1642
- Giai đoạn 1642-1648
- Sự kiện Sác lơ I bị xử tử
- Sự kiện Crôm-oen cầm quyền sau đó thiết lập nền độc tài quân sự (1653)
- Cuộc chính biến tháng 12-1688
3. Tính chất, ý nghĩa của cách mạng tư sản Anh
- Tính chất: không triệt để (không lật đổ CĐPK, không đem lại ruộng đất cho nông
dân)
- Ý nghĩa: mở đường cho kinh tế TBCN phát triển ở Anh, mở ra thời kì quá độ từ chế
độ phong kiến sang tư bản
Thực ra đây chỉ là cái "sườn” còn việc giáo viên triển khai trên lớp lại là khác, có
thể sẽ rất là dài và khó ghi nhớ với học sinh. Bởi vậy, muốn giúp cho học sinh nắm
được nội dung bài học, yêu cầu giáo viên phải chọn ra phần kiên thức trọng tâm.
Ví dụ, ở phần 1, tình hình Anh trước cách mạng, giáo viên chỉ yêu cầu học sinh nắm
được:
- Kinh tế TBCN phát triển ở Anh đi kèm với sự xuất hiện của tư sản, quí tộc mới
- Sự cản trở của chế độ phong kiến với hoạt động kinh doanh của tư sản, quí tộc mới
chính là nguyên nhân bùng nổ cách mạng
Ở phần 2, diễn biến cách mạng Anh, giáo viên chỉ yêu cầu học sinh nhớ các sự kiện:
- Sác –lơ I tuyên chiến (8-1642)
- Sác-lơ I bị bắt, xử tử (1649)
6
- Crôm-oen thiết lập chế độ độc tài
- Cuộc chính biến tháng 12-1688
Những kiến thức liên quan đến những vấn đề trên, giáo viên sẽ dùng phương pháp
qua các trang báo điện tử, website, yahoo, mail, blog, facebook... nên tiếp thu được rất
nhiều kiến thức bên ngoài. Từ đó quen với những cách thức tiếp xúc bằng công nghệ
thông tin. Việc giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy lịch sử vẫn dạy học theo lối “cổ
truyền” tức là đọc – chép sẽ khiến cho học sinh mất hứng thú với bộ môn này và nếu
nói không quá, phương pháp đó sẽ “giết chết” bộ môn này trong tương lai. Không ứng
dụng công nghệ thông tin vào bài giảng lịch sử cũng sẽ dẫn đến sự “lạc hậu” của bộ
môn này và việc bị học sinh “đào thải” là điều khó tránh khỏi.
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đào tạo được Đảng
và Nhà nước rất coi trọng.
7
Yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật
hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính
phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, ví dụ như:
- Nghị quyết của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin vào
giáo dục đào tạo (1993).
- Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng
cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai
đoạn 2008-2012.
- Trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII Đảng và Nhà nước ta khẳng định: phải
“đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp
tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
- Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảng
dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 –
2005 nêu rõ: “Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”,
nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát
triển của công nghệ thông tin”.
giảng với bảng viết thông thường. Không nên tầm thường hoá việc dạy bằng
PowerPoint để chạy theo số lượng và yêu cầu. Nhiều giáo viên quan niệm trang trình
chiếu chẳng qua là thay bảng đen nên họ cứ thoải mái soạn thảo bài giảng rồi cho
chiếu chữ trên máy tính. Làm như vậy đỡ mỏi tay lại đỡ mỏi miệng. Như vậy, vô tình
công nghệ thông tin đã tiếp tay cho một số bộ phận giáo viên “lười biếng”, làm cho
học sinh có cách nhìn sai lệch về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Giảng
như vậy thực ra chỉ thay viết tay bằng gõ bàn phím. Hình thức thì thay đổi nhưng nội
dung vẫn như vậy, giống như “bình cũ, rượu mới” mà thôi.
Cũng cần tránh việc lạm dụng các hiệu ứng trong phần mềm PowerPoint làm
người học bị phân tán sự chú ý. Một số giáo viên lạm dụng sự am hiểu về công
nghệ thông tin nên tìm mọi cách để “phô bày” trong bài giảng cho học sinh “tít
mắt” vì cái tài của mình. Kết quả cuối cùng học sinh chẳng ghi được gì vào vở,
không thu nhận được kiến thức gì quan trọng ngoài sự “thú vị” một cách chung
chung.
