TIỂU LUẬN: Sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT. - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống

nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong
dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT.

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Trần Thị Thúy Hạnh
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A
Hà Tĩnh, năm 2015

1


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môn GDCD là một bộ môn thuộc khoa học xã hội. Nó phản ánh nhiều lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Các tri thức khoa học trong môn GDCD là tri trức về triết
học, CNXH khoa học, Kinh tế chính trị học, Đạo đức học, Pháp luật học, đường lối chính
sách của Đảng cộng sản Việt Nam. Các kiến thức đó được sắp xếp, bố trí hợp lí, cấu kết
chặt chẽ, lô gíc phù hợp với học sinh THPT. Môn GDCD vừa có vị trí thông thường của
một môn học vừa có vị trí đặc biệt của nó. Nó có nhiệm vụ như những môn học khác: trang
bị tri thức, giáo dục tư tưởng tình cảm, rèn luyện kỹ năng , kỹ xảo, phát triển trí tuệ học
sinh.
Học sinh cấp THCS cũng như cấp THPT đã được làm quen với với nhiều kiến thức của
bộ môn GDCD. Mỗi nội dung của bộ môn GDCD đều góp một phần không nhỏ trong việc
hoàn thiện nhân cách của học sinh. Trong các kiến thức được trang bị cho học sinh có nội
dung về pháp luật. Đây là những kiến thức cơ bản nhằm giúp học sinh có những hiểu biết

cấp THPT từ đó đề xuất việc ứng dụng phương pháp dạy học tích cực ( phương pháp
dạy học tình huống).
3. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng phương pháp dạy học tình huống vào giảng dạy pháp luật ở trường THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Việc dạy kiến thức pháp luật ở trường THPT hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nếu
giáo viên biết vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các phương pháp thích hợp và
đặc biệt là biết vận dụng phương pháp tình huống khi dạy về nội dung pháp luật thì
hiệu quả chắc chắn sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tình huống trong giảng dạy bộ
môn GDCD, đặc biệt là kiến thức về Pháp luật ở nhà trường THPT.
- Đánh giá thực trạng giảng dạy kiến thức pháp luật ở trường THPT hiện nay.
- Đề xuất phương pháp dạy học bằng tình huống đối với các kiến thức pháp luật ở
chương trình GDCD lớp 12
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Một số bài dạy về pháp luật ở chươg trình lớp 12 bộ môn GDCD.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu tôi đã sử dụng các
phương pháp sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7. Đóng góp của đề tài
Giúp cho giáo viên biết xây dựng các tình huống vào giảng dạy kiến thức pháp luật ở
trường THPT.
8. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận
Phần nội dung gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy pháp luật ở trường THPT.

thống nhất này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc
lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh
hưởng trở lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh
giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó
4


hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên
chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai
chức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy
vừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc
tự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phương
pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phải
tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nội
dung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lực
chỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản của
bài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trong
phương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm
nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.
Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,
và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyền
đạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tối
ưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúc
ba phép biện chứng:
Giữa dạy và học.

toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình
huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt
động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động
tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.
Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của con
người gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu
giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sáng
tạo tích cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp
giành kiến thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.
Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:
tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thức
được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thì
hy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa là
tình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề và
giải quyết vấn đề đã đề xuất.
Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm
6


vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu
và giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thức
hành động mới đối với chủ thể.
Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:

lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
7


được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.
1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huống
Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung
tâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễ
nhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, người
học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một
cách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tình
trạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương pháp
giảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền với
quá trình giải quyết tình huống đó.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khả
năng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quá
trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trong
đó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thì
phương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương
tác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh được
đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ
phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quan
điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyết
một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh
đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm
cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm

năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có
thể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.
Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú của
phần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiên
cứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc học
vì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,
tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.
Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trả
lời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.
Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng
9


tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thời
họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên
để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học
sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình
huống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình
huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống
còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằng

Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụng
phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết
giảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từng
bối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành những
loại như sau:
Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng
các ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ
khoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của
giáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và
(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn
loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết
giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm
gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này
cần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các
tình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu
và ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất
và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh áp
dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thực
tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh không
những phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị
theo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình
huống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho
học sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩn

thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã
được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dung
kiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết
của vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ
hai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phân
tích trên đây phải được tuân thủ”.
12


Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trình
dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn
GDCD ở trường Trung học.
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD tại trường THPT Nguyễn
Đổng Chi- Lộc Hà- Hà Tĩnh đến nay đã được 10 năm. Trường thành lập từ năm 2001,
cho đến nay trường đã có 25 lớp. Trong quá trình giảng dạy nhà trường không chỉ chú
trọng đến dạy học kiến thức mà trường luôn luôn quán triệt nhiệm vụ: Giáo dục toàn
diện cho học sinh ( Đức, Trí, Thể, Mỹ). Trong tương lai trường tiếp tục phát huy
truyền thống, thi đua dạy tốt và học tốt, nhanh chóng đưa nhà trường ngày càng vững
mạnh. Mặc dù được giảng dạy ở một trường như vậy nhưng cá nhân tôi khi dạy
GDCD nói chung và dạy pháp luật nói riêng có những thuận lợi nhưng đồng thời cũng
có không ít những khó khăn.
+ Thuận lợi:
- Cán bộ nhà trường tạo điều kiện để giáo viên có thể giảng dạy tốt nhất( tài liệu,

- Nhiều học sinh đã nhận thức được ý nghĩa to lớn của bộ môn nên đã tiếp thu
bài học tốt. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số em xem việc học chỉ là sự đối phó.
Vì vậy đây cũng chính là trở ngại cho giáo viên khi giảng dạy bộ môn này.
Nguyên nhân của những khó khăn trên:
- Lâu nay bộ môn GDCD không tham gia vào các kỳ thi mang tầm quốc gia do
đó học sinh chưa thực sự mặn mà với môn học.
- Sự phân biệt đối với các môn học của học sinh và một bộ phận người dân.
- Kiến thức SGK chưa đủ sức hấp dẫn đối với người học
- Một số giáo viên chưa mặn mà với bộ môn cũng như chịu khó đổi mới
phương pháp.
1.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật cho học
sinh trong dạy học môn GDCD ở trường Trung học
Nội dung pháp luật ở chương trình lớp 12 bộ môn GDCD liên quan đến khá nhiều
luật (Luật Hiến pháp, Luật Khiếu nại và Tố cáo, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân
sự, Luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ...). Để học sinh hiểu được kiến thức pháp
luật một cách cặn kẽ không phải là chuyện dễ. Bởi kiến thức pháp luật vốn dĩ đã khó
lại khô khan cho nên khó hấp dẫn đối với các em. Để khắc phục được điều này đòi hỏi
mỗi giao viên phải thực sự nổ lực trong việc nghiên cứu tìm tòi và vận dụng các
phương pháp, biết chắt lọc các thông tin mang tính thời sự để xây dựng các tình huống
có tính thuyết phục với các em. Lâu nay một số giáo viên đã làm được điều này. Tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên ngại tìm tòi đổi mới phương pháp, vẫn sử
dụng phương pháp dạy học cũ là thuyết trình do đó không phát huy được tính tự học
của các em và làm cho việc dạy và học diễn ra một cách thụ động theo kiểu: Thầy
giảng - trò nghe, thầy hỏi- trò trả lời, thầy đọc - trò ghi chép và học thuộc.
Dạy bộ môn GDCD nói chung và kiến thức pháp luật nói riêng phải theo hướng phát
huy tính tich cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng cho học sinh
năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Quá trình
14



+ Chưa tự tin trong việc đổi mới các phương pháp dạy học.
+ Việc xây dựng các tình huống còn gặp nhiều lúng túng.
-

Học sinh:

+ Vẫn quan niệm phân biệt đối với các môn học do đó việc còn học mang tính đối
phó.
15


