BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHAN THỊ TRANG
THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ
LÀM SẠCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHAN THỊ TRANG
THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU DỊCH VỤ
LÀM SẠCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc”
Tác giả khóa luận
(ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)
PHAN THỊ TRANG
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Sinh viên thực tập: PHAN THỊ TRANG MSSV: 33131023196
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp
Hoàng Gia
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ Công Nghiệp
Hoàng Gia
Đề tài nghiên cứu: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu
thầu dịch vụ làm sạch.
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm)..…….
(2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……..
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……………….
Điểm chữ:…………………………………………………
Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận
(Giảng viên hướng dẫn cần ghi rõ việc cho phép hay không cho phép
đưa khóa luận ra khoa chấm điểm)
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người hướng dẫn
GVC – ThS NGUYỄN TRIỀU HOA
(3) Nội dung khóa luận
- Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)……..…..
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)…………………………………………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)………………………………………..………..
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)…………………………………………….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……………………………….…………...…….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………….
Điểm chữ:……………………………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
v
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT
Sinh viên thực tập: PHAN THỊ TRANG MSSV: 33131023196
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
Hệ: VB2CQ
2. Mục tiêu nghiên cứu:..........................................................................................................2
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu.................................................................................2
4. Kết cấu đề tài......................................................................................................................3
vii
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đã và đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá.
Do đó, hoạt động mua sắm, đầu tư diễn ra mạnh mẽ trên mọi miền đất nước.
Để thực hiện nhu cầu đó cần phải có các đơn vị, cá nhân phối hợp thực hiện.
Tuy nhiên với số lượng doanh nghiệp kinh doanh doanh đa ngành nghề và
lĩnh vực như hiện nay (Ước tính năm 2013, tổng số doanh nghiệp đăng ký
thành lập mới là 76955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so với năm 2012 với tổng
vốn đăng ký là 398,7 nghìn tỷ đồng) thì làm cách nào để lựa chọn đơn vị cung
cấp là câu hỏi đặt ra đối với nhiều người. Đấu thầu là một hình thực lựa chọn.
Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn tối thiểu một nhà thầu đáp ứng
các yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp. Trong nền kinh tế thị
trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh
với nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn
các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích
của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù
đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Tuy nhiên
với số lượng doanh nghiệp như đã nói ở trên thì việc cạnh tranh trên thị
trường sẽ hết sức khốc liệt. Bằng mọi giá họ phải giành giật chiếm lĩnh thị
trường của nhau, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến quyền cạnh
tranh của các doanh nghiệp bị bóp méo. “Cuộc chiến ngầm” trên thương
chế được những hành vi đó hay không? Để đảm quyền cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó
đưa ra những đề xuất để việc thực hiện pháp luật về cạnh tranh trong hoạt
động đấu thầu nghiêm chỉnh hơn và đặc biệt là góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh cho Việt Nam trên đấu trường quốc tế.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Để viết bài luận văn này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
đi từ tổng quan về các quy định hiện hành đến thực tế việc áp dụng các quy
định pháp luật đó. Sau đó sử dụng kỹ năng phân tích, bình luận, so sánh, tổng
hợp để hoàn thiện nội dung đã đặt ra.
Để việc nghiên cứu đề tài sâu sắc hơn, tôi chỉ tìm hiểu các quy định
pháp luật liên quan đến việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong hoạt
động đấu thầu dịch vụ làm sạch hiện nay.
2
4. Kết cấu đề tài
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa thực tiễn,
kết cấu đề tài.
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về áp dụng luật cạnh tranh
trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu
dịch vụ làm sạch.
Chương 3: Các giải pháp để đảm bảo áp dụng luật luật cạnh tranh, tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch.
Phần kết luận:
3
lượng mua sắm một lần, khối lượng mua sắm cho một thời kỳ đối với mua
sắm thường xuyên, mua sắm tập trung (khoản 22 Điều 4 Luật đấu thầu 2013).
Hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp
ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà
thầu trong lĩnh vực làm sạch.
4
Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp
pháp của chủ dự án (bên tư vấn đấu thầu) được giao trách nhiệm thực hiện
công việc đấu thầu.
Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu.
Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu có thể là cá nhân. Nhà
thầu là nhà cung cấp dịch vụ làm sạch trong đấu thầu gói thầu dịch vụ làm
sạch. Nhà thầu trong nước là nhà thầu có tư cách pháp nhân Việt Nam và hoạt
động hợp pháp tại Việt Nam.
1.1.2
Đặc trưng hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
Có thể thấy hoạt động đấu thầu trong dịch vụ làm sạch nói riêng và
trong thương mại nói chung có những đặc trưng nổi bật sau:
Thứ nhất, hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch là một hoạt động
thương mại nên nó có những đặc điểm chung với các hoạt động thương mại
khác như: hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch nhằm mục đích sinh lời cho
các đơn vị trúng thầu; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ đấu
thầu được xác định theo những hình thức pháp lý nhất định do pháp luật quy
định.
Thứ hai, đấu thầu dịch vụ làm sạch chỉ được tổ chức khi một bên chủ
cứ pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.
Thứ sáu, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một quá trình gồm nhiều giai
đoạn. Muốn tiến hành hoạt động đấu thầu các bên phải thực hiện qua nhiều
giai đoạn như đăng báo đấu thầu, mời thầu, dự thầu, mở thầu, xét thầu, xếp
hạng và lựa chọn nhà thầu, công bố kết quả đấu thầu, thương thảo và ký kết
hợp đồng. Mỗi giai đoạn của quá trình đấu thầu đều hướng tới mục tiêu khác
nhau nhưng giữa chúng luôn luôn có mối hiên hệ mật thiết, gắn bó.
1.1.3
Mục đích của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch:
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước nhà,
đặc biệt trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao, các tòa nhà, bệnh viện,
trường học, trung tâm thương mại mọc ra ngày càng nhiều. Điều này tạo
thuận lợi kinh doanh trong lĩnh vực làm sạch. Và với công tác làm sạch chủ
yếu dựa vào lao động phổ thông, yêu cầu về kỹ thuật tương đối thấp nên có
rất nhiều doanh nghiệp và cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh lĩnh vực
này. Điều này đồng nghĩa với việc “chiếc bánh ngọt” phải chia sẻ cho rất
6
nhiều nhà cung cấp thì cuộc chiến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ làm sạch diễn ra ngày càng gay gắt. Vì vậy, câu hỏi đặt ra với
các chủ đầu tư (bên mời thầu) là làm thế nào để lựa chọn các tổ chức và cá
nhân có khả năng thực hiện tốt nhất những công việc trong các gói thầu nói
chung và gói thầu dịch vụ làm sạch nói riêng. Lịch sử phát triển và quản lý dự
án trong nước và quốc tế đã khẳng định, đấu thầu là phương pháp mang lại
hiệu quả cao nhất, đảm bảo cho sự thành công của chủ đầu tư. Đấu thầu được
xem như một phương pháp quản lý dự án có hiệu quả nhất hiện nay trên cơ sở
làm sạch cũng như trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2 Khái niệm, mục tiêu của áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động
đấu thầu dịch vụ làm sạch:
1.1.1
Khái niệm áp dụng luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch
vụ làm sạch:
Ở trên tôi đã giới thiệu sơ lược về hoạt động đấu thầu là gì, đặc trưng
và mục tiêu của hoạt động đấu thầu dịch vụ làm sạch, vậy để hiểu rõ hơn về
khái niệm áp dụng Luật cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu dịch vụ làm
sạch, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu một số khái niệm như: cạnh tranh, Luật
cạnh tranh, áp dụng Luật cạnh tranh.
Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện
và tồn tại với tính cách là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị
trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường.