Như vậy có nghĩa là, sử dụng máy tính để dạy học phải đạt được yêu cầu cao
nhất là: hiệu quả giờ học. Muốn được như thế, giáo viên phải biết chọn lựa nên
đem cái gì vào bài giảng để trình chiếu. Trong một bài giảng lịch sử bằng công
nghệ thông tin , giáo viên có thể đưa hình ảnh, lược đồ, bản đồ, phim tư liệu,… để
trình chiếu cho học sinh nhưng phải biết lọc ra những cái cần thiết nhất, có tầm ảnh
hưởng nhất đối với bài giảng, với học sinh. Bởi vì, hình ảnh và tư liệu lịch sử rất là
nhiều. Nếu không chọn lọc sẽ dẫn tới hai hệ quả: hoặc không đủ thời lượng tiết dạy
(cháy giáo án), hoặc sẽ làm “loãng” bài giảng khiến học sinh không nắm được kiến
thức và ý nghĩa của việc trình chiếu.
Ví dụ, ở tiết 2, bài 23, SGK 12: KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ
HỘI Ở MIỀN BẮC, GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM (1973 – 1975), có
rất nhiều hình ảnh, lược đồ, phim tư liệu như:
- Hình ảnh Hội nghị mở rộng của Bộ chính trị để đề ra kế hoạch giải phóng miền
Nam
- Hình ảnh quân ta tiến vào giải phóng cố đô Huế
- Hình ảnh Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh
thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần giáo dục lòng yêu quê hương, đất
nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa dân
tộc và thế giới.
Vì vậy, phương pháp dạy học môn lịch sử rất đa dạng, không chỉ có các phương
pháp hiện đại mà còn có các phương pháp truyền thống, trong đó việc sử dụng đồ
dùng trực quan là rất cần thiết và hữu ích. Học sinh không thể trực tiếp nhận thức các
sự kiện lịch sử, vì lịch sử là cái đã qua không lặp lại nguyên vẹn, không thể dựng lại
hoàn toàn hay thí nghiệm như khoa học tự nhiên. Do đó, dạy học lịch sử trước hết là
một quá trình truyền thông tin, thu nhận và xử lí thông tin giữa giáo viên và học sinh
qua các phương tiện dạy học. Thông tin về sự kiện lịch sử càng chính xác, chân thật,
phong phú thì nhận thức lịch sử của học sinh càng sâu sắc bền vững. Các loại đồ dùng
trực quan là những phương tiện dạy học có khả năng chứa hoặc truyền thông tin rất đa
dạng và phong phú. Các phương tiện này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo
đảm tính trực quan và tạo biểu tượng lịch sử chân thật cho học sinh nhằm góp phần
đạt được mục tiêu dạy học.
Tuy nhiên, tôi nhận thấy vẫn còn không ít giáo viên chưa kết hợp phương pháp
này vào dạy học, nếu có chăng cũng chỉ minh họa qua loa, chưa phát huy tính chủ
động tích cực của học sinh trong việc khai thác tư liệu lịch sử ở các đồ dùng dạy học,
điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục bộ môn lịch sử.Vì vậy, theo
tôi cần tăng cường việc sử dụng đồ dùng trực quan trong tiết dạy lịch sử ở các trường
phổ thông.
