-1-
MỞ ĐẦU
-2-
doanh; lạm phát tăng cao (năm 2011 là 18,13%); giá vàng trong nước biến động mạnh và
cao hơn cả thế giới; tiền đồng mất giá… từ đó đã đẩy giá các yếu tố đầu vào tăng lên rất
1- Sự cần thiết của đề tài
cao, làm cho các doanh nghiệp trong KCN gặp nhiều khó khăn, thậm chí có rất nhiều
Từ khi thành lập đến nay, các khu công nghiệp và khu chế xuất (sau đây gọi chung
doanh nghiệp đã ngưng hoạt động và giải thể.
là khu công nghiệp [18] – KCN) thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM) đã đạt được những
Từ những đặc điểm tình hình nêu trên, cùng với thành phố đóng vai trò đầu tàu “đi
thành tựu nhất định, biến những vùng đất nông nghiệp nghèo, lạc hậu thành những khu
trước một bước” hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công
sản xuất công nghiệp tập trung năng động, những khu đô thị mới sầm uất, đời sống cư dân
nghiệp theo hướng hiện đại hóa vào năm 2020, việc nhà nước cần phải có chính sách hỗ
ngày càng được cải thiện, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, tạo ra hàng tỉ
công nghiệp không còn nhiều. Đa số các dự án đầu tư có quy mô nhỏ; thâm dụng lao
Tại Việt Nam, đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về khu chế xuất, khu
động; trình độ công nghệ thấp; hiệu quả sử dụng đất công nghiệp chưa cao; nguồn lao
công nghiệp nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về giải pháp hỗ trợ cho các doanh
động giản đơn thiếu nghiêm trọng, phải tuyển lao động từ các tỉnh khác, tạo nhiều áp lực
nghiệp trong các KCN Tp. HCM phát triển, cụ thể:
cho thành phố. Nhưng hiện nay, hầu hết ở các tỉnh đều thành lập các KCN và thu hút lao
- Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hóa,
động tại địa phương đó, nên các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM không còn tuyển
hiện đại hóa của VS.TS. Nguyễn Chơn Trung và PGS.TS. Trương Giang Long (Đồng chủ
được nhiều lao động từ các tỉnh. Hơn nữa, các doanh nghiệp đầu tư vào KCN không còn
biên) (2004), nghiên cứu đã trình bày một số vấn đề về sự hình thành và phát triển các
được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp đầu tư vào các
KCN, KCX; phân tích thực trạng phát triển KCN, KCX ở các tỉnh phía Nam; từ đó đưa ra
dự án công nghệ cao). Từ đó cho thấy, các doanh nghiệp trong KCN đang phải đối mặt
-4-
vừa ngoài quốc doanh trong vùng khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, phát triển một cách bền vững.
nghiệp của tỉnh Long An đến năm 2010 – Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thanh Tú (2005), và
- Giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp da-giày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Phát triển khu công nghiệp của thành phố Cần Thơ đến năm 2020 – Luận án tiến sĩ của
đến năm 2015 – Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Tân (2009), nội dung chủ yếu là tìm
Huỳnh Thanh Nhã (2008), nội dung chủ yếu của các nghiên cứu này là tìm hiểu kinh
hiểu kinh nghiệm phát triển lĩnh vực da – giày của một số nước và địa phương có lĩnh vực
nghiệm phát triển khu công nghiệp; thực trạng phát triển các KCN của tỉnh, thành phố,
da – giày nổi tiếng; đánh giá rõ thực trạng của các doanh nghiệp da – giày trên địa bàn
cũng như định hướng phát triển trong tương lai; từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển
tỉnh Đồng Nai; từ đó xây dựng các giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp da – giày
KCN của tỉnh, thành phố.
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong Khu công nghiệp tình hình tuyển dụng lao
policies and regional development in the age of globalisation - Eastern and Western
hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM phát triển. Tuy nhiên, các công trình
approaches and their differences) – Bài báo của MITSUI Itsutomo (Đại học Quốc gia
khoa học kể trên là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn,
Yokohama) (2003) đăng trên 30th ISBC in Singapore [ />
giúp tác giả rất nhiều trong quá trình nghiên cứu.
MTI/Regional03.pdf]. Bài viết đã nghiên cứu, so sánh sự phát triển của chính sách dựa trên
Luận án sẽ làm rõ cơ sở khoa học về một số tiêu chí đánh giá sự phát triển của các
ý tưởng của mô hình cụm công nghiệp với những ảnh hưởng của chúng đến nền kinh tế khu
doanh nghiệp trong KCN, thông qua đó phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp KCN
vực và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong một số khu vực ở Nhật, Châu Âu.
Tp. HCM và các chính sách, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp KCN từ đó xây dựng một số
2.2- Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiếp cận trên phương diện phát triển
doanh nghiệp có liên quan đến đề tài
- Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc
doanh vùng đồng bằng sông Cửu Long – Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thiện Phong (2007),
nội dung nghiên cứu chủ yếu là phân tích thực trạng các loại hình doanh nghiệp nhỏ và
vừa ngoài quốc doanh vùng đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thiện các chính sách tài
Nguồn dữ liệu: đề tài sử dụng nguồn đa dữ liệu
+ Về thời gian: thời gian khảo sát và thu thập số liệu từ năm 2002 đến năm 2011.
- Dữ liệu thứ cấp: các thông tin được thu thập từ báo cáo của Ban quản lý HEPZA
6- Điểm mới và đóng góp của luận án:
qua các năm (từ năm 2002 đến năm 2011), Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ
sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet và các thông tin từ các nghiên cứu có liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp: các thông tin được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát các
doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM.
4.2- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp phân tích định tính
và định lượng.
- Phương pháp định tính:
+ Luận án sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn dựa trên những
quy luật phát triển khách quan về kinh tế - xã hội, cùng với những quan điểm, chính sách
của Nhà nước để hệ thống hoá và phát triển cơ sở lý luận, xác định một số chỉ tiêu đánh
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các doanh
nghiệp trong KCN Tp. HCM. Những yếu tố này có thể làm cơ sở nghiên cứu cho những
đề tài có liên quan đến KCN, hay doanh nghiệp trong KCN nói chung.
- Luận án đã đóng góp vào thực tiễn cho việc phát triển các doanh nghiệp trong
KCN Tp. HCM thông qua đề xuất một số giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong
KCN Tp. HCM phát triển đến năm 2020 phù hợp với yêu cầu và tình hình hiện nay.
7- Khung nghiên cứu của luận án
Một số chỉ tiêu đánh
giá thực trạng phát triển
của DN
Thuận lợi
Đánh giá chung về
kết quả đạt được
của các chính sách
hỗ trợ
Khó khăn
Dữ liệu sơ cấp
Những yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến
sự phát triển của DN
trong KCN Tp.
HCM
Thông qua
bảng câu hỏi
khảo sát các
DN trong
KCN Tp.
HCM
lệ) trong các KCN Tp. HCM, dùng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu (phân tích nhân tố,
phân tích Cronbach alpha, và phân tích hồi quy) để tìm những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
đến sự phát triển của các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HỖ TRỢ CHO CÁC DN TRONG CÁC KCN TP. HCM PHÁT TRIỂN
1.1.1- Khái niệm về khu công nghiệp và doanh nghiệp trong khu công nghiệp
1.1.1.1- Khái niệm về khu công nghiệp
Theo khoản 20 và 21 Điều 3 của luật Đầu tư ngày 29/11/2005 (có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2006) và theo khoản 1 và 2 Điều 2 của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của
Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế (ngày 14/3/2008) thì:
- Khu công nghiệp (KCN) là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều
kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
- Khu chế xuất (KCX) là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định,
được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định
tại Nghị định này.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp (KCN), trừ
trường hợp quy định cụ thể [18].
Trong luận án này, tác giả thống nhất từ dùng chung là “khu công nghiệp” nhằm
đề cập đối tượng nghiên cứu là doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và khu chế xuất.
1.1.1.2- Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp trong KCN
Doanh nghiệp trong KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong
KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Như vậy, các doanh nghiệp
trong KCN có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
- Các doanh nghiệp trong từng KCN có thể hoạt động đầu tư cùng một số ngành
nghề theo quy hoạch ngành nghề đầu tư cho mỗi KCN do Chính phủ quy định.
-9-
- Cơ quan quản lý nhà nước các doanh nghiệp trong KCN là Ban quản lý KCN
thêm về quy mô sản lượng của nền kinh tế và cả đến sự tiến bộ xã hội. Phát triển là quy
phát triển là để phục vụ con người, lấy con người làm trung tâm.
Nếu đề cập đến khái niệm phát triển chỉ bằng một định nghĩa thì rất khó có thể
diễn đạt hết ý nghĩa, ta có thể diễn giải khái niệm về phát triển cụ thể như sau:
Sự phát triển bao gồm cả sự tăng lên về lượng (tăng trưởng), sự biến đổi cơ cấu,
trình độ kinh tế và của đời sống xã hội;
công cộng như Trạm y tế, Đội vệ sinh cây xanh, Trung tâm hoạt động công nhân, xe chở
Sự phát triển là quá trình tiến hoá theo thời gian, do các nhân tố nội tại quyết định;
rác, Trạm xử lý nước thải, hệ thống chiếu sáng toàn khu…
Kết quả phát triển là một quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu đề ra là để
1.1.2- Khái niệm về phát triển:
Theo quan điểm siêu hình1: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng,
không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục,
không trải qua những bước quanh co phức tạp. Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát
triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa
tiếp cận tới các kết quả đó;
Con người chính là trung tâm của sự phát triển. Con người vừa là động lực vừa là
đối tượng của quá trình phát triển;
Phát triển phải gắn với sự bền vững, do đó phải bao gồm các yếu tố hoà bình, độc
lập, ổn định chính trị, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật. Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có
Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện
- 11 -
- 12 -
1.1.3- Quan điểm về phát triển KCN Việt Nam:
dân cư trong vùng có KCN; hoạt động KCN luôn gắn liền với các phương án bảo vệ môi
Phát triển là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế-
trường, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường.
xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước như Nghị
1.1.4- Quan điểm về phát triển doanh nghiệp trong các KCN
quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính
Theo tác giả, phát triển các doanh nghiệp nói chung và phát triển các doanh nghiệp
phủ đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển. Mục tiêu phát triển đất nước chỉ có
trong KCN nói riêng là quá trình hoàn thiện về mọi mặt của doanh nghiệp bao gồm: vốn,
thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược phát triển trong từng ngành, từng lĩnh
lao động, công nghệ, thị trường, nguồn nguyên liệu, văn hoá, môi trường, xã hội… trong
thị trường; tận dụng những cơ hội, khắc phục những thách thức…
- Về phía cơ quan quản lý nhà nước, để các doanh nghiệp trong KCN hoạt động
nâng cao chất lượng môi trường sống, cũng như những yêu cầu về ổn định xã hội, an
ninh quốc phòng trong khu vực có KCN cũng như toàn lãnh thổ quốc gia”.
sản xuất-kinh doanh thuận lợi và phát triển thì cần tập trung vào các mặt sau: chú trọng
Theo quan điểm trên, phát triển KCN Việt Nam phải được xem xét trên hai góc độ:
tạo môi trường đầu tư cho các doanh nghiệp phát triển; hỗ trợ doanh nghiệp, tháo gỡ
- Duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động của bản thân KCN. Điều
những khó khăn; chính sách thu hút đầu tư; tạo cơ hội phát triển cho doanh nghiệp…
này thể hiện: một là, bảo đảm các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất
Điều này rất có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong các KCN Việt Nam nói chung và
kinh doanh của KCN; hai là, nâng cao khả năng cạnh tranh của các KCN Việt Nam, (tính
doanh nghiệp trong các KCN Tp. HCM nói riêng.
chất vượt trong quan hệ so sánh) với các đối thủ cạnh tranh khác có cùng tiêu chí so sánh;
1.2- Vai trò của doanh nghiệp trong KCN đối với phát triển kinh tế-xã hội
ba là, bảo đảm chất lượng môi trường trong nội bộ KCN.
- 13 -
1.2.1- Các doanh nghiệp đã đóng góp một lượng vốn đầu tư lớn, từ nhiều nguồn
để phát triển kinh tế: Từ thực tiễn cho thấy, nhân tố hàng đầu, nếu không nói là quan
- 14 -
thống nhất, là nơi cơ chế “một cửa, tại chỗ” được thực thi rõ ràng nhất. Đây chính là
những lợi thế chủ yếu để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào KCN.
trọng nhất đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước cũng
1.2.2- Doanh nghiệp trong các KCN đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ
như đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phải có vốn lớn. Muốn
quốc gia, đầu tư những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
cho sự nghiệp CNH-HĐH được tiến hành với tốc độ nhanh, cần phải có cơ chế, chính
hướng CNH-HĐH:
sách và biện pháp huy động được nguồn vốn nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu
Cùng với dòng vốn của doanh nghiệp FDI trong các KCN đầu tư vào các dự án sản
quả nhất. Doanh nghiệp trong các KCN trong những năm qua đã đầu tư được một lượng
gian này còn rất hạn chế. Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khu vực trong nước mới được
Doanh nghiệp trong KCN đa số thuộc doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công
chú trọng, dòng vốn đầu tư trong nước vào các KCN tăng đáng kể, số dự án trong nước
nghiệp. Về mặt lượng, đã góp phần nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng GDP
trong các KCN trong những năm gần đây đã lớn hơn so với khu vực có vốn đầu tư nước
của các ngành kinh tế tạo ra trên cả nước, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp do các
ngoài. Đến tháng 12/2011, các KCN cả nước đã thu hút 5.064 dự án đầu tư trong nước với
doanh nghiệp KCN tạo ra luôn tăng qua các năm, từ 13% năm 2000 lên 26,4% năm 2004,
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 390.000 tỷ đồng.
năm 2005 đạt 28% và năm 2010 đạt 31% [35]. Nhưng quan trọng hơn, về mặt chất, doanh
Hai là là huy động vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong điều kiện nền
nghiệp trong các KCN có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản xuất xe
kinh tế tích luỹ nội bộ còn thấp thì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan
hơi, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, điện tử, vật liệu xây dựng… Mặc dù số
trọng. KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của các doanh nghiệp có vốn
2
Cầm Văn Kình (2012), Lượng nhiều chất chưa tương xứng, [ />
nhieu-chat-chua-tuong-xung.ttm, ngày 18/02/2012]
- 15 -
- 16 -
Các doanh nghiệp trong KCN đã góp phần nâng cao tỷ trọng các ngành dịch vụ
phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài
công nghiệp như dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông,
chính, tổ chức nhân sự… Đội ngũ lao động này, khi chuyển đi làm việc tại các doanh
logistic… Đây là những dịch vụ có chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế và có giá trị gia tăng
nghiệp Việt Nam, hoặc tự mình khởi sự doanh nghiệp sẽ có thể áp dụng phương thức
khá, đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
Tóm lại, doanh nghiệp trong KCN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
quản lý tiên tiến đã tiếp thu được vào hoạt động của doanh nghiệp mình. Từ đó sẽ vừa
nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp, vừa truyền đạt những kiến thức quản lý cho người
hướng CNH-HĐH cả về mặt chất và lượng. Mặc dù vẫn còn sự bất lợp lý trong cơ cấu
nên. Theo điều tra thì hiện có khoảng 40% số lao động làm việc trong các doanh nghiệp
kinh tế thị trường và có khả năng nắm bắt những kỹ thuật mới để sử dụng vào sản xuất
KCN là những người nghèo đến từ nhiều địa phương. Tỷ lệ này cho thấy số thoát nghèo
kinh doanh. Nhưng, với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH thì chất lượng của người lao
trực tiếp nhờ KCN là gần 250.000 người, nếu tính thêm số lao động gián tiếp và những
động Việt Nam còn thấp đáp ứng được yêu cầu.
nhân khẩu ăn theo thì con số thoát nghèo lên tới nửa triệu người [35]. Như vậy, việc mở
Việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào KCN để tạo ra nhiều việc làm là một trong
rộng thu hút đầu tư doanh nghiệp vào KCN không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm,
những mục tiêu quan trọng của nước ta. Mặc dù việc thu hút nguồn nhân lực vào các doanh
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà còn góp phần đáng kể vào việc thực hiện xoá đói
nghiệp FDI trong KCN chưa phải là lớn, hiện có hơn 1,76 triệu người làm việc2, nhưng
giảm nghèo, tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động ở nước ta.
điều quan trọng là số lao động này được tiếp cận với công nghệ hiện đại, được trực tiếp làm
việc trong một môi trường làm việc có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được
1.2.4- Đóng góp đáng kể vào giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập
Trong những năm qua, doanh thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp
các doanh nghiệp đã góp phần tạo nguồn hàng để giải quyết nhu cầu thị trường trong
trong KCN liên tục tăng nhanh và đều qua các năm. Doanh thu trung bình của các doanh
nước, giảm bớt việc nhập khẩu hàng hoá để phục vụ sản xuất.
nghiệp trong KCN tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3 lần tốc độ tăng trưởng
Tóm lại, vai trò của các doanh nghiệp trong KCN kể cả trong và ngoài nước thể hiện ở
GDP của cả nước. Năm 1998, doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN đạt gần 1,5 tỷ
chỗ, các doanh nghiệp góp phần cân đối cán cân thương mại theo hướng gia tăng xuất khẩu
USD; sang năm 2003 doanh thu đã tăn lên gần 7,3 tỷ USD, gấp 4,8 lần so với năm 1998;
và giảm bớt nhập khẩu những mặt hàng trong nước có thể xuất khẩu được. Hiệu quả hoạt
đến măm 2005 con số này đã tăng lên 14 tỷ USD, gấp gần 2 lần so với năm 2003; và đến
động của các doanh nghiệp trong KCN đã đóng góp nhất định vào nguồn ngân sách Nhà
năm 2010 doanh thu đạt gần 20,3 tỷ USD, tăng hơn 1,4 lần so với năm 2005.
nước. Năm 2005, các doanh nghiệp trong KCN nộp ngân sách hơn 650 triệu USD, gấp 3,6
lần so với năm 2001; năm 2010 nộp 1,4 tỷ USD gấp 2,2 lần so với năm 2005 [35].
Phần lớn các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là doanh nghiệp FDI sản xuất
Aucoin (1971), chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành3.
hàng công nghiệp chủ yếu để xuất khẩu. Năm 2010 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của các
Kraft và Furlong (2004) đã đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn. Chính sách công
doanh nghiệp trong KCN đạt hơn 6 tỷ USD, gấp 1,5 lần so với năm 2005 và chiếm 23%
là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề
trong tổng giá trị xuất khẩu cả nước, riêng đối với giá trị hàng công nghiệp xuất khẩu,
công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận
chiếm 35% [35]. Tuy nhiên, nhận thức vai trò của các doanh nghiệp FDI trong KCN đối
một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực
với xuất khẩu sẽ là thiếu sót nếu không kể tới vai trò của các doanh nghiệp trong nước,
hiện những chương trình3.
Khi có một vấn đề kinh tế-xã hội nào đó xuất hiện, Chính quyền sẽ lựa chọn nội
mặc dù đóng góp của các doanh nghiệp này vào kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé, nhưng
dung, mục tiêu và cách thức hỗ trợ, giải quyết vấn đề đó. Sự lựa chọn đưa đến quyết định
3
kỹ thuật; hỗ trợ xúc tiến mở rộng thị trường, cung cấp thông tin và tư vấn; trợ giúp về
của doanh nghiệp. Nó bao gồm hệ thống các quan điểm chính sách của chính phủ, hệ
phát triển nguồn nhân lực; công tác quy hoạch KCN tạo quỹ đất và quy hoạch ngành nghề
thống pháp luật hiện hành; các xu hướng ngoại giao của chính phủ; những diễn biến chính
đầu tư.
trị trong nước, khu vực và thế giới.
1.3.2- Hỗ trợ từ Ban quản lý KCN tỉnh/thành phố:
Cơ chế chính sách vĩ mô thực sự có tác động mạnh mẽ đến xu hướng vận động
Sự hỗ trợ có thể từ phía Chính phủ bao gồm các chính sách phát triển kinh tế-xã
tổng quát của việc khuyến khích hay hạn chế thu hút đầu tư từ nhà đầu tư trong và ngoài
hội chung của nhà nước; ngoài ra còn có từ phía địa phương cụ thể là Ban quản lý các
nước vào một quốc gia hay một địa phương cụ thể, đến sự phát triển của các doanh
KCN tỉnh/thành phố.
nghiệp. Sự khuyến khích hay không khuyến khích, điều chỉnh tăng hay giảm, thậm chí
Ban quản lý KCN tỉnh/thành phố dựa trên văn bản hướng dẫn thực hiện các quy
tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp KCN,
yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực [5].
xây dựng cơ sở hạ tầng KCN hoàn thiện.
Ban quản lý hàng năm báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh-thành phố và các Bộ về tình
hình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và các vấn đề giải quyết cho doanh nghiệp. Phối hợp
với các Sở, Ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức có liên quan để thực hiện hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp trong KCN theo quy định hiện hành.
a/ Tình trạng của nền kinh tế: bất cứ nền kinh tế nào cũng đều có tính chu kỳ.
Trong mỗi giai đoạn nhất định của nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù
hợp cho riêng mình.
b/ Triển vọng kinh tế trong tương lai: được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hay thu nhập bình
quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về
- 21 -
- 22 -
lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương
tăng chi phí vốn vay ngân hàng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân
đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống
hàng phải có tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn và kết quả là số dự án đầu tư có thể thực hiện với
lợi ích của các bên.
lệ lạm phát có nghĩa là tỷ lệ tăng của mức giá cả nói chung trong nền kinh tế theo thời
1.4.1.3- Lao động và nguồn nhân lực
gian. Một trong những thước đo phổ biến nhất về sự gia tăng mức giá cả nói chung đó là
Độ lớn dân số và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát
chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ảnh giá cả của một rổ hàng
triển kinh tế, tuy nhiên mối quan hệ giữa tốc độ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế tương
hóa chọn lựa qua các năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong một năm
đối phức tạp và còn nhiều tranh cãi. Lao động là một yếu tố sản xuất trực tiếp trong quá
được chọn là năm gốc. Như vậy, chỉ số giá tiêu dùng không hoàn toàn phản ảnh chính xác
trình sản xuất. Todaro (1992) đã nói rằng: “Tăng trưởng dân số thường được xem là một
mức độ lạm phát do chỉ số này chỉ phản ảnh sự gia tăng trong giá cả các hàng hóa tiêu
nhân tố tích cực trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế. Một lực lượng lao động dồi dào
dùng trong khi lạm phát không những chỉ phản ảnh sự thay đổi giá cả các hàng hóa tiêu
có nghĩa là nguồn nhân lực sản xuất nhiều hơn trong khi đó dân số đông làm gia tăng tiềm
một vấn đề còn đang tranh cãi thì việc gia tăng, cải thiện chất lượng lao động hay nguồn
doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế4.
nhân lực có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế đã được sự đồng thuận của nhiều nhà
- Lãi suất và chính sách lãi suất: là một trong những sách lược kinh tế vĩ mô quan
kinh tế. Nguồn nhân lực có nghĩa là kỹ năng, kiến thức mà người lao động tích lũy được
trọng của mỗi quốc gia. Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ
trong quá trình lao động, học hỏi, nghiên cứu, giáo dục… Theodore Schultz là người đầu
tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Sự gia tăng lãi suất làm
tiên nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế. Ông
4
Lê Nguyễn Hải Đăng (2004), Lạm phát cao và những tác động đến đời sống kinh tế, [ />
hoi/Lam-phat-cao-va-nhung-tac-dong-den-doi-song-kinh-te/45114006/124/, ngày 09/12/2004]
- 23 -
- 24 -
trích dẫn lời của Alfred Marshall: “Kiến thức là động cơ sản xuất mạnh nhất, nó cho phép
Villanueva (1990) cũng đã khẳng định vai trò tích cực của nguồn nhân lực trong nghiên
thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp trong khu vực
cứu thực tiễn của mình [58].
Một vấn đề khác cũng ảnh hưởng không kém đến sự phát triển của doanh nghiệp nói
chung có liên quan đến lao động đó Xu hướng nhân khẩu học. Tác nhân này biểu hiện cả ở
đó. Chính vì vậy tiến bộ của khoa học công nghệ vừa là động lực vừa là thách thức cho
việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước nói chung và nhất là các nước
kinh tế đang phát triển [39].
hai khía cạnh cung và cầu nguồn nhân lực. Ở khía cạnh cung, xu hướng biến động dân số sẽ
Tiến bộ khoa học công nghệ với sự xuất hiện của những công cụ lao động hiện đại
quyết định xu hướng biến động của quy mô lực lượng lao động xã hội. Còn xu hướng biến
đã làm cho trọng tâm đầu tư chuyển hướng về các ngành nghề có kỹ thuật công nghệ mới,
động cầu sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới quy mô và cơ cấu nhu cầu thị trường [39].
có trình độ kỹ thuật cao. Nhất là trong điều kiện hiện nay sự phát triển của khoa học công
1.4.1.4- Các nguồn lực tự nhiên
nghệ đã tìm ra nhiều đối tượng lao động mới làm cho các ngành nghề truyền thống có xu
Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: “Lao động là cha của của cải,
cái mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi thế tuyệt đối” trong phân công lao động của các nền
1.4.2- Tác động của môi trường vi mô
kinh tế. Song, để thu hút đầu tư và sự phát triển cho doanh nghiệp trong quá trình CNH-
1.4.2.1- Cơ sở hạ tầng khu công nghiệp
HĐH thì cần phải có những chính sách, định hướng, quy hoạch sao cho đúng, phù hợp với
đặc điểm, tình hình của từng khu vực trong từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo sự thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trong các KCN nói riêng
đó là yếu tố về cơ sở hạ tầng. Đối với các doanh nghiệp KCN, yếu tố này có ý nghĩa đặc
- 25 -
- 26 -
biệt. Khi nói đến cơ sở hạ tầng trong các KCN là xét đến yếu tố vị trí đặt KCN; quy mô
được cung cấp những tài nguyên khác nhau như nguyên vật liệu, thiết bị, nhân công, vốn…
đất trong KCN; tỷ lệ lắp đầy KCN; đất đai phục vụ công nghiệp đã được đền bù giải toả,
Nguồn cung cấp tại mỗi vùng, khu vực có thể gây ra áp lực mạnh trong hoạt động của các
sẵn sàng cho đầu tư; hệ thống xử lý nước thải công nghiệp; điện nước, điện thoại,
tranh của các doanh nghiệp trong KCN Tp.HCM là các doanh nghiệp trong KCN thuộc
Do đó, khi đầu tư xây dựng nhà xưởng, các nhà đầu tư luôn phải cân nhắc, xem xét đến
các tỉnh, thành phố khác tại Việt Nam.
yếu tố này để tạo sự thuận lợi về nguồn nguyên liệu sẵn có và tránh được những rủi ro
Xét trên phạm vi vùng, khu vực, các tổ chức cạnh tranh xác định bản chất và mức
độ cạnh tranh trong kinh doanh hay dùng những thủ đoạn để giữ vững vị trí. Cường độ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau này.
• Cộng đồng tài chính:
của sự cạnh tranh này có thể dựa trên cơ sở tương tác những yếu tố như vậy khi các tổ
Trong những thời điểm nhất định, phần lớn các doanh nghiệp, kể cả các doanh
chức có tốc độ tăng trưởng công nghiệp, cơ cấu chi phí cố định, mức độ đa dạng hóa sản
nghiệp làm ăn có lãi đều phải vay vốn tạm thời từ hệ thống ngân hàng, các tổ chức tài
phẩm, nguồn lao động dồi dào và lao động có trình độ và tay nghề cao. Sự hiện diện của
chính (gọi chung là cộng đồng tài chính). Nguồn vốn này có thể nhận được bằng cách vay
những yếu tố này có khuynh hướng dẫn đến thay đổi trong cơ cấu ngành nghề tại vùng,
ngắn hạn hoặc dài hạn. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất,
vực lân cận. Nếu có sự khác biệt về chính sách ưu đãi đầu tư giữa trong và ngoài KCN
1.4.2.3- Nguồn cung cấp
hoặc những chính sách tác động làm thay đổi quyết định đầu tư của các doanh nghiệp thì
Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp không thể
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của doanh nghiệp trong KCN nói chung.
bỏ qua nhân tố này. Vì các doanh nghiệp bao giờ cũng phải liên kết với các nhà cung cấp để
- 27 -
1.5- Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp
- 28 -
Những nhà đầu tư nước ngoài cùng với những nhà đầu tư trong nước sẽ đầu tư vào
Các chỉ tiêu đánh giá thực sự triển của các doanh nghiệp trong KCN chủ yếu bao
những lĩnh vực kinh doanh cụ thể nào lại một lần nữa phụ thuộc phần lớn vào các chính
gồm nguồn vốn đầu tư, nguồn lực lao động, trình độ công nghệ trong doanh nghiệp, kết
sách kinh tế của nhà nước. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách của nhà nước trực tiếp đầu tư
quả hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác quản lý trong doanh nghiệp.
- Chất lượng nguồn nhân lực: Ngoài các tố chất về sức khỏe, về phẩm chất và
được minh chứng bởi tỷ trọng cao của những lĩnh vực như thương mại bán lẻ quy mô nhỏ
đạo đức, chất lượng lao động còn thể hiện ở trình độ tay nghề, kỹ năng lao động và kiến
(tiểu thương), các ngành công nghiệp dệt may, giày dép, đồ chơi, công nghiệp lắp ráp
thức (bao gồm cả kiến thức chuyên môn và những kiến thức xã hội cần thiết khác). Vì
điện tử, sơ chế nông sản, cung cấp dịch vụ dân sinh thường nhật… trong giai đoạn đầu
vậy, đối với nguồn nhân lực, chất lượng lao động là yếu tố quan trọng nhất đối với
của quá trình công nghiệp hóa của nhiều nền kinh tế mới [39].
những ngành, những lĩnh vực đòi hỏi lao động qua đào tạo, tay nghề cao như lĩnh vực
Tuy nhiên, tác động của nhân tố vốn đến sự hình thành cơ cấu kinh tế của những nền
sản xuất công nghiệp cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, điện tử, hóa dược… Về phần
kinh tế đang công nghiệp hóa trong thời đại ngày nay lại không chỉ đơn giản như vậy. Sự tác
mình, chất lượng nguồn nhân lực lại là sản phẩm của quá trình giáo dục và đào tạo. Cho
động của toàn cầu hóa và tính chất, mức độ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, trước hết
nên, đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư trực tiếp cho sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế-xã
- 29 -
- 30 -
Tiến bộ công nghệ rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp vì nó làm
11.000 dự án đầu tư, trong đó Cục Phát triển công nghiệp (IDB) trực tiếp quản lý 54 KCN
tăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất. Vì thế, phát triển bền vững chỉ có thể thực
có vai trò quan trọng tới việc phát triển các vùng trong lãnh thổ. Ngoài ra có 23 KCN
hiện được thông qua việc thay đổi công nghệ; và thay đổi công nghệ làm nâng cao năng
đang trong quá trình xây dựng với tổng diện tích 18,414 ha và 18 KCN khác đã được quy
suất lao động, giảm chi phí sản xuất và giảm giá thành sản phẩm. Từ đó góp phần ảnh
hoạch với tổng diện tích gần 4.400 ha.
hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp nói chung [15].
Hơn 4 thập kỷ qua, phát triển công nghiệp luôn là động lực cho phát triển kinh tế của
1.5.4- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đài Loan, trong đó các KCN giữ một vị trí quan trọng. Những chính sách thông thoáng, tạo
1.5.5- Công tác quản lý trong doanh nghiệp
cấp nước. Với các đặc tính mới, các công viên công nghiệp sẽ chú trọng hơn công tác bảo vệ
Công tác quản lý cũng như chính sách định hướng hoạt động trong một doanh
môi trường sinh thái, ưu tiên quy hoạch đất cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển
nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
(R&D), các ngành công nghệ cao và các hoạt động giải trí nhằm tạo ra một hình ảnh mới,
Phân tích và đánh giá đúng thực trạng của nhân tố này sẽ giúp cho nhà quản trị nhận ra
chất lượng dịch vụ cao của các công viên công nghiệp.
được vấn đề, làm cơ sở xây dựng các giải pháp phát triển cho doanh nghiệp.
1.6-
Kinh nghiệm hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN phát triển trên
thế giới và ở Việt Nam
Những bài học kinh nghiệm mà tác giả trình bày trong mục này được rút ra từ
những chính sách hỗ trợ của chính phủ hay của địa phương ở một số nước và ở Việt Nam.
1.6.1- Kinh nghiệm hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN phát triển trên thế giới
- Bên cạnh đó, cung cấp cho các doanh nghiệp trong KCN các loại dịch vụ cao cấp
như hỗ trợ về quản lý doanh nghiệp, dịch vụ xúc tiến thương mại, tư vấn pháp lý, phát
triển công nghiệp [47].
cho sự phát triển công nghiệp vùng và hình thành các KCN. Luật này khuyến khích di
vực. Cơ quan NLA có kế hoạch tổng thể sử dụng đất, xác định rõ định hướng áp dụng cho
chuyển các xí nghiệp từ khu vực tập trung công nghiệp quá đông ra các vùng kém phát
các dự án phát triển cả nước và phát triển vùng trong giai đoạn dài (trên 10 năm), đồng
triển, ít có hoạt động công nghiệp; đồng thời đề cập đến các kế hoạch xây dựng nhà máy
thời đưa ra những hướng dẫn về sử dụng đất đai và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng
mới hay mở rộng các nhà máy hiện có, bảo vệ môi trường và ổn định lao động. Để khuyến
như đường xa lộ, xe điện cao tốc và viễn thông. Mỗi loại cơ sở hạ tầng được lập kế hoạch
khích việc di chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp, Chính phủ áp dụng một số biện pháp
theo một hệ thống riêng, do đó vị trí các KCN trong tương lai có thể được dự kiến trước.
như ưu đãi thuế, trợ cấp hoặc cho vay vốn ưu đãi. Căn cứ vào Luật Xúc tiến di chuyển
Bộ Xây dựng (MOC) theo dõi việc sử dụng và phát triển đất đai, xây dựng hạ tầng như
công nghiệp, Chính phủ Nhật Bản đã đề ra Kế hoạch di chuyển công nghiệp với mục tiêu
giao thông, xử lý chất thải công nghiệp. Ngoài ra, bộ Nông nghiệp (MOA) và bộ Vận tải
thu hẹp 20% diện tích các cơ sở công nghiệp trong các khu IRE từ năm 1985 đến năm
trong trường hợp phát triển các KCN công nghệ cao. Chính quyền địa phương có nhiệm
khoa học kỹ thuật cơ bản cho các doanh nghiệp trong vùng. Khu dân cư được quy hoạch
vụ hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các KCN và cung cấp các dịch vụ cần thiết
xây dựng đồng bộ và hiện đại để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các nhà quản
cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN. Để khuyến khích việc đặt các KCN trong
lý, kỹ sư, các nhà nghiên cứu và gia đình họ5.
vùng mình, các cơ quan địa phương còn áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư như trợ cấp
Luật Thúc đẩy các dự án đặc biệt để phát triển công nghiệp tiên tiến của vùng được
vốn, miễn, giảm thuế… cho các doanh nghiệp6.
ban hành năm 1988 nhằm di chuyển các cơ sở sản xuất và hình thành những trung tâm
Thứ ba, cơ chế hỗ trợ phát triển KCN
phát triển công nghiệp nòng cốt trong khu vực5.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển hệ thống cơ sở hạ
Thứ hai, quy hoạch phát triển các KCN
tầng, tạo môi trường thuận tiện cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động sản xuất công
- 33 -
- 34 -
vốn kinh doanh từ nguồn ngân sách trung ương và địa phương; tạo điều kiện vay vốn ưu
nằm lân cận đường quốc lộ 1 và quốc lộ 51 là các tuyến giao thông huyết mạch, rất thuận
đãi của các tổ chức thuộc Chính phủ… Các biện pháp về thuế được áp dụng khác nhau
lợi cho việc cung cấp điện, nước, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và nguồn nhân
cho từng doanh nghiệp trong các KCN theo các luật về phát triển vùng lien quan. Một số
lực… Trong 5 năm 2006 - 2010, Đồng Nai đã phát triển thêm 11 khu công nghiệp, nâng
biện pháp hỗ trợ được áp dụng cho các vùng chỉ định như:
tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh lên 30 khu với diện tích 9.573
- Miễn thuế doanh nghiệp và thuế tài sản cố định trong vòng 3 năm;
ha. Về phát triển các cụm công nghiệp, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 43 cụm công
- Miễn thuế mua bất động sản;
nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2.143 ha trong đó có 2 cụm công nghiệp đã
- Áp dụng chế độ thuế đặc biệt về sở hữu đất đai và khấu hao đặc biệt (16% các
2002 là “hình thành các cụm công nghiệp để tạo ra các ngành công nghiệp ở địa phương
mới và việc làm”. Ngân sách cấp cho phát triển cụm công nghiệp là 29,4 tỷ yên (sau đó
nước về phát triển KCN, cần rút ra một số kinh nghiệm sau7:
tăng lên 52,2 tỷ yên). Ngành công nghiệp mục tiêu chủ yếu là công nghệ sinh học, công
Một là, Ban quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai đã vận dụng tốt và linh hoạt các
nghệ thông tin, điện tử, năng lượng mới, tái chế, hoạt động R&D… Dự kiến có 3.000
chính sách pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam theo hướng công khai, minh
doanh nghiệp vửa và nhỏ tham gia. Kết quả là một số doanh nghiệp vửa và nhỏ ở
bạch, ngày càng thuận lợi, tạo sự yên tâm, tin tưởng của nhà đầu tư vào môi trường đầu tư
Hokkaido, Okinawa và Kansai đã khá thành công để tận dụng lợi thế của cụm công
của tỉnh Đồng Nai. Chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp trong KCN là một yếu tố
nghiệp địa phương, các chính sách hoặc phát triển mối liên kết riêng với các công ty hay
hấp dẫn các nhà đầu tư đến với KCN.
tổ chức khác để khai thác mới. Yếu tố địa lý, văn hóa, thể chế cũng như tích lũy kinh
Hai là, chính quyền địa phương luôn luôn thực hiện phương châm “Đồng hành
trong-diem-phia-nam/2472-phat-trien-cac-khu-cong-nghiep-tai-tinh-dong-nai.html, ngày 06/12/2011]
- 35 -
Ba là, tỉnh Đồng Nai đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của các doanh nghiệp
trong KCN của tỉnh nhà thể hiện việc tập trung xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
KCN hoàn thiện, chất lượng tốt. Hạ tầng ngoài KCN cũng được chính quyền quan tâm xây
dựng đồng bộ với hạ tầng trong KCN để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của các nhà đầu tư.
- 36 -
đầu tư rất lớn nhưng tỷ lệ lấp đầy lại rất thấp, từ đó dẫn đến hiện tượng “chôn vốn” đầu tư
vào kết cấu hạ tầng, hiệu quả vốn đầu tư toàn nền kinh tế bị giảm sút.
Các KCN còn khá bất cập về CCNN, về đầu tư chiều sâu. Hiện thiếu hẳn các KCN
chuyên ngành, do đó không hình thành được KCN mũi nhọn – động lực trong việc phát
Bốn là, công tác tiếp thị, mời gọi đầu tư cũng được chú trọng qua việc tỉnh Đồng
triển các mặt hàng có tính chất cạnh tranh cao trên thị trường khu vực và thế giới. Tính phổ
Nai đã lập các đoàn công tác đi xúc tiến đầu tư tại nhiều nước có nền kinh tế phát triển
quát của các KCN đa ngành đã phần nào phá vỡ tính liên kết ngành, thậm chí có cả những
như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật, Hàn Quốc… nhằm quảng bá, kêu gọi các tập đoàn kinh tế
ngành công nghiệp trái hẳn nhau về phương thức sản xuất nhưng lại cùng tồn tại song song.
có tiềm năng đầu tư vào KCN và tỉnh Đồng Nai. Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh Đồng Nai
Xuất phát từ lợi ích và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp trong KCN
ở một số KCN vẫn xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường. Áp lực giải quyết nhu cầu nhà ở,
Việt Nam nói chung, cần thiết phải xây dựng các KCN hoàn chỉnh về hạ tầng cơ sở, quy
dịch vụ vui chơi giải trí, hệ thống an sinh cho người lao động luôn là sức ép to lớn đối với
hoạch ngành nghề đầu tư cho các KCN dựa trên những đặc thù của địa phương, tạo sự
quá trình phát triển bền vững cho các KCN Việt Nam.
liên kết ngành giữa các vùng/khu vực, nhằm tạo được sự thuận lợi cho các doanh nghiệp
Tiếp thu kinh nghiệm từ các KCN thành công ở các nước đều xây dựng KCN công
trong KCN hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển. Tuy nhiên, hiện nay trong quá
nghệ cao theo hướng chuyên môn hóa, tập trung các nhóm ngành tương hỗ lẫn nhau trong
trình xây dựng và phát triển KCN ở Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế, cụ thể là:
chuỗi cung ứng, vận hành như những thành phố công nghiệp khép kín; KCN Amata Việt
Việc đầu tư phát triển các KCN không theo một quy hoạch thống nhất. Thành lập
Nam (Đồng Nai) đã áp dụng và xây dựng KCN theo mô hình đô thị công nghiệp hoàn
các KCN tại các địa phương hầu hết đều mang tính tự phát, hầu như địa phương nào cũng
sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương trong việc đầu tư phát triển các
đối giữa trong và ngoài KCN, giữa nơi doanh nghiệp hoạt động với vùng đô thị lân cận, coi
KCN. Cần tăng cường cơ chế phối hợp và tạo sự liên thông giữa các KCN của địa phương
trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý môi trường.
để hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển theo một quy hoạch chung thống nhất của cả
1.6.3- Bài học kinh nghiệm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong KCN Tp.HCM
phát triển
nước, khắc phục tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong thu hút đầu tư giữa các địa
phương, làm phá vỡ mặt bằng ưu đãi chung và môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến sự phát
Từ những bài học thành công, cũng như những điểm yếu được rút ra từ các KCN
triển bền vững lâu dài của các KCN. Các KCN cần được quy hoạch xây dựng đồng bộ với
thuộc một số khu vực nêu trên, ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm hỗ trợ cho các
các khu thương mại, đô thị, dịch vụ theo mô hình tổ hợp liên hoàn nhằm phục vụ cho hoạt
doanh nghiệp trong các KCN tại Tp. HCM nói riêng và Việt Nam nói chung phát triển.
động sản xuất kinh doanh và sự phát triển của các doanh nghiệp trong KCN là trọng tâm.
Về phía Chính phủ:
việc phân cấp, giao quyền trực tiếp cho các Ban quản lý các KCN của các tỉnh, thành phố
nước ngoài, phát huy lợi thế so sánh của các ngành công nghiệp trong nước để tăng cường
trực thuộc Trung ương nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động của các doanh
khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
nghiệp trong KCN. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Nhà nước cần có chiến lược ưu tiên
Trong Chương 1 đã giải quyết được những vấn đề cơ bản sau đây:
phát triển và tăng cường năng lực thể chế, trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản
- Một là, tìm hiểu các quan điểm về phát triển, phát triển các doanh nghiệp trong
lý các KCN tại địa phương.
Về phía Ban quản lý các KCN cần phải:
- Thực hiện phương châm “Đồng hành cùng doanh nghiệp”, xử lý kịp thời các
KCN và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong KCN phát triển.
- Hai là, làm rõ vai trò của doanh nghiệp trong các KCN có ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế-xã hội.
vướng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Định kỳ tổ chức
- Ba là, tìm hiểu các yếu tố của môi trường bên ngoài tác động đến sự phát triển
cuộc họp tiếp xúc với các doanh nghiệp để lắng nghe và kịp thời tháo gỡ những khó khăn
VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO CÁC DOANH NGHIỆP
phát triển. Trên nền tảng chung ấy, các khía cạnh nổi bật mang tính thời đại hay mang
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP TP. HCM
tính đặc thù của từng khu vực sẽ được phân tích sâu thêm.
- Bốn là, đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá sự phát triển của các doanh nghiệp trong
KCN.
2.1- Tổng quan về các KCN Tp. HCM:
2.1.1- Thành lập các KCN tại Tp. Hồ Chí Minh:
- Cuối cùng, để có thể xây dựng được những giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, đầu tư
trong KCN Tp. HCM phát triển mang tính khả thi và phù hợp với thực tiễn, tác giả đã
nước ngoài vào Việt Nam tăng lên rất nhanh, song hầu hết tập trung vào lĩnh vực dịch vụ
tham khảo và rút ra những bài học kinh nghiệm từ các chính sách hỗ trợ cho các doanh
như khách sạn, nhà làm việc... tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tư nước ngoài
nghiệp trong KCN phát triển ở một số nước và ở Việt Nam.
vào công nghiệp, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp hai khó khăn chính là:
cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai dự án đầu tư phức tạp,
Công văn của Chính phủ số 15/CP-KCN ngày 14/08/1998 và Quyết định của Bộ trưởng
Bộ Tài chính số 45/1999/QĐ-BTC ngày 06/05/1999.
Từ tháng 10/2000, HEPZA được chuyển giao trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành
phố theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 100/QĐ-TTg ngày 17/08/2000 Ban quản
lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về Tổ chức, biên chế, chương trình công tác và kinh phí hoạt
động của Ủy ban nhân Thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ chuyên môn của
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực.
2.1.2.2- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Ban Quản Lý các KCX-KCN Tp.HCM
- Xây dựng Điều lệ quản lý KCN trình UBND TP phê duyệt.
- Tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch chi tiết, tiến độ xây dựng, phát
Hình 2.1: Vị trí thuận lợi của các KCN Tp.HCM
triển KCN bao gồm: xây dựng qui hoạch phát triển công trình kết cấu hạ tầng; qui hoạch bố
trí ngành nghề; tham gia phát triển công trình kết cấu hạ tầng ngoài KCN có liên quan và
Qua hình 2.1 ta có thể thấy được các KCN Tp. HCM được bố trí dọc theo các tuyến
đường kết nối trực tiếp với các trục giao thông chính, gần cảng, gần sân bay và trung tâm
thành phố nên thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
khu dân cư phục vụ cho công nhân lao động tại KCN.
- Đôn đốc, kiểm tra việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong và ngoài
KCN liên quan để đảm bảo việc xây dựng và đưa vào hoạt động đồng bộ theo đúng quy
hoạch và tiến độ được duyệt.
- 43 -
- 44 -
- Hỗ trợ vận động đầu tư vào KCN.
quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội của thành phố và trên cả nước để phát huy vai trò trọng
chính sách và pháp luật hiện hành.
tâm kinh tế của Tp. HCM.
- Cấp, điều chỉnh, thu hồi các loại giấy chứng chỉ theo thẩm quyền hoặc theo uỷ
quyền; cấp, điều chỉnh, thu hồi các loại giấy phép theo uỷ quyền.
- Được mời đại diện tham dự các buổi họp của các cơ quan Chính phủ, UBND
Tp.HCM khi bàn về việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý KCN.
- Báo cáo định kỳ, hàng năm theo quy định của pháp luật về việc hình thành, xây
dựng, phát triển và quản lý KCN về UBND Tp.HCM và các cơ quan Chính phủ có liên quan.
2.1.2.3- Công tác quản lý nhà nước các KCN Tp. HCM:
Về tổ chức, cùng với việc hình thành các KCN, HEPZA cũng được thành lập nhằm
thực hiện chức năng quản lý nhà nước các KCN ở địa phương, là đầu mối liên hệ giữa
nhà đầu tư với KCN. Có thể nói HEPZA là Ban quản lý đầu tiên áp dụng thử nghiệm mô
hình cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ” và đã mang lại hiệu quả tích cực. Với cơ chế quản lý
này, trong thời gian qua, đã tạo điều kiện cho HEPZA tiếp cận với nền kinh tế thị trường và
phương thức quản lý hiện đại tiên tiến. Trong quản lý các KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư hoạt động và thủ tục hành chính nhanh gọn, giải quyết kịp thời các vướng
mắc cho doanh nghiệp; nhiều doanh nghiệp đã đánh giá tốt về cơ chế quản lý này.
Tuy nhiên, còn một số hạn chế, hiệu quả quản lý chưa cao: chưa thống nhất một
đầu mối quản lý, nhiều vi phạm của doanh nghiệp đầu tư vẫn ở mức độ phổ biến như xây
2.2- Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM
Để hiểu rõ thực trạng phát triển của các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM một
cách đầy đủ, cần phải phân tích trên hai góc độ: một là, phân tích thực trạng phát triển của
các doanh nghiệp dựa trên một số tiêu chí đánh giá đã xác định ở Chương 1; hai là, phân
tích tác động của các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài đến sự phát triển của các doanh
Dự án không có khả năng
triển khai
Tỷ trọng vốn đầu tư một số
ngành nghề nổi bật (%)
Tình hình thuê đất
Chỉ tiêu
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Số dự án
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Hoá - dược
Cơ khí
Dịch vụ
Thực phẩm
Dệt may
Điện tử
Tổng diện tích đất đã thuê (ha)
a/ Về đầu tư nước ngoài:
Tính đến 31/12/2011, có 484 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, vốn đầu
tư đăng ký là 4.147 triệu USD. Trong đó, có 443 dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh
(chiếm 91,5%) với tổng vốn đầu tư đạt 2.607,9 triệu USD. Lĩnh vực đầu tư tập trung vào
các ngành cơ khí (19%), may mặc (14%), kho vận (15%), điện tử (8%), thực phẩm (8%).
Về đầu tư theo quốc gia, hiện có trên 30 quốc gia có các doanh nghiệp đầu tư vào
các KCN và KCX Tp. HCM. Trong số đó, quốc gia có số vốn đầu tư hàng đầu là Nhật
Bản, với tổng vốn đầu tư khoảng 764,64 triệu USD, chiếm 29% tổng vốn đăng ký đầu tư
nước ngoài. Tiếp đến là Đài Loan, có số vốn đăng ký 433,27 triệu USD, chiếm 16,5%.
Hong Kong thứ 3, với số vốn đăng ký khoảng 170,27 triệu USD, chiếm 6,4%. Đặc biệt,
doanh, có 7 doanh nghiệp có lãi trong năm, tổng doanh thu đạt trên 1.333,9 triệu USD.
Bên cạnh đó, tỷ lệ giải ngân một số dự án đạt gần gấp đôi so với vốn đầu tư đăng ký ban
đầu, cụ thể như tỷ lệ giải ngân dự án của Công ty Cổ phần ACECOOK Việt Nam (197%)
và Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam (199%). Các dự án này là những dự án
được thành phố ưu tiên phát triển và đang hoạt động rất hiệu quả. (Xem bảng 2.3).
Bảng 2.3: Danh sách 10 doanh nghiệp trong KCN có vốn đầu tư lớn nhất
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
TÊN CÔNG TY
92.975.000
25
58.000.000,00 114.546.998,56
197
70.000.000,00
70.000.000,00
100
37.379.855,31
29.000.000
78
61.380.782,00
65.049.741,00
106
109.789.622,51 126.666.030,88
40.000.000,00 41.132.282,00
115
Xét theo số lượng, các dự án trong nước đang hoạt động tập trung tại các khu: Tân
doanh nghiệp tại các KCN của tỉnh Đồng Nai đến cuối năm 2011 là 13,22 triệu USD; gấp
Tạo (163 doanh nghiệp, 27%), Lê Minh Xuân (131 doanh nghiệp, 22%). Tân Bình (96 doanh
2,33 lần Tp. HCM. Xét về quy mô doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn FDI bình
nghiệp, 16%), Vĩnh Lộc (66 doanh nghiệp, 11%), Hiệp Phước (51 doanh nghiệp, 9%),…
Căn cứ vào tình hình đăng ký đầu tư của các doanh nghiệp trong KCN Tp. HCM
nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm cụ thể như sau:
quân của một doanh nghiệp là 8,57 triệu USD, còn tỉnh Đồng Nai là 16,6 triệu USD; gấp
1,94 lần Tp. HCM.
Bảng 2.4: Vốn đầu tư bình quân cho 1 dự án (doanh nghiệp) trong các KCN tại
• Các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN Tp. HCM phần lớn là doanh nghiệp
sản xuất.
Thực chất chỉ là các phân xưởng sản xuất gia công theo các đơn hàng được đặt
hàng từ các công ty mẹ ở nước sở tại (đối với doanh nghiệp FDI). Còn đối với các doanh
nghiệp trong nước, phần lớn trước đây đầu tư xây dựng các phân xưởng sản xuất trong
các KCN để được hưởng các chính sách ưu đãi hoặc thuộc diện phải di dời vào các KCN
tập trung do tính chất ngành nghề ô nhiễm; còn văn phòng chính để giao dịch, kinh doanh
là ở bên ngoài KCN. Cho nên, cả doanh nghiệp FDI lẫn doanh nghiệp trong nước đầu tư
vào trong các KCN phần lớn tập trung vào hoạt động sản xuất là chủ yếu.
• Một số doanh nghiệp đầu tư nhiều ngành nghề.
Hơn 19% doanh nghiệp trong các KCN đăng ký đầu tư nhiều ngành nghề, như
công ty Đức Bổn (KCX Tân Thuận) đăng ký đầu tư là các ngành may mặc, cơ khí, gỗ;
công ty Furukawa (KCX Tân Thuận) đăng ký đầu tư là các ngành điện tử, cơ khí; công ty
1
Số dự án (có vốn đầu tư trong nước và
nước ngoài)
2
Số dự án FDI
484
720
839
3
Vốn đầu tư (lũy kế) (triệu USD)
6.941
6.573
15.246
4
Vốn FDI (triệu USD)
4.147
• Các doanh nghiệp đầu tư chủ yếu thuộc những ngành thâm dụng lao động
và đang có xu hướng chuyển dịch CCNN theo hướng thâm dụng vốn.
Trong giai đoạn trước 2006, nhìn chung vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào những
ngành thâm dụng lao động như: dệt may, da giày chế biến gỗ, hóa chất, điện-điện tử…
Trong những năm qua, các ngành này luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư tại
các KCN Tp. HCM (xem Bảng 2.5). Điều đó thể hiện có sự chuyển dịch cơ cấu ngành
thâm dụng lao động, giá nhân công cao ở các nước phát triển sang Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào, giá nhân công thấp. Đến nay, CCNN bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng
từ thâm dụng lao động phổ thông sang các ngành nghề sử dụng ít lao động và có trình độ
chuyên môn cao (xem Bảng 2.6) như ngành: điện-điện tử (công nghệ phần mềm, sản xuất
vi mạch, chip điện tử); cơ khí chế tạo máy; dịch vụ…
Qua bảng số liệu (Bảng 2.5), ta có thể nhận thấy có sự chuyển dịch CCNN rõ rệt
theo hướng từ thâm dụng lao động phổ thông sang các ngành thâm dụng vốn qua 2 giai
- 49 -
- 50 -
đoạn trước 2006 và sau 2006. Sự thay đổi này là do tác động ảnh hưởng của Quyết định số
hoặc doanh nghiệp hoạt động trong những ngành gây ô nhiễm môi trường tăng vốn để đầu
188/2004QĐ-TTg ngày 01/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển công
tư công nghệ hiện đại hơn, chuyển đổi ngành nghề hoặc di dời. Cụ thể tại KCN Lê Minh
nghiệp Tp. HCM đến 2010 có tính đến 2020 và cụ thể là Quyết định số 164/2006QĐ-
Xuân đã có 23 doanh nghiệp tăng vốn, bổ sung thêm mục tiêu hoạt động, 10 doanh
có trình độ công nghệ thấp, thâm dụng lao động và gây ô nhiễm môi trường; tập trung thu
hút các dự án có trình độ công nghệ cao, ít gây ô nhiễm môi trường, thuộc lĩnh vực ngành
nghề mũi nhọn theo Quyết định số 188/2004/QĐ-TTg ngày 01/11/2004 của Thủ tướng
Chính Phủ về quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố đến năm 2010 như: Sản xuất
thân van điều khiển trong hộp số tự động xe hơi của Công ty TNHH Nidec Tosok Akiba -
2.2.2.1- Thực trạng về nguồn nhân lực của Tp. HCM
Theo kết quả điều tra lao động và việc làm của Tổng cục Thống kê (đến 12/2010),
lao động Tp. HCM có hai đặc điểm chính cụ thể như sau:
• Số lao động của dân số từ 15 tuổi trở lên không nhiều.
Bảng 2.7: Lực lượng lao động chia theo vùng kinh tế (tính đến 12/2010)
vốn đầu tư 7.000.000 USD; Sản xuất các loại thiết bị cảm biến của Công ty TNHH Shinsei
ĐVT: 1.000 người
Việt Nam – vốn đầu tư 1.000.000 USD; Sản xuất phần mềm tin học của Công ty Cổ phần
Công nghệ Tiên Phong – vốn đầu tư 150.000.000.000 đồng; Sản xuất thuốc viên nén, viên
Khu vực
bao, viên nang cứng, viên nang mềm, thuốc cốm, thuốc bột, viên nén sủi, thuốc cốm sủi,
Toàn quốc
Thành thị
Nông thôn
Trung du và miền núi phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung
Lực lượng lao động
Có làm việc
Thất nghiệp
49.077,4
1.315,5
13.623,7
621,9
35.453,8
693,6
6.793,3
88,0
11.232,7
220,8
10.653,4
290,8
2.893,6
38,0
7.763,4
290,2
9.777,6
351,1
3.477,6
103,7
3.715,2
193,9
Tổng số
50.392,9
14.245,5