Với cách tiếp cận này, từ điển kinh doanh của Anh năm 1992 đã
định nghĩa: cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch của các nhà kinh doanh
trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng
một loại khách hàng về phía mình. Từ điển Tiếng việt Bách khoa tri thức phổ
thông cũng giải thích cạnh tranh là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng
hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành
các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.1
Hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực làm sạch đó là sự giành giật thị
phần dịch vụ làm sạch giữa các nhà cung cấp dịch vụ làm sạch. Có thể bằng
nhiều phương thức cạnh tranh để họ giành phần thắng trong cuộc chiến khốc
liệt thuộc về mình.
1
đó có pháp luật về cạnh tranh, một trong những lĩnh vực pháp luật không thể
thiếu trong cơ chế thị trường. Luật pháp không tạo ra môi trường cạnh tranh,
mà chính các chủ thể kinh doanh vận dụng luật cạnh tranh vào hoạt động kinh
doanh của mình từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh. Pháp luật có thể làm lành
mạnh hóa môi trường cạnh tranh, ngăn chặn các hành vi cản trở cạnh tranh.
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nước ta không có nền sản
xuất hàng hóa, không có tự do kinh doanh và do đó không có nhu cầu điều
chỉnh của Luật cạnh tranh nên pháp luật cạnh tranh không tồn tại. Nhưng từ
2
Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Giáo Trình Luật Cạnh Tranh, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr.33
9
khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự định hướng Xã hội chủ nghĩa,
theo đúng quy luật tự nhiên, cạnh tranh trong kinh doanh đã xuất hiện và diễn
ra ngày càng gay gắt.
Trên thương trường các chủ thể kinh doanh đã sử dụng nhiều biện pháp
và thủ đoạn cạnh tranh, thậm chí nguy hiểm làm thiệt hại không nhỏ đến lợi
ích công cộng, lợi ích của các nhà kinh doanh chân chính và của người tiêu
dùng. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng trên là do chúng ta còn thiếu một
khuôn khổ pháp lý thích hợp cho cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có thể là con đường đi đến
thành công và đem lại lợi nhuận cho những nhà kinh doanh này, nó cũng là
con đường dẫn đến sự thua lỗ, phá sản của một vài doanh nghiệp kinh doanh
yếu kém. Điều này thể hiện tính hai mặt của cạnh tranh và là quy luật của nền
kinh tế thị trường mà các nhà kinh doanh cũng như Nhà nước phải chấp nhận
chứ không thể phá bỏ. Thế nhưng nếu xét một cách toàn diện, trong nền kinh
chọn nào khác ngoài việc phải mua hàng hóa, dịch vụ của nhà kinh doanh độc
quyền với các điều kiện thương mại bị áp đặt với giá cao. Độc quyền sẽ gây
thiệt hại ở mức độ nhất định đến lợi ích công cộng, lợi ích của người tiêu
dùng và làm hạn chế quyền được lựa chọn của người tiêu dùng mà lẽ ra họ
được hưởng. Vì thế trong nền kinh tế thị trường văn minh, lĩnh vực pháp luật
về chống độc quyền là không thể thiếu vắng, Nhà nước cần phải sử dụng pháp
luật để ngăn chặn khả năng đạt tới độc quyền bằng nhiều biện pháp.
Người tiêu dùng được coi là nhân vật trung tâm của thị trường, họ là
mục tiêu mà tất cả các nhà kinh doanh đều hướng tới. Ngày nay các nhà kinh
tế và hoạch định chính sách đều cho rằng một trong những động lực của sự
phát triển là nằm ở mức cầu của xã hội, do đó nhiều quốc gia trên thế giới đều
có những biện pháp để kích cầu xã hội. Người tiêu dùng cũng có thể được các
nhà kinh doanh coi là thượng đế, song họ cũng rất dễ bị dụ dỗ, lừa gạt và bị
bóc lột bởi các thủ đoạn cạnh tranh bất chính của các chủ thể kinh doanh. Do
đó bên cạnh mục tiêu bảo vệ các lợi ích khác, luật cạnh tranh phải hướng tới
mục tiêu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Tóm lại, hoạt động lập pháp là một chức năng cơ bản của Nhà nước.