10
Vậy đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử là gì? Đồ dùng trực quan là những
phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học bao gồm các loại sau:
- Đồ dùng trực quan hiện vật gồm hai loại:
+ Di tích lịch sử và cách mạng như: Chùa Một Cột, kinh thành Huế, cây đa Tân Trào,
chiến khu D…
Ví dụ như khi dạy về tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng (mục 3, bài 13, SGK 12)học
sinh không thể không biết đến Nguyễn Thái Học, lãnh tụ của tổ chức Việt Nam Quốc
Dân Đảng, chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam
11
Nguyễn Thái Học (1904-1930)
Trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát chân dung (hình 29) và phát biểu
những hiểu biết của mình về Nguyễn Thái Học, sau đó giáo viên có thể dựa vào đoạn
tư liệu sau nhằm giúp học sinh có ấn tượng sâu sắc về nhà cách mạng trẻ tuổi này:
1/ Tiểu sử:
Nguyễn Thái Học sinh ngày 1 tháng 12 năm Nhâm Dần (1902) tại làng Thổ
Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là Thị trấn Thổ Tang,
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông là con cả của cụ Nguyễn Văn Hách và bà
Nguyễn Thị Quỳnh. Gia đình ông là một gia đình trung nông sống bằng nghề làm
ruộng và dệt vải, buôn vải. Từ 4 tuổi ông đã được cha mẹ cho đi học chữ Hán, và năm
11 tuổi ông bắt đầu theo học chương trình tiểu học Pháp-Việt tại thị xã Vĩnh Yên.
Năm 19 tuổi ông thi đậu vào trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, và nhận học
bổng của Chính phủ Bảo hộ Pháp. Do tính tình cương trực và không thích khuất phục
lối giáo dục của người Pháp, ông bỏ học vào năm thứ ba, và sau đó ghi danh học
trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương (1925-1927). Trong thời
gian này, ông tham gia thành lập Nam Đồng Thư Xã, và tiếp xúc với một số sinh viên
đồng chí hướng, trong số đó có Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao đẳng Công
chánh và Hồ Văn Mịch, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm, hai nhà cách mạng
tương lai sẽ gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông sau này.
Cũng trong thời gian là sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học
đã gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varrenne một số bức thư kêu gọi
chính quyền thực dân Pháp tiến hành một loạt cải cách tiến bộ ở Việt Nam. Sở dĩ
Nguyễn Thái Học gửi những đề xuất cải cách của mình cho Varrenne vì ông ta vốn là
- Tổ chức khởi nghĩa Yên Bái
Trước tình thế hàng ngũ đảng có nhiều phản bội, thực dân áp bức gay gắt có
chiều hướng đưa đến tan rã. Trung tuần tháng 5 năm 1929, Nguyễn Thái Học triệu tập
đại hội đảng toàn quốc tại làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, quyết
định chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Công việc chuẩn bị chưa hoàn tất, cuối năm 1929, tại
Bắc Giang một cơ sở chế bom bị tai nạn phát nổ và đầu năm 1930 người Pháp bắt giữ
và khám phá được thêm rất nhiều cơ sở chế tạo bom, đao, kiếm và nhiều đảng viên bị
bắt. Trước tình hình nguy cấp, Nguyễn Thái Học triệu tập hội nghị khẩn cấp, quyết
định tiến hành khởi nghĩa tại các địa điểm Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ, Yên Bái,
Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại và Hà Nội
vào đêm mồng 10, rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930.
Theo kế hoạch ban đầu cuộc khởi nghĩa vũ trang sẽ nổ ra trên hai địa bàn chính
ở Bắc Kỳ vào đêm ngày 9 tháng 2 năm 1930. Nguyễn Thái Học sẽ lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa ở miền xuôi, trong khi Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính được phân công
chỉ huy cuộc nổi dậy ở miền núi. Gần tới ngày nổi dậy, do cơ sở ở miền xuôi tương
đối yếu lại bị đánh phá nặng nề nên không chuẩn bị kịp, Nguyễn Thái Học cử người
báo cho Nguyễn Khắc Nhu hoãn cuộc nổi dậy tới ngày 15 tháng 2. Tuy nhiên, liên lạc
viên lại bị địch bắt giữa đường.
13
Vì vậy, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra ở một loạt các địa điểm từ Sơn Tây, Phú Thọ cho
tới Yên Bái vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10 tháng 2.
