Mục lục
1
Lời mở đầu
Sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới 1976 – 2006, có nhà nghiên
cứu đã cho rằng thành tựu lớn nhất mà chúng ta đã đạt được đó chính là “
Giải phóng con người”. Bước sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước và trong điều kiện hội nhập mở
cửa, có thể nói sức sản xuất, sáng tạo, tinh thần hăng say lao động, thi đua đã
bung ra ở tất cả các lĩnh vực từ văn hoá, giáo dục, y tế đến kinh tế, kỹ thuật,
thương mại… Để giờ đây Việt Nam đang trở thành “ ngôi sao” trong khu vực
và thực sự đã được biết đến nhiều hơn trên trường quốc tế với vị thế là một
nước có nền kinh tế phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu được quốc tế
đánh giá và ghi nhận. Là thành viên chính thức của ASEAN, APEC và gần
đây nhất là Tổ chức thương mại Thế giới lớn nhất hành tinh( WTO).
Thời gian và cùng với sự phát triển đã minh chứng một điều rằng nguồn
nhân lực chính là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến thắng lợi mà chúng
ta đã đạt được đó. Đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung và đối với
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà nói riêng, nguồn nhân lực chính là nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển cũng như là một yếu tố cạnh tranh chiến
lược của Công ty đối với các Công ty khác cùng ngành trên thương trường.
Do đó có được nguồn nhân lực chất lượng cao và hiệu quả trở thành mục tiêu
hàng đầu của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà hiện nay. Để đạt được mục
tiêu đó thì không thể không kể đến vai trò của đào tạo và phát triển nhân lực
trong Công ty. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cung cấp cho Công ty
các giải pháp nhằm tích hợp các yêu cầu của thị trường về nhân lực, với
nguồn lực về nhân lực của mình sao cho đạt được mục tiêu của Công ty. Đó
chính là lý do em nghiên cứu chuyên đề: “Hoàn thiện công tác đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực ở Công ty Cổ Phần Bánh kẹo Hải Hà”
Các giai đoạn phát triển của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
-Giai đoạn 1959- 1967
Tháng 1 năm 1959 Tổng công ty Nông thổ sản Miền Bắc( trực thuộc Bộ
Nội Thương) đã cho xây dựng một cơ sở thực nghiệm nghiên cứu hạt chân
châu( tapioca) với 9 cán bộ công nhân viên được Tổng công ty cử sang do
đồng chí Võ Trị làm giám đốc.
Từ những năm 1959 đến tháng 4 năm 1960 thực hiện chủ trương của
tổng công ty nông thổ sản Miền bắc. Cán bộ, công nhân viên trong công ty đã
bắt tay vào nghiên cứu thử nghiệm và sản xuất mặt hang miến từ nguyên liệu
đậu xanh để cung cấp miến cho nhu cầu của nhân dân.
Đến ngày 25/12/1960 Xưởng miến Hoàng Mai ra đời và đánh dấu một
bước ngoặt đầu tiên cho quá trình phát triển sau này.
Từ những năm 1961 đến 1965, xưởng miến Hoàng Mai đã tập trung nhân
lực mở rộng sản xuất và là mặt hang chính của xưởng. Đồng thời xí nghiệp đã
thử nghiệm thành công và đưa vào sản xuất mặt hang xì dầu và cung cấp nước
chấm cho thị trường và chế biến tinh bột ngô, cung cấp nguyên liệu ngô cho
nhà máy Pin Văn Điển.
Năm 1966 viện thực vật lấy xí nghiệp làm cơ sở sản xuất và thực nghiệm
4
các đề tài thực phẩm để phổ biến cho các địa phương nhằm giải quyết hậu cần
tại chỗ, từ đó theo quyết định của Bộ công nghiệp nhẹ, xí nghiệp đổi tên
thành: Nhà máy thực phẩm Hải Hà thuộc Bộ lương thực thực phẩm quản lý.
Ngoài sản xuất tinh bột ngô, nhà máy còn sản xuất viên đạm, tương, nước
chấm lên men, nước chấm hoa quả, bánh mì, bột dinh dưỡng và bước đầu
nghiên cứu mạch nha.
