Tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học Kinh nghiệm của các nước ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên biển thông qua cơ chế tài phán quốc tế - Pdf 37

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Biển cả có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế,
quốc phòng, an ninh. Tiềm năng của biển về giao thông vận tải, về du lịch và về
tài nguyên thiên nhiên đem lại những lợi ích kinh tế rất lớn và tầm quan trọng
đặc biệt của biển trong lĩnh vực an ninh quốc phòng là động lực thúc đẩy các
quốc gia mở rộng chủ quyền của mình ra biển. Nhận thức được rõ về tầm quan
trọng của biển, các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng chiến lược tiến ra
biển, làm chủ biển một cách bài bản, khoa học và toàn diện. Tuy nhiên, việc rất
nhiều quốc gia trên thế giới đều muốn mở rộng chủ quyền của mình ra biển sẽ dễ
dẫn đến mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các quốc gia. Hơn nữa, việc các quốc gia
đều cố gắng mở rộng yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền, đẩy mạnh khả năng
và phạm vi khai thác tài nguyên của quốc gia mình ra biển càng làm cho các
mâu thuẫn, tranh chấp trở nên gay gắt.
Tình hình tranh chấp trên biển giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay
diễn biến ngày càng căng thẳng và phức tạp. Từ nhiều năm nay, nhất là những
năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay trên Biển Đông đang tồn tại
những tranh chấp biển đảo rất quyết liệt và phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố mất
ổn định, tác động đến quốc phòng và an ninh nước ta. Trên Biển Đông vùng biển
nước ta tiếp giáp với vùng biển 7 nước trong khu vực là: Trung Quốc (phía Bắc),
Campuchia và Thái Lan (Tây Nam), Philippin, Malaysia, Indonesia, Brunây
(phía Đông, Đông Nam và Nam). Nơi đây đang diễn ra những tranh chấp phức
tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa các quốc gia, đẩy tới xu hướng tăng cường
lực lượng quân sự, đặc biệt là hải quân của các nước trong khu vực, nhất là
những nước có tiềm lực lớn về kinh tế, quân sự. Những tranh chấp trên Biển
Đông đã và đang trở thành vấn đề được không chỉ khu vực mà cả thế giới đều

1


quan tâm. Rất nhiều hội thảo quốc tế về Biển Đông đã được tổ chức thu hút sự

đến thực tiễn pháp lý, về kinh nghiệm giải quyết tranh chấp trên biển của các
nước trên thế giới cũng như các nước trong khu vực ASEAN thì chưa thực sự đa
dạng và đồng bộ. Trước tình hình diễn biến trên Biển Đông đang leo thang căng
thẳng, đặc biệt là sự hung hăng của Trung Quốc cùng các hoạt động xây dựng
với quy mô lớn làm thay đổi nguyên trạng các đảo đá trên Biển Đông đang gây
ra sự quan ngại không chỉ đối với Việt Nam mà còn các nước trong khu vực và
trên thế giới thì việc giải quyết tranh chấp và đảm bảo an ninh trên Biển Đông
đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, việc tìm
hiểu, nghiên cứu sâu về kinh nghiệm giải quyết tranh chấp trên biển của các
nước ASEAN cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế, đặc biệt là
tranh chấp trên biển là một vấn đề cấp bách và cần được lưu tâm. Chính vì
những lý do đó, học viên xin chọn đề tài luận văn với nội dung “Kinh nghiệm của
các nước ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên biển thông
qua cơ chế tài phán quốc tế".
2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu về việc
giải quyết những tranh chấp quốc tế trên biển thông qua con đường tài phán
quốc tế cũng như các cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp trên biển. Đề tài là về kinh nghiệm của các nước ASEAN trong việc giải
quyết tranh chấp trên biển vì vậy học viên sẽ tìm hiểu một số phán quyết của ICJ
(ICJ), ITLOS quốc tế (ITLOS) giải quyết tranh chấp chủ quyền trên biển của
một số nước ASEAN. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
trong việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông bằng con đường tài phán, cụ

3


thể như lựa chọn cơ quan tài phán, chuẩn bị hồ sơ pháp lý, lựa chọn nội dung
khởi kiện... đồng thời phân tích những thuận lợi và cả những bất lợi của Việt



5.

Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận của đề tài được nghiên cứu là chủ nghĩa MácLenin, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, những
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ quyền biên giới-lãnh thổ trên biển.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, học viên còn sử dụng những phương
pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn.
6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương với nội dung như sau.
Chương 1: Tổng quan lý luận về tranh chấp biên giới-lãnh thổ trên biển
Chương 2: Một số tranh chấp về biên giới-lãnh thổ trên biển của các
nước ASEAN được giải quyết thông qua cơ chế tài phán.
Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của các nước ASEAN cho Việt Nam
trong vấn đề giải quyết tranh chấp biên giới-lãnh thổ trên biển hiện nay
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP
BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ TRÊN BIỂN
1.1. Khái quát về chủ quyền quốc gia trên biển
1.1.1. Khái niệm chủ quyền quốc gia

Quốc gia là chủ thể chủ yếu của luật quốc tế và là một chủ thể đặc biệt.
Bởi khác với các chủ thể khác, quốc gia là chủ thể có thuộc tính chính trị, pháp
lý đặc thù là chủ quyền. Từ trước đến nay tồn tại nhiều học thuyết khác nhau về
chủ quyền quốc gia đặc biệt là Thuyết chủ quyền tuyệt đối xuất hiện vào khoảng

Về phương diện quyền lực, quốc gia có quyền bất khả xâm phạm

về lãnh thổ; quyết định đường lối phát triển đất nước; thực hiện quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp thông qua hệ thống cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa

6


phương; thực hiện thẩm quyền đối với các cá nhân và tổ chức đang hoạt động
trên lãnh thổ quốc gia.
-

Về phương diện vật chất, quốc gia có quyền khai thác, sử dụng,

bảo vệ nguồn tài nguyên nằm phía trong biên giới quốc gia, bao gồm tài nguyên
vùng lòng đất, tài nguyên đất, nước, không khí.Quốc gia thực hiện quyền lực của
mình một cách đầy đủ, trọn vẹn, trên cơ sở tôn trọng lợi ích cộng đồng dân sư
sinh sống trên vùng lãnh thổ đó đồng thời phù hợp với các quyền dân tộc cơ bản.
Về mặt đối ngoại, các quốc gia có quyền thiết lập hay tham gia các quan
hệ pháp luật quốc tế cụ thể, thực hiện mọi quyền hạn phù hợp với những nguyên
tắc, quy phạm của luật quốc tế. Quốc gia hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào
bất kỳ chủ thể nào trong việc tham gia vào một quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể.
Việc ký kết các điều ước quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao, lãnh sự hay gia
nhập các tổ chức quốc tế. là những biểu hiện điển hình của việc thực hiện chủ
quyền đối ngoại của quốc gia [18].
1.1.2. Chủ quyền trên biển của quốc gia

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã quy định rõ về
vùng biển tiếp giáp lãnh thổ quốc gia ven biển gồm: vùng nội thủy; vùng lãnh
hải; vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Quốc gia

đối như trên các vùng nước nội thủy. Luật Biển Việt Nam quy định “Nhà nước
thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng
đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của LHQ về Luật biển 1982 ”

[28, Điều 12]. Điều 17 UNCLOS cũng quy định quyền đi qua lại không gây hại
của tàu thuyền nước ngoài ở lãnh hải. Tuy nhiên pháp luật quốc gia ven biển quy
định quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền với những điều kiện cụ thể và