Tuy cuộc tổng nổi dậy xảy ra nhiều nơi khác nhau, nhưng lịch sử mệnh danh nó
là cuộc khởi nghĩa Yên Bái hay Tổng khởi nghĩa Yên Bái, cốt để vinh danh những cái
chết hào hùng của các lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, và 11 đảng viên
Việt Nam Quốc Dân Đảng ở pháp trường Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930. Quân
nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp và làm chủ tỉnh lị Yên Bái trong gần
hai ngày. Ngày 15 tháng 2 năm 1930, mặc dù cuộc khởi nghĩa ở miền núi đã thất bại,
Nguyễn Thái Học và cơ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng vẫn quyết định khởi nghĩa ở
- Người khom lưng đại diện cho lực lượng sản xuất nào? (nông dân)
- Ông ta cõng trên lưng thế lực nào? (tăng lữ, quí tộc)
- Cái cuốc mà người nông dân sử dụng biểu hiện cho nền nông nghiệp Pháp lúc bấy
giờ thế nào? (lạc hậu)
- Ở dưới đất, xung quanh người nông dân có những con vật nào? Sự xuất hiện của
chúng thể hiện điều gì? (chim, thú vật…phá hoại mùa màng)…
Từ những câu hỏi đó, giáo viên dẫn dắt cho học sinh đến với nhận thức chung đó là sự
khốn cùng của người dân Pháp trước cách mạng.
Hình vẽ, tranh ảnh trong SGK là một phần của đồ dùng trực quan trong quá trình
dạy học. Nó có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là nguồn kiến thức có tác dụng giáo
dục tính cách, mà còn phát triển tư duy học sinh, sử dụng tốt loại phương tiện trực
quan này sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, tạo ra sự hứng thú trong quá
trình nhận thức. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới công việc tư duy trừu tượng. Bản
thân tranh ảnh không thể gây ra sự quan sát tích cực của học sinh nếu như nó không
được quan sát trong tình huống có vấn đề. Mặt khác thông qua quan sát, miêu tả tranh
ảnh học sinh được rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ của các em ngày càng
phong phú và trong sáng hơn. Vì vậy trong dạy học lịch sử chúng ta cần phải khai
thác triệt để nội dung lịch sử được biểu hiện qua tranh ảnh, hình vẽ trong SGK. Đồng
thời khi sử dụng cần kết hợp sử dụng câu hỏi, miêu tả hoặc tường thuật kiến thức lịch
sử biểu hiện trong đồ dùng trực quan. Sau khi quan sát, học sinh cần nêu lên suy nghĩ
của mình, phát biểu của các em dù đúng, sai, nông cạn hay sâu sắc đều là cơ sở để
giáo viên đánh giá trình độ của học sinh để uốn nắn, hướng dẫn nhận thức của các em.
Trong những điều kiện có thể cần gợi ý, tạo ra các cuộc thảo luận, tranh luận của các
em khi quan sát một bức tranh hay một hình vẽ nào đó.
15
Sách giáo khoa hiện nay kênh hình tương đối đầy đủ và phong phú, do vậy việc
sử dụng hình vẽ tranh ảnh để giới thiệu khắc sâu bài học lịch sử cho học sinh nhằm
phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh hiệu quả nhất.
dài khắp 4 tỉnh : Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình để học sinh thấy được
qui mô rộng lớn của phong trào. Đồng thời, việc chỉ rõ những vị trí diễn ra những trận
đánh lớn của nghĩa quân cũng khắc sâu trong học sinh về một cuộc khởi nghĩa diễn ra
quyết liệt, vang dội.
Thông qua lược đồ, tôi cũng giới thiệu cho học sinh về địa bàn hoạt động của nghĩa
quân chủ yếu là ở rừng núi, điều đó có tác dụng gây khó khăn cho địch, dễ đánh du
kích và khó bị tiêu diệt…
Việc giảng dạy kết hợp với việc sử dụng lược đồ, bảng biểu thực tế đã cho những
kết quả tốt, hầu hết các em đã chăm chú lắng nghe, dễ hiểu và nắm được bài học ngay
trên lớp. Không những thế còn làm nảy sinh những xúc cảm lịch sử của các em. Đó là
sự khâm phục đối với những lãnh tụ chống Pháp, về tài năng lãnh đạo, bố trí…
Ví dụ khi dạy mục 2a, phần I, bài 4: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xây dựng và sử dụng bảng so sánh chiến lược
hướng nội và hướng ngoại của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN (Thái Lan, Malaixia,
Inđônêxia, Xingapo, Philíppin)
C.lược
N.dung
Hướng nội
Hướng ngoại
T. gian
Sau khi độc lập
Từ những năm 60-70 trở đi
Mục tiêu Nhanh chóng xoá bỏ nghèo
Khắc phục hạn chế của chiến lược hướng nội,
nàn, lạc hậu, xây dựng kinh tế thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển nhanh
tự chủ
Nội dung Đẩy mạnh C.N tiêu dùng nội
Thu hút vốn, kĩ thuật của nước ngoài, tập trung
địa thay hàng nhập khẩu, lấy
sản xuất hàng hoá xuất khẩu
Lu-i XVI triệu tập hội nghị ba đẳng cấp để đề xuất vay tiền và ban hành
thuế mới nhưng bị đẳng cấp thứ phản đối.
14-7-1789 Quần chúng tấn công nhà ngục Ba-xti, cách mạng bùng nổ
8-1789
Thông qua Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
Đối với việc sử dụng sơ đồ, mục đích sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử nhằm
phát huy khả năng suy luận logic của học sinh khi diễn tả tổ chức một cơ cấu xã hội,
một chế độ chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử...... Như vậy, khi dựa vào
vào sơ đồ học sinh có thể phân tích, giải thích, suy luận các sự kiện lịch sử có quan hệ
ràng buộc lẫn nhau một cách chính xác, khoa học. Từ đó tư duy học sinh phát triển
cao hơn và chất lượng dạy học sẽ được nâng lên
Ví dụ, khi giảng mục 1, phần II, bài 17, SGK Lịch sử 10: QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN (Từ thế kỉ X đến thế
kỉ XV), giáo viên có thể hướng dẫn HS vẽ sơ đồ nhà nước thời Lê, sau đó treo sơ đồ
đã chuẩn bị sẵn ở nhà cho học sinh quan sát:
Thông qua sơ đồ này, giáo viên giúp cho học sinh thấy được sự hoàn thiện của tổ
chức nhà nước thời Lê sơ theo hướng tập quyền và khẳng định đây là mô hình của chế
độ phong kiến ở Việt Nam và các triều đại sau đó đều dựa vào đó để xây dựng nhà
nước.
Như vậy, với việc sử dụng bản đồ, lược đồ, sơ đồ, bảng biểu trong quá trình giảng
dạy làm cho tiết học trở nên sôi nổi, gây được sự chú ý tập trung của học sinh, phát
huy khả năng độc lập tư duy cũng như khả năng khái quát tổng kết kiến thức lịch sử
của học sinh. Vì thế, trong các giờ dạy lịch sử nếu có điều kiện cho phép, giáo viên
nên tích cực sử dụng có hiệu quả các loại đồ dùng trực quan này.
Thứ ba, đối với hiện vật lịch sử, sa bàn.
18
Đối với hiện vật lịch sử (hiện vật gốc) thông thường thì chỉ có đến bảo tàng mới
dụng công nghệ thông tin, nhưng phải khẳng định lại rằng phim ảnh lịch sử là bằng
chứng sống động nhất về lịch sử, đặc biệt là những bộ phim trực tiếp quay trên chiến
trường. Đó là những thước phim vô cùng quí giá và nói “thật” nhất về lịch sử giúp
cho học sinh được chứng kiến tận mắt những gì mà nhân loại và dân tộc đã trải qua.
Từ đó làm nảy sinh ở các em những cảm xúc thật nhất về lịch sử, góp phần giáo dục,
hình thành nhân cách của các em.
Bên cạnh những bộ phim quay trực tiếp còn có những bộ phim tái hiện lại lịch sử.
Ngày nay công nghệ thông tin đã đạt được những bước tiến vượt bậc và có tác động
lớn đến giáo dục đặc biệt là môn lịch sử. Các nhà làm phim tái hiện lại hình ảnh lịch
sử một thời trong quá khứ với những nhân vật lịch sử, những sự vật hiện tượng,
những sự kiện đã qua.
19
Chiếu những cuốn phim đó sẽ góp phần giúp học sinh nắm bắt lịch sử một cách chính
xác, dễ nhận biết, dễ nhớ làm tăng hiệu quả học tập, lôi cuốn học sinh tham gia tích
cực vào bài giảng.