-Giai đoạn 1968- 1991
Tháng 6/1970 Nhà máy chính thức tiếp nhận phân xưởng sản xuất của
Nhà máy bánh kẹo Hải Châu bàn giao sang với công suất 900 tấn/ năm và đổi
Tháng 7 năm 1992, theo quyết định 216/CNN-LĐ của Bộ công nghiệp
nhẹ( ngày 24 tháng 3 năm 1992). Nhà máy đổi tên thành công ty bánh kẹo
Hải Hà với tên giao dịch là HaiHaCo thuộc Bộ công nghiệp nhẹ quản lý.
Tháng 9 năm 1995 công ty sát nhập nhà máy Việt Trì
Tháng 7 năm 1996 Công ty sát nhập nhà máy bột dinh dưỡng Nam Định
Năm 2003, thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của
chính phủ và theo quyết định số 192/2003/QĐ-BCN ngày 14/1/2003 của Bộ
trưởng Bộ Công Nghiệp. Công ty Bánh kẹo Hải Hà tiến hành quá trình cổ
phần hoá thành công và đổi tên thành Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà với
51% vốn nhà nước, 49% vốn của người lao động.
Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành Công ty Cổ phần Bánh
kẹo Hải Hà đã không ngừng đóng góp sức người, sức của của mình trong
công cuộc bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển kinh tế của Đất nước. Với
những ưu thế về thiết bị, máy móc công nghệ với đội ngũ lao động có trình độ
sang tạo cùng với chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh là không ngừng
nâng cao chất lượng hang hoá để phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa
dạng và phong phú của nhân dân. Công ty đã từng bước khẳng định vị thế
kinh doanh của mình, tạo được uy tín với khách hang, người tiêu dùng trên thị
trường sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm bánh kẹo. Đồng thời Công ty đã vinh
dự đón nhận nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà Nước:
4 Huân chương Lao động hạng Ba (1960-1970)
1 Huân chương Lao động hạng Nhì ( năm 1985)
1 Huân chương Lao động hạng Nhất ( năm 1990)
1 Huân chương Độc lập hạng Ba ( năm 1997)
6
Cờ thi đua luân lưu của Chính phủ, cờ thi đua luân lưu xuất sắc
của Bộ công nghiệp cùng nhiều Bằng khen của Bộ công nghiệp…
1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Nghiên cứu củng cố phát triển thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.
Đây là những nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện mục tiêu không ngừng phát triển
quy mô doanh nghiệp, giải quyết việc làm nâng cao đời sống của người lao
động.
II. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
2.1. Sơ đồ tổ chức quản lý của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nói trên của
Công ty, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức như sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
8
Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm
soát
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phó TGĐ
Kinh Doanh
Phó TGĐ Tài
Chính
Phòng
kỹ
thuật
XN
kẹo
mềm
XN
kẹo
cứng
XN
kẹo
Chew
XN
phụ
trợ
XN bột
dinh
dưỡng
NĐ
XN
Việt
Trì
2.2. Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình
9
10
tư của Công ty.
- Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của
Công ty.
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty.
- Quyết định lương, phụ cấp đối với người lao động trong Công ty và cán
bộ quản lý
Phó tổng giám đốc kinh doanh: Có chức năng quản trị mọi vấn đề về
nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, đảm bảo cho quá trình
sản xuất diễn ra nhịp nhàng ăn khớp. Trực tiếp quản lý phòng kinh doanh, hệ
thống các đại lý phân phối sản phẩm và các cửa hang giới thiệu và bán sản
phẩm.
Phó tổng giám đốc tài chính: Có nhiệm vụ trợ giúp Tổng giám đốc, cùng
chỉ đạo các hoạt động tài chính của Công ty. Đồng thời chịu trách nhiệm về
các loại hoạt động tài chính quản lý vốn và các nguồn ngân quỹ. Xác định
ngân quỹ cho hoạt động của Công ty và chịu trách nhiệm báo cáo với Tổng
giám đốc và Hội đồng quản trị về hiệu quả kinh doanh của công ty.