Cho dù là nền kinh tế thị trường thuần túy của chủ nghĩa tư bản hay là nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì ở mức độ khái quát,
mục tiêu cơ bản của Luật cạnh tranh cũng khá tương đồng. Luật cạnh tranh
11
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta cần phải đảm bảo các mục tiêu cụ thể
sau: Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh; Chống các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, Chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, Chống độc quyền và lạm
dụng vị trí thống lĩnh.
Nhìn chung pháp luật cạnh tranh của các nước có nền kinh tế thị trường
phát triển thường gồm hai lĩnh vực chủ yếu là lĩnh vực pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh (unfair competition) và lĩnh vực pháp luật chống các
sạch chỉ lựa chọn một nhà thầu tham gia được thắng thầu duy nhất. Do đó,
các nhà cung cấp có thể tự thỏa thuận với nhau để cử một đơn vị được trúng
thầu. Sau đó, có thể chia nhau lợi nhuận từ việc cung cấp dịch vụ làm sạch đó,
hoặc cũng có thể nâng giá để hưởng lợi. Chính các hành vi này gây thiệt hại
không nhỏ cho bên mời thầu.
1.1.3.2
Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được xác định là các hành vi của
doanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh trong quá trình kinh doanh trái các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây
thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
khác hoặc người tiêu dùng, bao gồm các hành vi chủ yếu như: giả mạo chỉ
dẫn thương mại, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh,
dèm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác, quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt
đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp. 4
Trái ngược với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh
tranh lành mạnh, đó là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay
thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh. Từ định nghĩa trên, chúng
ta hiểu rằng cạnh tranh không lành mạnh có thể là hành vi của tổ chức, cá
nhân kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật (luật cạnh tranh, luật thương
mại, luật sở hữu trí tuệ... hoặc các hành vi vi phạm các tiêu chuẩn lành mạnh
khác).
1.2
• Đấu thầu hạn chế:
Theo quy định tại Điều 21 Luật đấu thầu 2013: Đấu thầu hạn chế được áp
dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc có tính đặc
thù cao về kỹ thuật mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu.
Theo đó, chủ đầu tư phải xác định, phê duyệt danh sách ngắn gồm tối thiểu 3
nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu và có nhu
cầu tham dự thầu; các nhà thầu có tên trong danh sách ngắn không được liên
danh với nhau để tham dự thầu (Khoản 2, 3 Đ.22 Nghị định 63/2014/NĐ-CP
ngày Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về
lựa chọn nhà thầu).
Việc xét thầu và công nhận trúng thầu giống như hình thức đấu thầu rộng
rãi.
• Chỉ định thầu:
14
Được quy định chi tiết tại Điều 22 Chương II Luật Đấu thầu 2013.
Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của
gói thầu để thương thảo hợp đồng.
Đây là hình thức đặc biệt được áp dụng theo quy định của Điều lệ quản
lý đầu tư và xây dựng đối với các gói thầu sử dụng vốn Nhà nước được phép
chỉ định thầu. Hình thức này có thể tiến hành mời thầu giống đấu thầu rộng
rãi hay hạn chế. Tuy nhiên, bên mời thầu chỉ thương thảo hợp đồng với một
nhà thầu do người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ định, nếu không đạt
được yêu cầu mới thương thảo với nhà thầu khác. Về nội dung và hình thức tổ
chức cũng như hình thức đấu thầu hạn chế nhưng khác ở chỗ không yêu cầu
Nhà thầu phải nộp tiền bảo lãnh dự thầu và khi mở thầu không nhất thiết sự
có mặt của đơn vị dự chọn thầu.
Hạn mức chỉ định thầu (Đ.54 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP): không
quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư