DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1. Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường mất đi của
thuốc ..........................................................................................................................13
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ sâu hại trên vườn chè của các hộ dân ..........................................30
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ bệnh hại trên vườn của các hộ dân ..............................................31
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ cách lựa chọn thời điểm phun thuốc của các hộ dân...................40
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ ý kiến của người dân về ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc
BVTV đến MT địa phương .......................................................................................46
Biểu đồ 3.5. Tình hình trong hệ thống cung ứng thuốc tại khu vực nghiên cứu ......49
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại ............................................4
Bảng 1.2. Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại ................................................4
Bảng 1.3. Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các hiện tượng về độ
đọc cần ghi trên nhãn ..................................................................................................5
Bảng 1.4. Phân loại độc tính thuốc BVTV của Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức
Nông lương Thế giới ...................................................................................................6
Bảng 1.5. Phân loại hóa chất theo đường xâm nhập ...................................................8
Hình 3.1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu.........................................................................22
Bảng 3.1. Các giống chè trên địa bàn vùng chè Tân Cương .....................................25
Bảng 3.2. Tỷ lệ các loài sâu bệnh hại ở vườn chè của các hộ dân ............................29
Bảng 3.3. Các loại thuốc BVTV được sử dụng trong canh tác chè .........................32
Bảng 3.4. Thời điểm phun thuốc của các hộ dân ......................................................39
Bảng 3.5. Tỷ lệ nồng độ và liều lượng sử dụng thuốc BVTV của các hộ dân .........41
Bảng 3.6 Các loại bảo hộ lao động của người dân dùngkhi sử dụng thuốc BVTV ..44
Bảng 3.7. Tỷ lệ ý kiến của người dân về ảnh hưởng của sử dụng thuốc BVTV đến
MT ở địa phương.......................................................................................................45
Bảng 3.8. Biện pháp xử lý bao bì, chai lọ đựng thuốc BVTV sau khi sử dụng ........47
Bảng 3.9. Tình hình các cửa hàng bán thuốc BVTV tại khu vực nghiên cứu ..........48
một cây công nghiệp dễ khai thác, cây chè được coi là cây trồng mũi nhọn, một thế
mạnh của khu vực trung du và miền núi [4].
Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng
phát triển nông lâm nghiệp. Chè Thái Nguyên, đặc biệt là chè Tân Cương là sản
phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu. Toàn diện tích trồng chè Thái Nguyên có trên
16.000 ha, đứng thứ 2 trong cả nước, với hơn 40 cơ sở chế biến chè lớn nhỏ. Chè
Thái Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường
nội địa chiếm 70% với sản phẩm là chè xanh, chè xanh đặc sản [12].
Tuy nhiên, việc sản xuất chè an toàn lại là bài toán khó ở tất cả các địa
phương, mặc dù đã được đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau nhưng mới chỉ có một
phần diện tích rất nhỏ chè được chứng nhận đủ điều kiện sản xuất chè an toàn.
Trong đó, các tiêu chí đánh giá không đạt yêu cầu được chỉ ra như địa điểm xây
dựng nhà máy không phù hợp, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thiếu các
công trình phụ trợ,… Đặc biệt là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong
trồng chè. Việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa
màng. Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo
đảm cây trồng phát triển tốt. Vấn đề đặt ra là mặt trái của các loại thuốc BVTV
thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc
hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi
trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách. Dư lượng
1
thuốc BVTV quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối
với sức khoẻ con người.
Trong những năm qua, sản xuất chè ở Tân Cương đã có bước phát triển và
được quan tâm, song kết quả sản xuất chè chưa cao so với tiềm năng và còn nhiều
vấn đề về chất lượng cần phải xem xét, giải quyết. Xuất phát từ thực tiễn đề tài
“Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại vùng chè đặc
sản Tân Cương, Thái Nguyên” được lựa chọn thực hiện.
1.1.2. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
1.1.2.1. Phân loại theo tính độc
Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị đo
lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể.
Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
3
Bảng 1.1. Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
Trị số LD 50 của thuốc (mg/kg)
Dạng lỏng
Dạng rắn
Qua miệng
Qua da
Qua miệng
Qua da
Rất độc
20
40
5
Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cộng sự [9]
Bảng 1.2. Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại
Nhóm độc
Nguy hiểm (I)
LD50
qua
miệng (mg/kg)
LD50
da (mg/kg)
LD50
qua
hô hấp (mg/l)
báo Cảnh
báo
(II)
(III)
(IV)
50 – 500
500– 5.000
mạc mắt
niêm
mạc,
màng,
sừng và
mắt
gây
mắt kéo dài > ngứa niêm
7 ngày
Phản ứng da
đục sừng
Gây
niêm mạc
ngứa
Không
ngứa
gây
niêm
Hình tƣợng (đen)
Đầu lâu xương chéo trong hình thoi vuông
trắng
Nhóm độc II Độc cao Chữ thập chéo trong hình thoi vuông trắng
Nhóm
độc
Nguy
Đường chéo không liền nét trong hình thoi
hiểm
vuông trắng
Qua miệng
Vạch màu
Qua da
Thể rắn
Thể lỏng
Thể rắn
Thể lỏng
Xanh lá cây
> 2.000
> 3.000
> 1.000
> 4.000
III
Cẩn thận Không biểu tượng
Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs [9]
5
Bảng 1.4. Phân loại độc tính thuốc BVTV của Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức
Nông lương Thế giới
LD50(chuột) (mg/kg thể trọng)
Loại độc
Đƣờng miệng
Chất rắn
Chất lỏng
Đƣờng da
Chất rắn
400 – 4000
III: Độc nhẹ
≥500
≥2000
≥1000
≥4000
IV: Loại sản phẩm không gây độc khi sử dụng bình thường
1.1.2.2. Phân loại theo đối tượng phòng chống
Theo Nguyễn Thị Hồng Hạnh [6] thì có rất nhiều cách phân loại khác nhau
và được phân ra như sau:
Thuốc trừ sâu (Insecticide):
Gồm các chất hay hỗn hợp các chất tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di
chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường. Chúng được dùng để diệt
trừ hay ngăn tác hại của công trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc
và con người.
Trong thuốc trừ sâu dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh
trưởng người ta còn chia ra: Thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non.
Thuốc trừ bệnh (Fungicid):
Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học (vô cơ hoặc hữu
cơ), sinh học, có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài sinh vật gây hại cho cây
trồng và nông sản bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất,…
Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài sinh vật gây hại tấn
Loại chất độc
Chất độc tiếp xúc
Chất độc vị độc
Chất độc xông hơi
Xâm nhập qua biểu bì của dịch hại. Thuốc sẽ phá hủy bộ máy
thần kinh của dịch hại như Bassa, Mipxin,…
Là thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua
đường tiêu hóa của dịch hại như : 666, Dupterex,…
Là loại thuốc có khả năng bốc thành hơi, đầu độc bầu không
khí bao xung quanh cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp.
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua lá, thân, rễ,
Chất độc nội hấp
cành,… rồi được vận chuyển tích lũy trong hệ thống dẫn
nhựa của cây, tồn tại trong đó một thời gian và gây chết cơ
thể sinh vật.
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ
Chất độc thấm sâu yếu theo chiều ngang, nó có tác dụng tiêu diệt dịch hại sống
ẩn nấp trong tổ chức tế bào thực vật như: Wofatox,…
Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cộng sự [9]
1.1.2.4. Dựa vào nguồn gốc hóa học
-
Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay
các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại.
thuốc BVTV sản xuất ra được sử dụng ở các nước phát triển. Tuy vậy, tốc độ sử
dụng thuốc BVTV ở các nước đang phát triển tăng 7 – 8%/năm, nhanh hơn các
nước đang phát triển (2 – 4%/năm). Trong đó, chủ yếu là các thuốc trừ sâu chiếm
70% [6].
Việc lạm dụng hóa chất BVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi
trường và sức khỏe cộng đồng. Trong nhân dân tư tưởng sợ hãi, không dám dùng
HCBVTV xuất hiện, thậm chí có người cho rằng cần loại bỏ không dùng HCBVTV
trong sản xuất nông nghiệp. Chính vì điều này các nhà khoa học đã đầu tư nghiên
cứu các loại HCBVTV mới an toàn hơn đối với môi trường và sức khỏe con người.
Nhiều HCBVTV mới ra đời như hóa chất trừ cỏ mới, các HCBVTV nhóm
Perethoid tổng hợp, các HCBVTV có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học,
các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng. Lượng HCBVTV được dùng
trên thế giới không những không giảm mà còn liên tục tăng lên.
Từ những năm 1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn,
vai trò của biện pháp hóa học vẫn được thừa nhận. Tư tưởng sợ HCBVTV cũng bớt
dần, do hiểu biết tốt hơn về tác động qua lại của côn trùng và cây trồng, các loại
HCBVTV đã được triển lên một tầm cao mới cũng như đã có một chiến lược mới
về công thức hóa học và các phương pháp sử dụng. Nhiều loại hóa chất mới, trong
đó có nhiều HCBVTV sinh học có hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi
trường ra đời. Sự phát triển mới này đã tạo ra cơ hội giảm bớt nguy cơ nhiểm đọc
của HCBVTV. Sản lượng HCBVTV thế giới tăng lên theo thời gian, năm 1955 thế
9
giới sản xuất ra gần 400 nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3
triệu tấn mỗi năm. Đến nay, thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537
loại HCBVTV. Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch nhập khẩu và sử dụng
HCBVTV đứng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Tại Trung Quốc để tăng cường tự chủ về HCBVTV, Chính phủ Trung Quốc
đã gia tăng đầu tư vào ngành công nghiệp HCBVTV. Chính vì vậy, ngành công
Trước năm 1975, nước ta có một số nhà máy sản xuất và gia công các bột 666
để phun đắp cho các loại cây, đa phần các hóa chất đều được nhập từ nước ngoài,
các cơ sở tư nhân trong nước sẽ chế biến hóa chất dạng bột sang dạng thấm nước,
dung dịch,...
Từ năm 1975 – 1989 các cơ sở tư nhân phát triển mạnh hơn, việc cung cấp
thuốc BVTV tăng lên đáng kể cho nên mức độ sử dụng cũng tăng lên. Theo ước
tính từ năm 1976 – 1980 bình quân cả nước mỗi năm sử dụng 5.100 tấn thuốc
BVTV, năm 1985 khoảng 22.000 tấn, năm 1998 trên 40.000 tấn. Nếu như trước
những năm 1990 sử dụng bình quân từ 0,3 – 0,4 kg thuốc BVTV/ha thì đến năm
1999 lượng thuốc BVTV bình quân tăng lên 1,05kg/ha [8].
Theo kết quả thanh tra, kiểm tra sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV (2007 –
2010) cho thấy: Số cơ sở, cửa hàng, đại lý được thanh tra, kiểm tra phát hiện có vi
phạm chiếm khoảng 14 – 16 % (tổng số đơn vị thanh kiểm tra trung bình 14.000
lượt/năm), trong đó: Buôn bán thuốc cấm: 0,19 – 0,013 %; buôn bán thuốc ngoài
danh mục: 0,85 – 0,72%; Buôn bán thuốc giả: 0,04 – 0,2%; vi phạm về ghi nhãn
hàng hóa: 3,12 – 2,44% và vi phạm về điều kiện buôn bán: 14,4 – 16,46%. Lấy mẫu
kiểm tra chất lượng thuốc BVTV tại các cơ sở sản xuất, gia công, sang chai, đóng
gói và lưu thông hàng năm cho thấy tỷ lệ mẫu không đạt chất lượng là 3 – 10,2% số
mẫu kiểm tra.
Thực trạng sử dụng thuốc B VTV, theo số liệu kiểm tra từ năm 2007 – 2009,
tỷ lệ số hộ vi phạm: 35 – 17,8%, trong đó: không đảm bảo thời gian cách ly: 2,0 –
8,43%; không đúng nồng độ và liều lượng: 10,24 – 14,34%; sử dụng thuốc cấm:
0,19 – 0,0 % ; thuốc ngoài danh mục: 2,17 – 0,52 % [5].
Việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng nhiều, đồng thời với lợi ích mang lại
cũng đã thể hiện những hậu quả xấu đối với con người và môi trường sinh thái, đi
ngược lại nỗ lực nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững.
11
1.3. Ảnh hƣởng của thuốc BVTV đến môi trƣờng sinh thái và con ngƣời
Trong quá trình sản xuất, vận chuyển, bảo quản và sử dụng, thuốc BVTV đã
tác động đến môi trường bằng nhiều cách khác nhau, theo sơ đồ:
Không khí
Đất
Thực vật
Thuốc bảo vệ thực
vật
Thực phẩm
Nước
Động vật
Người
Hình 1.1. Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường mất đi của thuốc
1.3.1. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường đất
Sự tồn tại và chuyển vận HCBVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố cấu
trúc hóa học của hoạt chất, các dạng thành phẩm, loại đất, điều kiện tiết thủy lợi,
loại cây trồng và các vi sinh vật trong đất.
Hóa chất bảo vệ thực vật có thể hấp thụ từ đất vào cây trồng, đặc biệt các loại
rễ của rau như củ cà rốt và cỏ. HCBVTV được hấp thu từ đất vào cỏ, súc vật ăn cỏ
như trâu bò sẽ hấp thu toàn bộ dư lượng HCBVTV trong cỏ vào thịt và sữa. Nhiều
1.3.3. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường không khí
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí gây mùi khó chịu khiến
cho không khí bị ô nhiễm. Các tác nhân bên ngoài như gió sẽ thúc đẩy quá trình
khếch tán của thuốc làm ô nhiễm không khí cả một vùng rộng lớn. Ô nhiễm không
khí do thuốc BVTV sẽ tác động xấu đến sức khỏe con người và các động vật khác
thông qua con đường hô hấp.
- Qua đường qua miệng và hô hấp: Thuốc xâm nhập qua đường miệng
thường gây ngộ độc rất nặng.
14
- Để chung thức ăn, nước uống với thuốc trong quá trình vận chuyển hoặc
lưu trữ, đựng thuốc trong chai nước uống hoặc đồ đựng thức ăn (dễ bị dính thuốc
vào thức ăn hoặc nhầm lẫn).
+ Khi sử dụng thuốc có đặc điểm bay hơi, thuốc dạng bột chúng ta có thể bị
hít phải thuốc khi đang phun hoặc hít phải khói thuốc khi đốt hay tiêu huỷ bao bì.
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí theo nhiều nguồn khác nhau:
- Khi phun vãi thuốc sẽ xâm nhập vào không khí theo từng đợt dưới dạng
bụi, hơi. Tốc độ xâm nhập vào không khí tùy loại hóa chất, tùy theo cách sử dụng
và tùy theo điều kiện thời tiết.
- Do ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết như gió, bão, mưa...bào mòn và
tung các bụi đất có chứa thuốc BVTV vào không khí.
- Do tai nạn hoặc do sự thiếu thận trọng gây rò rỉ hóa chất trong quá trình sản
xuất, vận chuyển thuốc BVTV [8].
1.3.4. Ảnh hưởng tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật đến nông nghiệp
Thuốc BVTV được xâm nhập, dịch chuyển và tồn tại ở các bộ phận của cây,
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây như sau:
- Thuốc làm cho năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất tăng.
- Rút ngắn thời gian sinh trưởng ra hoa sớm, quả chín sớm.
- Tăng sức chống chịu với điều kiện bất thuận lợi như: chống rét, chống hạn,
HCBVTV:
Số liệu điều tra của Trung tâm phát triển nông nghiệp bền vững cũng đã
chứng minh: cả nước có khoảng 15 – 20 triệu người thường xuyên tiếp xúc với
thuốc BVTV thì có đến 70% trong số này có triệu chứng ngộ độc. Ngộ độc thuốc
BVTV là 1 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất tại các bệnh viện [13].
1.4. Các nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Trong sản xuất nông nghiệp, cây trồng có nhiều sinh vật hại và có một số
sinh vật hại xuất hiện trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, kể cả thời gian
đang thu hoạch. Do đó để bảo vệ năng suất cây trồng và giữ cho sản phẩm có mẫu
mã đẹp khi bán, người nông dân thường sử dụng thuốc. Trong thời gian qua việc sử
dụng thuốc không đúng kỹ thuật đã gây ra những tác hại không nhỏ ảnh hưởng đến
sức khoẻ cộng đồng và môi trường.
16
An toàn và hiệu quả trong việc sử dụng thuốc BVTV là vấn đề cần được
quan tâm hôm nay, trong đó người sử dụng thuốc BVTV cần nắm vững 4 nguyên
tắc cơ bản.
"Bốn đúng" trong sử dụng thuốc BVTV là đúng thuốc, đúng liều lƣợng,
nồng độ, đúng lúc và đúng cách
Nguyên tắc này nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và khai thác tốt nhất
hiệu quả các loại thuốc nông dùng trong nông nghiệp.
1 - Đúng thuốc: Thuốc BVTV được sản xuất thành nhiều chủng loại, nếu
không được sử dụng đúng vừa không hiệu quả mà còn gây lãng phí, ô nhiễm môi
trường. Trong từng chủng loại cũng được chia ra loại chọn lọc, loại đa dạng.
Cần lưu ý ở nguyên tắc là: thuốc trừ sâu chỉ dùng để trừ sâu, thuốc trừ bệnh
dùng với bệnh, không được dùng lẫn lộn.
2 - Đúng liều lượng, nồng độ: Mỗi loại thuốc, trước khi đưa vào dùng cho
cây trồng đều được khảo nghiệm nhiều lần, từ trong phòng thí nghiệm đến đại trà.
Qua đó, người ta tìm ra liều lượng và nồng độ tối ưu đối với từng loài hoặc nhóm
cũng có hướng dẫn và cần tuân thủ chặt chẽ. Dịch hại phát triển ở mặt dưới lá, chỉ ở
phần lộc non hoặc ở gốc rễ thì cách sử dụng đúng là phun chủ yếu vào nơi có dịch
hại. Riêng thuốc trừ cỏ càng phải thận trọng sử dụng đúng cách để không chỉ hạn
chế tác hại của cỏ dại mà còn bảo vệ cây trồng, kể cả diện tích cây trồng gần nơi xử
lý. Cần lưu ý hướng gió và tốc độ gió để thuốc không bay xa vào nơi không cần
thiết. Trong hệ thống các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) ngoài hóa
chất như vệ sinh, thời vụ, chăm bón, thiên địch, giống chống chịu,... sẽ phát huy
hiệu quả cao với sự phối hợp chặt chẽ của biện pháp hóa học trên cơ sở tuân thủ
nguyên tắc "bốn đúng" [4].
1.5. Các quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV
-Nghị định 58 ban hành năm 2002 về “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh về Bảo vệ
và Kiểm dịch thực vật”, trong đó có “Điều lệ Bảo vệ thực vật”.
-
Nghị định số 26/2003/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực Bảo vệ và kiểm dịch thực vật”.
-
Quyết định 145/2003/QĐ-BNN-BVTV về quy định thủ tục thẩm định
sản xuất, gia công, đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán, lưu trữ, tiêu huỷ, nhãn
thuốc, bao bì đúng gói, hội thảo, quảng cáo thuốc BVTV.
-
Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 về việc Ban hành
về quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
-Quyết định 63/2007/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy định về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành theo Quyết định
19
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV: loại thuốc BVTV, người dân trồng chè,
quản lý thuốc BVTV trên địa bàn vùng trồng chè đặc sản Tân Cương
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: 3 xã sản xuất chè Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân
- Về thời gian: từ tháng 09/2014 đến 05/ 2015
2.2. Nội dung nghiên cứu
− Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của vùng chè Tân Cương
− Tình hình trồng chè tại vùng nghiên cứu
− Tình hình sử dụng thuốc BVTV và đánh giá tác động của việc sử dụng thuốc
BVTV tại vùng chè Tân Cương
− Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và hạn chế mặt trái của
thuốc BVTV phù hợp với điều kiện canh tác của vùng chè Tân Cương
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập, kế thừa tài liệu, số liệu
− Thu thập chủ yếu là các tài liệu, dữ liệu, số liệu, một số công trình nghiên
cứu có liên quan đến khu vực nghiên cứu và đề tài nghiên cứu.
− Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn: Đi thực tế để quan sát đánh
giá thực trạng, thu thập những thông tin qua những người dân ở vùng nghiên
cứu và các cán bộ, thu thập những tài liệu thông tin đã có tại nơi nghiên cứu.
− Phương pháp điều tra hộ: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh
hoạt với hộ nông dân, đàm thoại với họ thông qua một loạt các câu hỏi phù
hợp với tình hình thực tế để thu thập các số liệu liên quan đến giống chè
Địa hình:
Vùng trồng chè Tân Cương có dạng địa hình chủ yếu là gò đồi và bát úp thoai
thoải xen kẽ nhau. Độ cao tuyệt đối từ 30m – 100m so với mực nước biển, rải rác có
một số đồi hình tròn, cao khoảng 150m. Phần lớn diện tích có độ dốc nhỏ hơn 80,
đất dốc từ 80- 250 không đáng kể. Phía Tây Bắc và Tây Nam có dãy núi thấp, độ cao
trung bình trên 200m, tuy nhiên chè ở Tân Cương chỉ được trồng ở độ cao < 200m.
Địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc đến Đông Nam. Ranh giới phía Tây Nam được
giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo. Xen lẫn trong vùng gò đồi và vùng núi là những
thung lũng nông được bồi tụ.
22