+ Thái độ ỷ lại thầy cô và bạn bè, không chịu hợp tác với thầy cô và các bạn trong
việc tự lĩnh hội tri thức. Đây cũng chính là lý do làm cho một số giáo viên cảm
thấy không mặn mà khi bỏ công sức và thời gian để vận dụng các phương pháp khi
dạy về kiến thức pháp luật.
Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học tình huống chúng ta có
thể thấy được đây là phương pháp dạy học rất phù hợp đối với nội dung pháp luật
không chỉ đối với học sinh cấp THPT mà bao gồm cả học sinh THCS.
Trong thực tiễn giảng dạy nhiều giáo viên đã mạnh dạn lựa chọn phương pháp này.
Tuy nhiên vẫn có giáo viên còn ngại ngần vì lý do này hay lý do khác. Trên cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc biệt là dạy pháp luật
ở trường phổ thông tôi nhận thấy việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống
là điều thực sự cần thiết. Tuy nhiên để góp phần thành công trong việc giảng dạy đòi
hỏi giáo viên phải biết vận dụng phối hợp cùng với các phương pháp khác một cách
linh hoạt chứ không phải nhất nhất giờ học chỉ vận dụng một phương pháp này. Nếu
làm được điều đó chắc chắn bộ môn GDCD nói chung đặc biệt là kiến thức pháp luật
sẽ không còn là sự nhàm chán với các em.

CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD NHẰM GIÁO

Câu 2: Nếu là cán bộ lãnh đạo của địa phương, em sẽ làm gì trước sự việc trên?
Tình huống này sẽ áp dụng vào bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh
vực của đời sống xã hôi (nội dung “ bình đẳng trong lao động”).
Để trả lời được câu hỏi trong bài tập tình huống này đòi hỏi học sinh phải biết được
quy định cụ thể trong điều Luật của Bộ Luật lao động.
Điều 109 Bộ luật Lao động quy định: “Nhà nước đảm bảo các quyền làm việc của
phụ nữ bình đẳng về mọi mặt đối với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử
dụng lao động tạo điều kiện dể lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng
rãi chế độ làm việc có thời gian biểu linh hoạt...”
Điều13 Luật đầu tư quy định: các nhà đầu tư có quyền tự đầu tư, kinh doanh chủ
động trong việc “ lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động
vốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án”, chủ động
đăng kí kinh doanh một hoặc nhiều ngành nghề; thành lập doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư kinh doanh đã đăng kí”.
Căn cứ vào nội dung mà giáo viên muốn chuyển tải đến học sinh để xây dựng tình
huống phù hợp. Ngoài việc đưa ra tình huống giáo viên phải chuẩn bị các điều Luật để
các em hiểu thêm về các kiến thức pháp luật thông qua các nghành luật cụ thể. Tình
huống này liên qua đến ngành Luật Lao động, qua đó trang bị một số hiểu biết cho các
em và hình thành ở các em thái độ biết tôn trọng người lao động trong đó bao gồm cả
lao động nữ.
17


Loại 3: Tình huống đầy đủ
Ví dụ: Tại khoa xét nghiệm máu của bệnh viện Đa khoa Hoài Đức ( Hà Nội), Trưởng
khoa cùng các kỹ thuật viên đã thực hiện việc “ Nhân bản kết quả xét nghiệm máu”.
Đây là hành vi vô cùng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. Chị
Hoàng thị Nguyệt cán bộ khoa xét nghiệm đã rất bất bình vì việc này.
Câu hỏi:
Câu 1: Em hãy chỉ ra hành vi vi phạm pháp luật trong tình huống trên? Hành vi đó

2.Về kĩ năng:
- Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền BĐ của công dân trong lao
động,
3.Về thái độ:
- Tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực lao động
- Phê phán những hành vi vi phạm quyền bình đẳng trong lĩnh vực lao động.
II. TÀI LIỆU, PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC KĨ NĂNG SỐNG
- Tài liệu:
+ SGK GDCD12, chuẩn kiến thức kĩ năng, bài tập tình huống GDCD12
+ Tài liệu phổ biến GD PL, Bộ luật lao động
- Phương tiện:
+ Sơ đồ thể hiện nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
+ Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu
- Phương pháp:
+ Thảo luận lớp, khai thác kiến thức từ hình ảnh, phân tích tình huống
- Các kĩ năng sống:
+ KN tìm kiếm và xử lý thông tin về bình đẳng quyền, nghĩa vụ trong lao
động, KN hợp tác tìm hiểu nội dung…, KN tư duy phê phán trường hợp vi phạm
quyền bình đẳng của công dân trong lao động.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số lớp học
2. Kiểm tra bài cũ:
H. Trong gia đình em, quyền bình đẳng giữa cha mẹ và con cái được thể hiện ntn ?
Thực hiện quyền bình đẳng đó có ý nghĩa ntn đối với gia đình?
3. Bài mới:
ĐVĐ: Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người , tạo ra giá trị vật chất và
tinh thần cho XH- Đó là động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của XH. Ở nước
ta, quyền bình đẳng trong lao động được thể hiện như thế nào?
Hoạt động của giáo viên và học sinh


đồng. Ông X phải đối xử với A,B,C như nhau.

kiếm việc làm; bình đẳng giữa người lao
động và người sử dụng lao động thông

H. Quyền bình đẳng trong lao động được PL

qua hợp đồng lao động; bình đẳng giữa

qui định ntn?

lao động nam và lao động nữ trong từng
cơ quan, doanh nghiệp và trong phạm vi

H. Ý nghĩa của việc PL nước ta thừa nhận

cả nước.

quyền bình đẳng của công dân trong lđộng?

b) Nội dung cơ bản của bình đẳng

- Điều 55 Hiến pháp 1992 khẳng định : “Lao

trong lao động

động là quyền và nghĩa vụ của CD”.

* Công dân bình đẳng trong thực hiện
quyền lao động

quyền lao động.

phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tín

TH: Anh B đã trúng tuyển vào công ty X và

ngưỡng, tôn giáo, nguồn gốc gia đình,

được mời đến công ty để kí kết HĐLĐ. Theo

thành phần kinh tế.

đó anh sẽ làm việc tại công ty với thời hạn xác
định. Tuy nhiên khi xem bản hợp đồng, anh
không thấy rõ công việc mà anh phải làm, thời
gian và địa điểm làm việc. Anh đem thắc mắc
20


này trao đổi với BGĐ và đề nghị bổ sung

* Công dân bình đẳng trong giao kết

những nội dung trên vào HĐLĐ. Tuy nhiên

hợp đồng lao động

GĐ không đồng ý, ông ta nói với anh “ Chúng
tôi đã thuê anh làm việc với mức lương cao,
anh chỉ cần quan tâm đến điều đó, còn anh làm


những nguyên tắc nào?

+ Tự do, tự nguyện, bình đẳng; không trái
pháp luật và thoả ước lao động tập thể;
giao kết trực tiếp giữa người lao động với
người sử dụng lao động.
* Bình đẳng giữa lao động nam và lao
động nữ

Nhóm 3, 4: Thảo luận tình huống để làm rõ
nội dung công dân bình đẳng trong thực hiện
quyền lao động.
TH: Chị Thủy, là công nhân ủi của công ty
may (phải đứng), do chị có thai tháng thứ 7
nên GĐ chuyển chị sang bộ phận kiểm tra

- Bình đẳng về cơ hội tiếp cận việc làm

thành phần (có thể ngồi) khác với hợp đồng đã

- Bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi

kí.

tuyển dụng

H1. Quyết định của GĐ là đúng hay sai? Vì

- Đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về


được vị trí của mình trong XH.
H. Thế hệ trẻ hiện nay cần phải làm gì để
góp phần thực hiện quyền bình đẳng trong
lao động?
4. Cũng cố, luyện tập:
GV cho HS làm BTTH để củng cố kiến thức bài học:
Anh Toàn và anh Tiến cùng được vào làm việc tại công ty điện tử Z. Do anh Toàn có
bằng tốt nghiệp loại khá nên được GĐ bố trí ở phòng nghiên cứu thị trường. Còn anh
Tiến chỉ có bằng tốt nghiệp loại TB nên GĐ sắp xếp về tổ bán hàng. Thấy vậy anh Tiến
thắc mắc và cho rằng anh không được bình đẳng với anh Toàn trong thực hiện quyền
lao động.
Câu hỏi:
1. Theo em, tại sao GĐ lại sắp xếp công việc của hai người khác nhau?
2. Việc anh Toàn và anh Tiến được phân công làm việc khác nhau có bị coi là bất bình
đẳng trong thực hiện quyền lao động không?
IV. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP Ở NHÀ.
- Học bài cũ,
- Làm bài tập 4, 5. SGK .Trang 43
- Xem trước nội dung tiết 3- Bài 4.SGK .
Trên đây là một số tình huống tôi đã xây dựng để áp dụng vào quá trình dạy pháp luật
cho học sinh THPT. Trong thực tiễn giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THPT tôi thấy
việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học là điều vô cùng cần thiết, nó có tính
chất quyết định đối với sự thành công của tiết dạy. Thành công của tiết dạy đó là giáo
viên có tài năng trong việc tổ chức và lôi cuốn học sinh vào bài dạy, giáo viên không
22


phải làm việc nhiều, điều quan trọng là tạo cho các em sự say mê tìm tòi và nghiên
cứu, chính tự các em sẽ chủ động trong việc lĩnh hội tri thức. Một trong những phương

15,6%

75%

Yếu
9,4%

12A
-

Đối với lớp áp dụng phương pháp dạy học tình huống:
Lớp

12B
12C

Số học sinh

Số học sinh

Số học sinh

Số học sinh

nhận thức tốt

nhận thức

nhận thức TB


chọn các phương tiện phù hợp. Sau đây là một số cách giáo viên có thể dung:
- Viết tình huống lên bảng phụ.
23


- Các tài liệu trực quan như hình ảnh.
- Băng ghi âm hoặc hình.
- Các tài liệu thu thập trên mạng internet.
- Có sự tham gia nhiệt tình của học sinh.
Tùy thuộc vào đối tượng học sinh, CSVC của nhà trường,…mà giáo viên có thể
sử dụng để kích thích quá trình hoạt động của học sinh, tạo hứng khởi cho thành viên
trong lớp tham gia tiếp thu kiến thức.
C. KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Chúng ta nhận thấy rằng, việc giáo dục cho học sinh không chỉ là giáo dục kiến
thức, mà còn rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là giáo dục thái độ, cách ứng xử, cư xử của
các em . Do đó, với vai trò và trách nhiệm đó, giáo viên không chỉ không ngừng đổi
mới phương pháp giảng dạy mà còn trực tiếp trao đổi, chia sẻ ở những vấn đề đời
thường nhất, để các em hiểu rằng, chính các em mới là đối tượng chính trong tiến trình
dạy và học hiện nay.
Bằng cách giảng dạy thông qua các tình huống giúp cho học sinh nắm rõ hơn về nội
dung kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kĩ năng sống.
Bản thân tôi nhận thấy rằng trong quá trình giảng dạy cũng rút ra được cho mình
nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích trong qua trình giảng dạy.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Đây là một đề tài có phạm vi thực hiện rộng lớn và đòi hỏi thời gian, tâm trí của
người giáo viên cao. Do vậy trong quá trình thực hiện muốn đạt được thành công
người giáo viên thực sự phải yêu nghề, mến trò phải chịu khó đọc nhiều, tìm hiểu thêm
tư liệu thực tế mới có sức thuyết phục học sinh. Ngoài ra giáo viên phải được sự ủng
hộ, giúp đỡ của nhà trường, đồng nghiệp, phải gắn hoạt động học tập trên lớp với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status