Cần coi trong việc sử dụng phim tài liệu vào quá trình dạy học nhằm tận dụng mọi cơ
hội giúp cho học sinh dường như đang được chứng kiến quá khứ có thật mà hiện tại
không có.
Ví dụ: Trong giai đoạn lịch sử 1919-1930: Giáo viên có thể sử dụng các đoạn phim
tư liệu nói về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh để minh họa cho
bài 12, 13. Trong giai đoạn lịch sử 1930-1945, giáo viên có thể sử dụng các đoạn
phim minh họa như Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Bác Hồ đọc tuyên ngôn
độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 2/9/1945 .....Ở giai đoạn lịch sử
1945-1954: Giáo viên cho học sinh xem phim tư liệu về chiến dịch lịch sử Điện Biên
Phủ. Thông qua các đoạn phim tư liệu lịch sử như thế thì giờ học lịch sử không thể
nào còn nhàm chán nữa.
Hoặc ở giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1954 – 1975, giáo viên có thể chiếu những
đoạn phim về cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Tổng tiến công và và
là từ 3 điểm trở xuống 0. Thậm chí, có những bài thi viết lan man đến 4 trang giấy
nhưng vẫn chỉ nhận được 0,25 điểm vì nỗ lực không để... giấy trắng.
Với hơn 170 trường đại học, cao đẳng công bố điểm thi, điểm 0 môn Sử đang
chiếm phần lớn điểm 0 của các trường Đại học, cao đẳng ngành xã hội. Theo thống kê
của các trường Đại học có thi môn Sử, số lượng bài thi dưới trung bình chiếm từ 80 –
90%, cá biệt có trường điểm Sử cao nhất là 5,25 điểm.
Điều này cũng dễ lí giải vì hiện nay rất nhiều học sinh ở trường phổ thông không
còn ham thích học tập bộ môn lịch sử. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng
này nhưng nguyên nhân chính là do số lượng tiết dạy quá ít (1-1,5 tiết/ tuần), trong
khi đó số lượng kiến thức lại khá nhiều. Do đó, nhiều giáo viên lên lớp đã quá chú
trọng đến việc “nhồi nhét” kiến thức vào đầu học sinh làm cho các em nhàm chán vì
phải nhớ qúa nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách máy móc khô khan. Có
nhiều học sinh coi giờ học lịch sử là giờ bị “tra tấn”, thậm chí ghét luôn cả giáo viên
lịch sử. Việc học sinh chán học môn lịch sử nói trên là một sự thật không phải bàn cãi.
Thế nhưng, việc học sinh thờ ơ với bộ môn này chưa hẳn do đặc thù của bộ môn
(học thuộc lòng, khó nhớ, khó thuộc) mà một phần là do giáo viên chưa biết cách
khơi gợi hứng thú học tập của học sinh. Nhiều học sinh đã thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ
về cách dạy lịch sử của một số giáo viên. Đó là việc dạy theo lối đọc – chép, truyền
thụ lại kiến thức trong sách giáo khoa hoàn toàn. Theo các em thì dạy như thế thì chỉ
cần đọc sách giáo khoa là đủ. Điều này dẫn đến học sinh nhàm chán không muốn
nghe thầy giảng mà còn nói chuyện riêng hoặc làm bài môn học khác. Nên nhớ rằng
kết cấu một bài giảng lịch sử nói riêng và bài giảng nói chung còn có phần mở rộng
kiến thức. Đặc biệt, phần mở rộng kiến thức của bộ môn lịch sử là vô cùng quan trọng
vì nó có tác dụng kích thích sự hứng thú của học sinh. Học sinh cần được mở rộng
thêm về kiến thức để hiểu rõ hơn về sự kiện, nhân vật lịch sử. Điều này đòi hỏi người
giáo viên phải có kiến thức và sự am hiểu sâu rộng về lịch sử để có thể truyển thụ đến
học sinh những kiến thức lịch sử bên ngoài liên quan tới nội dung bài học (đó là tư
liệu viết lịch sử). Trong giờ học lịch sử theo tôi quan sát, học sinh thường thích nghe
hơn thích viết nên sẽ là rất hữu dụng nếu mỗi tiết học giáo viên đều lồng vào những
kiến thức khác ngoài sách giáo khoa.
Cuối cùng một quả đạn đại bác bắn đứt dây xích cầu treo. Cầu hạ xuống. Nhân dân
xông vào pháo đài. Đội quân đồn trú ở Ba-xti đầu hàng. Viên chỉ huy pháo đài là
Lônây chạy đến kho thuốc súng định đốt kho thuốc súng giết chết tất cả nhưng binh
lính đã ngăn hắn lại. Quần chúng đã bắt giam hắn và chặt đầu.
Khi người ta báo cho vua Pháp biết Ba-xti đã bị chiếm. Nhà vua kinh ngạc hỏi:” Đấy
là một cuộc nổi loạn à!” Nhà vua được trả lời:”Không, tâu bệ hạ, đấy là một cuộc
cách mạng!”
Thông qua tư liệu này, học sinh có thể hiểu rõ vì sao vụ phá ngục Baxti lại có tầm
ảnh hưởng lớn như thế với cách mạng Pháp, đồng thời cũng khắc ghi sự kiện này.
Hay khi giảng mục 3, phần II, bài 12, SGK Lịch sử 12: PHONG TRÀO DÂN TỘC
DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1925, phần nói về hoạt động
của Nguyễn Ái Quốc. Phần này SGK dẫn nhiều sự kiện nói lên quá trình tìm đường
cứu nước của Người để khẳng định công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong việc
tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức cho sự thành
lập Đảng cộng sản Việt Nam. Nhưng để học sinh hiểu rõ để có được những đóng góp
to lớn đó, Bác Hồ của chúng ta đã phải trải qua những tháng ngày gian khổ, cay đắng
như thế nào, giáo viên cần dẫn những nguồn tư liệu bên ngoài sách giáo khoa như :
“Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi
tìm đường cứu nước, mặc dù biết rằng sẽ rất khó khăn, vất vả và cả hiểm nguy. Lúc
đó có người khuyên anh không nên đi và hỏi nếu đi ra nước ngoài thì sống thế nào?
Nguyễn Tất Thành đã xòe hai bàn tay ra và nói: Đây, sẽ sống bằng chính cái này!
Điều đó đã cho thấy nghị lực và ý chí quyết tâm của Người ngay từ buổi đầu của hành
trình tìm đường cứu nước, cứu dân.
Rời bến Nhà Rồng, Người xuống làm phụ bếp trên con tàu của Pháp với một tên mới
là Ba.
22
Hàng ngày, anh Ba phải làm việc từ 4 giờ sáng, công việc vất vả suốt cả ngày, đến 9
giờ tối mới xong. Sau khi làm xong mọi việc, anh tranh thủ học tập, đọc hoặc viết đến
Quốc được gần ba năm, Nguyễn Ái Quốc quay trở lại Mát-xcơ-va, sau đó bí mật trở
lại Pháp và một số nước khác.
Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đến Hương Cảng để chuẩn bị cho việc
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Sau khi Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời, cảnh sát Anh, Pháp ráo riết truy tìm Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6/6, cảnh sát
Anh bắt được Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông và đưa về giam giữ tại nhà tù Vích-tori-a. Bị kẻ thù giam cầm hơn một năm, trong điều kiện sống vô cùng khó khăn, thiếu
thốn nên sức khoẻ của Nguyễn Ái Quốc ngày càng suy giảm, bệnh tình tái phát.
23
Song, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Luật sư Lô-dơ-bai, kẻ địch buộc phải trả tự do
cho Nguyễn Ái Quốc.
Từ Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mát-xcơ-va để tham gia các hoạt động của
Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục bí mật trở lại Trung
Quốc, bắt liên lạc với tổ chức đảng ở hải ngoại và tìm đường về nước để trực tiếp chỉ
đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 28/1/1941, khi sương mù còn phủ dày đặc trên các đỉnh núi, Nguyễn Ái Quốc
đã rời Nậm Quang - Trung Quốc lên đường về nước. Giây phút đầu tiên đặt chân lên
mảnh đất thiêng liêng, nơi địa đầu Tổ quốc, xiết bao cảm động với người con đã bao
năm xa nước. Phút giây đó, sau này Người kể lại: "Xa Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã
mất bao thời gian và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ,
đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua
cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động".
Như vậy, tư liệu lịch sử ngoài sách giáo khoa chính là một trong những chiếc chìa
khóa “mở cửa” cho học sinh bước vào thế giới lịch sử đầy thú vị, cảm động và đáng
khâm phục nữa. Nó khác hẳn với thế giới lịch sử chỉ toàn số và năm, những nhân vật
nổi tiếng và ít tên tuổi, một thế giới “khô khan” và nhàm chán. Nhìn những ánh mắt
say sưa của học sinh trong những tiết dạy lịch sử mới hiểu rõ được tác dụng của việc
mở rộng kiến thức là to lớn nhường nào. Điều này cũng cần đến năng lực của người
giáo viên đứng lớp, biết gom kiến thức để mở rộng tư liệu, biết chọn tư liệu cần thiết
Một hôm, một con rắn trắng vốn là hiện thân của Quỷ Sa tăng từ trên Cây Trí Tuệ bò
xuống, thầm thì những điều cấm kỵ với Eva: "Người nào ăn được Trái Cấm sẽ có
được những hiểu biết về thế giới mà Chúa Trời đã sáng tạo ra, thậm chí còn có quyền
lực cải tạo thế giới". Nghe lời dỗ dành, Eva đã hái và ăn Trái Cấm. Đúng lúc ấy,
Adam chạy đến; Eva liền đưa nửa còn lại cho Adam. Adam rất sợ hãi, liều cắn một
miếng rồi nuốt vội nhưng miếng Trái Cấm không trôi xuống mà mắc kẹt ngay giữa cổ.
Thế là từ đó, cổ của các Adam (đàn ông) có một khối gồ lên, thành cái yết hầu gọi là
"Quả táo của Adam".
Phát hiện Trái cấm bị mất, Chúa trời nổi trận lôi đình, Chúa trời hỏi họ điều họ đã làm.
Adam kết tội Eva, Eva kết tội con rắn. Chúa Trời nguyền rủa con rắn: "Mi sẽ phải đi
bằng bụng...". Người đuổi Adam và Eva ra khỏi Vườn Địa Đàng. Người cũng rút lại
sự bất tử đã ưu ái dành tặng Adam và Eva, bắt họ từ đấy phải chịu cuộc sống giống
như các sinh vật khác, sẽ phải tự mình kiếm ăn, sẽ già đi, ốm đau rồi trở về với cát
bụi... Ngoài ra, do Eva có tội dụ dỗ Adam cùng ăn Trái Cấm, nên Chúa trời đặt lên
Eva lời nguyền: hàng tháng Eva sẽ phải mất đi một lượng máu từ cơ thể, sẽ phải mang
nặng đẻ đau...
Sau khi rời Vườn Địa Đàng, Adam và Eva khám phá ra sự khác biệt về cơ thể của
nhau, lần đầu tiên trong đời, họ cảm thấy xấu hổ. Adam và Eva vội vã quấn những
dây nho kèm lá xanh tươi xung quanh cơ thể để khỏi ngượng ngùng. Khi nắm tay
nhau, bất giác họ cảm thấy muốn gần gũi, ân ái. Con rắn hiện lên dưới dáng vẻ một vị
thần uy nghi và cho biết họ đã có một quyền lực vô biên bằng hành động ân ái đó: tạo
ra con người”.
Sau khi kể câu chuyện này, giáo viên đặt câu hỏi: “Theo các em, có phải Thượng
đế đã tạo ra loài người không?”. Học sinh sẽ trả lời theo hai hướng: có hoặc không.
Sau đó, giáo viên sẽ chốt lại: “Muốn biết con người có nguồn gốc từ đâu, xuất hiện từ
bao giờ, hôm nay thầy và trò chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bài học đầu tiên: Sự xuất hiện
loài người và bầy người nguyên thủy. Chắc chắn rằng lúc đó học sinh sẽ cảm thấy
hứng thú với bài học và muốn được khám phá để tìm ra chân lí cuối cùng.
Một cách dẫn dắt vào bài khác, chẳng hạn như dẫn dắt vào bài 31, SGK Lịch sử
10: CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỈ XVIII. Giaó viên có thể đưa ra lá