8


phải tuân thủ pháp luật của quốc gia ven biển. Cần luu ý là quyền đi qua không
gây hại không áp dụng đối với vùng trời trên lãnh hải. Phương tiện bay nước
ngoài muốn bay qua vùng trời trên lãnh hải của một nước ven biển phải xin phép
nước ven biển đó. Quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền tài phán của
mình đối với một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi nó đi qua lãnh hải
và hậu quả của nó mở rộng đến quốc gia ven biển; vụ vi phạm đó có tính chất
phá hoại hòa bình, an ninh trật tự của quốc gia ven biển; thuyền trưởng hay viên
chức lãnh đạo của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu. Bên cạnh đó, Công ước
cũng quy định quyền của quốc gia ven biển áp dụng mọi biện pháp trừng phạt
hoặc đảm bảo về mặt dân sự mà luật nước mình quy định đối với tàu đi qua lãnh
hải sau khi rời khỏi nội thủy của quốc gia đó.
Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp giáp với
lãnh hải, phạm vi của vùng tiếp giáp không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ
sở. Trong vùng tiếp giáp lãnh hải quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có
tính riêng biệt và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài.
Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm ở phía ngoài vùng tiếp giáp
lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủ quyền và
quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do
của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
. Tài liệu tiếng Việt
1. ASEAN (2007), Hiến chương.
2.

Ban Biên giới Chính phủ (1993), Cơ sở khoa học của việc hoạch định và
quản lý các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà
Nội.

3. Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa X), Nghị quyết số 09-

NQ/TW ngày 09/02/2007 về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
4. Cadière (1995), Tập san các người bạn cũ của Huế, (tháng 2).
5. Nguyễn Hùng Cường (2009), “Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo

UNCLOS”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học (25).
6.

Nguyễn Hùng Cường (2013), Philippin rất khôn ngoan khi kiện Trung
Quốc, kien-trung-quoc-2419341.html.

7. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Chính phủ Vương

quốc Thái Lan (1997), Hiệp định về biên giới biển.
8. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước

Cộng hoà Indonesia (2003), Hiệp định về phân định ranh giới thềm lục địa,

Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường (2013), “Chủ quyền Việt Nam trên
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong
Luật quốc tế”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, tập 30, (1).

15.

Phạm Giảng (1998), Luật biển những vấn đề cơ bản theo Công ước 1982,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

16.

Hoàng Ngọc Giao (2014), “Sử dụng các công cụ pháp lý - chính trị để bảo
vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (14)
(270), tháng 7.

17.

J.L Taber (1837), Ghi chép về địa lý Nam Kỳ, The Journal of Bengal,
Calcuta, serie VI, tr.737-745.

18.

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2013), Giáo trình Luật quốc tế, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.

19.

Hoàng Trọng Lập (1996), Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa và
luật pháp quốc tế, Luận án tiến sĩ, Đại học khoa học xã hội và nhân văn-Đại
học quốc gia Hà Nội.

Lê Minh Nghĩa (1998), Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và
các nước láng giềng, Bài viết hội thảo về phát triển châu Á Thái Bình Dương

và tranh chấp Biển Đông.
26.

Lê Minh Phiếu (2012), “Hướng đến một công cụ pháp lý vững chắc cho
việc bảo đảm hòa bình trên Biển Đông”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (6),
tháng 3.

27.

Đỗ Quang (2007), Người vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thế
kỷ

/>
16,

option=com_content&task=view&id=585.
28.

Quốc hội (2012), Luật biển Việt Nam, Hà Nội.

29.

Nguyễn Trung Tín (2005), Giáo trình Luật biển Quốc tế, NXB Công An
Nhân dân, Hà Nội.

30.


36.

Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Quốc tế, NXB Công an
Nhân dân, Hà Nội.

37.

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Luật Quốc tế (Sách
chuyên khảo), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
II.
Tài liệu tiếng Anh
ASEAN (1976), Treaty of Amity and Cooperation in Southeast
Asia Indonesia, 24 February 1976.
38.

ASEAN (2001), Rules of Procedure of the High Council of the
Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia, rule 19.
39.
40.

Case Concerning Sovereignty Over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh,
Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), Judgment, 23
May 2008, />
41.

Case Concerning Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan
(Indonesia/Malaysia), Judgment, 17 December 2002, - cij
.org/docket/files/102/10570. pdf.

42.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status