Các phòng ban:
Phòng kỹ thuật: Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác
quản lý kỹ thuật, đầu tư phát triển nghiên cứu, chế tạo theo dõi các sản phẩm
mới, tiếp thu chuyển giao công nghệ. Chịu trách nhiệm về kỹ thuật, quy trình
công nghệ chế tạo sản phẩm đề xuất các giải pháp kinh tế, các phương án kỹ
thuật các biện pháp an toàn lao động và tổ chức quản lý.
Phòng KCS: Chịu trách nhiệm kiểm tra quá trình chế biến đưa nguyên
vật liệu vào sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm sản xuất ra đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm. Trực tiếp kiểm tra chất lượng sản phẩm để chấm
điểm tính thưởng phạt hang tháng lưu mẫu bảo quản theo dõi chuyển biến
chất lượng để đề xuất các biện pháp xử lý.
Ngoài ra hệ thống cửa hàng có chức năng giới thiệu và tiêu thụ sản
phẩm, hệ thống nhà kho có chức năng dự trữ nguyên vật liệu, đảm bảo
nguyên liệu trang thiết bị phục vụ sản xuất đồng thời dự trữ bảo quản sản
phẩm làm ra.
III. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Bánh
kẹo Hải Hà
Bảng 1: Kết quả hđ kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2002 – 2006
Đơn vị tính: tỷ đồng
12
Năm
Chỉ tiêu
1. Doanh thu
225.349
261.405
313.686
370.149
462.687
2. Lao động ( người)
1791
16249
5. Lợi nhuận trước thuế
11.579
13.345
14.058
17.725
16.679
8.337
9.609
14.058
17.725
16.679
6. Lợi nhuận sau thuế
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà đang dần chuyển mình và khẳng định
vị thế của mình trong lòng người tiêu dùng. Mặc dù, với sự xuất hiện tràn lan
của sản phẩm bánh kẹo ngoại nhập với mẫu mã, kiểu dáng đẹp, giá thành hợp
lý và chất lượng tốt. Nhưng sản phẩm của Công ty vẫn đứng vững và được
chuyền sản xuất kẹo Jelly.
Nhà máy bột dinh dưỡng Nam Định: chuyên sản xuất bột dinh dưỡng,
bột canh và bánh kem xốp các loại…
1.2. Sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm
Hiện nay công ty đang sản xuất và cung ứng cho thị trường gần 200 sản
phẩm. Sản phẩm của công ty được chia thành các loại chính như sau:
Các loại sản phẩm
Tên sản phẩm
Công suất sản phẩm
-Kẹo cứng
6 tấn/ngày
-Kẹo mềm
18 tấn/ngày
-Kẹo chew
12 tấn/ngày
14
-Kẹo jelly
15 tấn/ngày
-Bánh
15
loại đóng gói bằng hộp giấy và hộp sắt chưa nhiều. Đây là điểm yếu so với
các đối thủ cạnh tranh khác.
Là một công ty có chức năng sản xuất và kinh doanh mặt hàng bánh kẹo
các loại vì thế công ty luôn phải thích ứng đối với những đặc điểm của các
mặt hàng này là:
- Bánh kẹo thuộc nhóm hàng lương thực thực phẩm chế biến
- Là hàng hoá tiêu dùng có tính thường xuyên (chỉ sau nhu yếu phẩm)
- Sản phẩm thường có giá trị đơn vị nhỏ, có thời hạn sử dụng ngắn.
- Vòng đời sống của sản phẩm ngắn
- Sản phẩm dễ bị sao chép
- Tính thay thế của sản phẩm cao
- Sản phẩm tiêu dùng theo mùa vụ
- Người tiêu dùng thường bị hấp dẫn mạnh bởi sản phẩm mới và ít trung
thành với nhãn hiệu sản phẩm
- Quyết định mua thường được đưa ra ngay tại nơi bán (mua không có kế
hoạch và bị hấp dẫn bởi cách trưng bày sản phẩm, kiểu dáng bao gói sản
phẩm, giới thiệu của người bán hàng…)
- Đối tượng tiêu dùng sản phẩm đa dạng, tuỳ từng loại sản phẩm có đối
tượng thể là người lớn tuổi, người trưởng thành hay trẻ em… không phân biệt
giới tính.
Tình hình tiêu thụ sản phẩm
Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà là doanh nghiệp đã có thâm niên trong
lĩnh vực hoạt động sản xuất và kinh doanh bánh kẹo tại thì trường trong nước.
Hiện tại, sản phẩm của Công ty đã có mặt ở hầu hết các khu vực thị trường ở
cả 3 miền Bắc, Trung, Nam và đang mở rộng và chiếm lĩnh một thị phần nhỏ
tại các thị trường nước ngoài như: Trung quốc, Mông cổ…
Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo địa điểm: Công ty cổ phần bánh kẹo
ST
%)
TT(
%)
Năm 2005
ST
Năm 2006
TT(%) ST
TT(
%)
Bán
buôn
204,8
và
2
bán
90,89
h thu 225,3
bán
49
5,71
3,4
100
15,50
1
10,97
261,4
1
5,93
20,86
13,48
4,2
8
313,6
100
9
Nguồn: Phòng Kế hoạch - Thị trường
Qua bảng 1, ta thấy doanh thu tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của Công ty là
theo phương thức bán buôn và bán đại lý luôn chiếm tỷ trọng khá cao và liên
tục tăng qua các năm từ năm 2002 đến năm 2006, năm 2004 doanh thu theo
phương thức bán buôn và bán đại lý lên đến 279,34 tỷ đồng, năm 2005 là
330,802 tỷ đồng, sang năm 2006 mức doanh thu tiếp tục tăng 410,82 tỷ đồng.
Ngoài thị trường nội địa công ty không ngừng nghiên cứu để mở rộng ra
thị trường một số nước: Trung quốc, Mông Cổ, Lào, Campuchia…
Bảng 3: Xuất khẩu của công ty sang một số nước năm 2003-2006
17
Thị trường
Đơn vị
2003
2004
2005
2006
Trung Quốc
Tấn
270
Mông Cổ
Tấn
349
400
400
382
Thái Lan
Tấn
100
130
200
220
Inđônêxia
Tấn
35
Nguồn: Phòng Kế hoạch - Thị trường
Như vậy, doanh thu tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Bánh kẹo
Hải Hà giai đoạn 2002 – 2006 là tương đối lớn, hình thành nên các quỹ phúc
lợi đẩy mạnh việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao trình
độ chuyên môn cho cán bộ quản lý và trình độ tay nghề cho công nhân trực
tiếp sản xuất.
1.3. Quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và yêu cầu của sự phát
triển, công ty đã đầu tư và áp dụng phương pháp sản xuất dây chuyền. Quá
trình công nghệ được chia thành nhiều bước công việc theo một trình tự hợp
lý. Mỗi nơi làm việc được phân công chuyên trách một bước công việc nhất
định đồng thời được trang bị máy móc thiết bị và dụng cụ chuyên dùng, hoạt
động theo một chế độ hợp lý và có trình độ tổ chức lao động cao. Mặt khác
các nơi làm việc được tổ chức theo hình thức đối tượng, chính là tổ chức theo
trình tự chế biến sản phẩm và tạo thành dây chuyền. Do đó nguyên vật liệu
được vận động theo một hướng nhất định và có đường di động ngắn nhất giúp
cho thời gian sản xuất ít bị gián đoạn, rút ngắn chu kì sản xuất sản phẩm.
Máy móc thiết bị
Để sản xuất ra các loại sản phẩm cung cấp cho thị trường với chủng loại
và chất lượng cao hơn công ty đã không ngừng đầu tư mua sắm trang thiết bị
máy móc để dùng cho sản xuất, dần thay thế lao động thủ công bằng cách đưa
khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hiện nay công ty đã có những dây chuyền sản
xuất như:
18
+ Dây chuyền sản xuất bánh Cracker: nhập từ Italia công suất 2.5 tấn/ ca
+ Dây chuyền sản xuất bánh Biscuit : nhập từ Đan Mạch công suất 2 tấn/
ca
17. Dây chuyền bánh2
18. Máy đóng túi bánh
19. Máy phết kem
20. Lò nướng vỏ bánh
Số
lượng
1
1
1
12
2
2
21
1
1
1
1
1
2
3
6
2
1
2
1
kem 5
Nước sản xuất
1994
1992
1990
2000
1995
1990
2001
2001
1998
1995
1993
1996
1997
xốp
Bảng 5: Một số máy móc đầu tư mới trong những năm gần đây
Tên máy móc thiết bị
1. Dây chuyền kẹo Jelly khuôn
2. Dây chuyền kẹo Jelly cốc
3. Dây chuyền kẹo Cramel béo
4. Máy kẹo gối
5. Máy phết kem
6. Dây chuyền SX kẹo Chew
7. Dây chuyền SX Cracker
Năm sử dụng
1996
1998
1998
có vị thế vững chắc trên thị trường và đáp ứng một cách tốt hơn nhu cầu của
người tiêu dùng về mẫu mã sản phẩm.
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất kẹo mềm
Đường + Mật tinh bột + Nước
Hoà tan, lọc
Kẹo đầu đuôi
Nấu
Đánh trộn các phụ
liệu
Làm nguội
Khối phụ liệu
Tạo hình
Bao gói
Đóng thành phẩm
Sơ đồ 3: Quy trình sản xuất bánh kem xốp
21
Tạo vỏ bánh
Đường + Mật tinh bột +
Nước
Hoà tan, lọc
Đầu đuôi+Mật tinh
bột+Nước
Nấu
Nấu nhân
Làm nguội
Tạo hình
Bơm nhân
Bao gói
Đóng thành phẩm
Như vậy, cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ,
xã hội đòi hỏi một khối lượng lớn lao động được đào tạo với chất lượng cao
và lao động có trình độ học vấn, theo kịp với nhịp độ phát triển khoa học công
nghệ xã hội mới. Điều đó đòi hỏi các nhà quản trị phải có biện pháp tổ chức
đào tạo một cách hợp lý giúp cho đội ngũ nhân viên nắm bắt được quy trình
công nghệ mới.
Ngoài ra, cán bộ thực hiện công tác QTNL còn cần có biện pháp tuyển
chọn các nhân viên có trình độ tay nghề đáp ứng được với sự đòi hỏi của dây
_Đại học
_Cao
đảng,trung cấp
_Công
nhân
lành nghề bậc
Năm2002
SL
TT(%)
Năm 2003
SL
TT(%)
Năm 2004
SL
TT(%)
Năm 2005
SL
TT(%)
Năm 2006
SL
TT(%)
555
1236
1610
89.54
1454
87.80
1432
86.84
1398
86.51
1279
71.41
1270
70.63
1147
69.26
1122
188
10.46
202
12.20
217
13.16
218
13.49
114
6.36
117
6.5
125
7.5
131
1642
91.3
1493
90.15
1491
90.4
1467
90.7
1528
263
85.30
14.70
1575
223
87.60
12.40
1464
100
1616
100
4/7
4.Thời hạn lao
động
_Dài hạn
_Thời vụ
Tổng số
động
lao
Nguồn: Phòng Tổ chức – hành chính (Văn phòng)
Do tính chất và đặc thù của sản phẩm bánh kẹo nên phần lớn lao động
của công ty là lao động trực tiếp sản xuất. Năm 2006, trong tổng 1 trình độ
lao động trực tiếp có khoảng 1398 đạt khoảng 86.51%, lao động gián tiếp có
218 lao động 13.49%, qua đây ta thấy được hiệu quả làm việc của bộ máy làm
việc, duy trì một tỉ lệ lao động hợp lý giữa lao động trực tiếp và lao động gián
tiếp.
Năm 2006, Công ty có 128 cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ,
chiếm 7,9%. Chất lượng lao động ngày càng được cải thiện, số lượng lao
24
động có trình độ ĐH và trên ĐH ngày càng tăng. Cán bộ quản lý và cán bộ kỹ