BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LỜI CAM ĐOAN
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
Sau một thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu, tài liệu và tìm hiểu tình hình
HOÀNG CÔNG THẮNG
thực tế kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc ít người tại tỉnh Đak Nông cùng với sự
hỗ trợ nhiệt tình của Tiến sỹ Nguyễn Tấn Khuyên về kiến thức chuyên môn,
phương pháp thực hiện, tôi đã thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài về “ Phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng nhằm mục đích giảm
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG
NHẰM MỤC ĐÍCH GIẢM NGHÈO CỦA ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC M’NÔNG TỈNH ĐAK NÔNG
nghèo của đồng bào dân tộc M’Nông tỉnh Đak Nông”. Luận văn hoàn thành đúng
thời hạn được giao, nội dung thể hiện được tính cấp thiết áp dụng trong thực tế,
mang nhiều ý nghĩa khoa học.
Tôi xin cam đoan rằng nguồn số liệu, tài liệu đưa ra trong luận văn là hợp
pháp, trung thực, rõ ràng, các nhận định, kết luận trong luận văn là của chính tác
giả, không sao chép của người khác. Sự nỗ lực hoàn thành luận văn ngoài nhiệm vụ
học tập, nghiên cứu còn nhằm phát hiện những yếu tố cản trở đến khả năng tiếp cận
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 603105
2.2 Mục tiêu cụ thể…………………………………………………………..3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………………..4
4.Phương pháp nghiên cứu khoa học……………………………………………………..5
4.1 Phương pháp tiếp cận tài liệu……………………………………………...……...5
4.2 Phương pháp tiếp cận đối tượng……………………………………………..........5
4.3 Phương pháp phân tích
….……………………………………………5
5. Điểm mới của đề tài.......................................................................................................5
6. Kết cấu của luận văn......................................................................................................6
8,64% dân số toàn tỉnh và chiếm 75,4% dân tộc ít người tại chỗ, sinh sống ở các địa
bàn trên tất cả các huyện, thị xã của tỉnh.
Ở những địa bàn dân tộc M’Nông sinh sống có nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển sản xuất các ngành nghề như trồng lúa nước, cây công nghiệp (cà phê,
tiêu, cao su). Nhưng nhìn chung hiện nay đời sống của người M’Nông còn rất thấp
và quá trình sản xuất của người dân còn nhiều hạn chế nhất định, nhất là về nguồn
vốn sản xuất. Vì vậy, nghiên cứu này với những kết quả nghiên cứu sau được kỳ
vọng sẽ giải quyết phần nào về khả năng tiếp cận của nguồn vốn tín dụng của người
dân đồng bào dân tộc M’Nông.
Kết quả nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã: xã Quảng Khê thuộc huyện Đak
Glong, xã Đak Mâm thuộc huyện Krông Nô, phường Nghĩa Tân thuộc thị xã Gia
Nghĩa. Kết quả cụ thể về thực trạng tiếp cận nguồn vốn tín dụng có thể nêu tóm tắt
như sau:
Nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của người dân đồng
bào dân tộc M’Nông, cần quan tâm cụ thể đến 5 nhân tố chính gồm: (i) những trở
ngại từ phong tục tập quán, (ii) nhân tố hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, (iii) nhân tố
kiến thức và sự năng động của người dân, (iv) nhân tố thông tin, thủ tục và điều
kiện đi lại và cuối cùng (v) nhân tố về thái độ, năng lực của cán bộ và các điều kiện
cho vay của ngân hàng.Trong 5 nhân tố trên, cần đặc biệt quan tâm đến hai nhóm
nhân tố gồm nhân tố thông tin, thủ tục, điều kiện đi lại của người dân và nhân tố về
2.2.4 Kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến khả năng vay vốn của
người dân…………………………………………………………………………………..60
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TD.65
3.1 Giải pháp trực tiếp .....................................................................................................65
3.2 Giải pháp hỗ trợ.........................................................................................................67
KẾT LUẬN ……...………………………………………….................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………73
PHỤ LỤC………………………………………………………………………….74
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn ……………………………………………………….74
Phụ lục 2: Các thông tin và các kết quả của mô hình …………………………………….78
Phụ lục 3: Danh sách các chuyên gia khảo sát định tính…………………………………..88
Phụ lục 4: Bản đồ hành chính khu vực khảo sát…………………………………………...89
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Địa điểm điều tra ...……………………………………………………………….20
Bảng 2: Giới tính chủ hộ ......................................................................................................20
Bảng 3: Giới tính và trình độ học vấn..................................................................................21
Bảng 4: Ước lượng độ tuổi bình quân của chủ hộ ...............................................................22
Bảng 5: Nhu cầu vay vốn của chủ hộ...................................................................................24
Bảng 6: Thực trạng vay vốn của chủ hộ ..............................................................................24
Bảng 7:Số lần vay ngân hàng trước đây ..............................................................................25
Bảng 8: Mô tả số lần vay tiền bình quân theo giới tính .......................................................25
Bảng 9: Mô tả số tiền vay của mỗi lần theo giới tính ..........................................................26
Bảng 10: Ước lượng số tiền vay được bình quân ................................................................27
Bảng 11: Kiểm định số tiền vay được theo giới tính ...........................................................28
Bảng 12: Số tiền vay theo địa phương .................................................................................29
Bảng 13: Kiểm định số tiền vay được theo địa phương......................................................29
Bảng 14: Diện tích rẫy, lúa và diện tích cây công nghiệp....................................................31
Bảng 15: Sự khác biệt đánh giá đời sống của người dân giữa điều tra viên đánh giá so
với người dân .......................................................................................................................32
Bảng 34: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng thái độ của cán bộ không
nhiệt tình ..............................................................................................................................49
Bảng 35: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng mạng lưới tín dụng ít ........49
Bảng 36: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng các ngân hàng chỉ hỗ trợ
vay, không hỗ trợ lập kế hoạch sản xuất ..............................................................................50
Bảng 37: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng ngân hàng chỉ quan tâm
đến số lượng người vay, chưa quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn ....................................51
Bảng 38: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng cơ quan khuyến nông,
khuyến lâm chưa hỗ trợ........................................................................................................52
Bảng 39: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng chưa có cơ quan pháp lý,
hỗ trợ thị trường ...................................................................................................................52
Bảng 40: Đánh giá thang cronbach alpha ............................................................................55
Bảng 41: Kết quả phân tích nhân tố .....................................................................................56
Bảng 42: Kết quả kiểm định tương quan giữa các biến quan sát.........................................57
Bảng 43: Khả năng giải thích mô hình.................................................................................58
Bảng 44: Các nhân tố tác động đến khả năng vay vốn trong mô hình hồi quy....................63
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đak Nông là một tỉnh miền núi nằm ở phía Nam Tây Nguyên, phía Bắc và
Đông Bắc giáp tỉnh Đak Lak, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía
Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp nước Campuchia với 130 km đường
biên giới. Diện tích tự nhiên 6.514,38 km2, dân số 431.005 người. Về địa giới
hành chính hiện nay có 7 huyện, 1 thị xã, trong đó có 71 xã, phường, thị trấn.
Trên địa bàn tỉnh có 29 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số
139.865 người, chiếm 32,45% dân số toàn tỉnh. Dân tộc thiểu số tại chỗ có
49.300 người gồm các dân tộc: Mạ, M’Nông, Ê Đê, chiếm 11,44% dân số toàn
tỉnh. Người M’Nông là dân tộc thiểu số tại chỗ có số lượng lớn nhất, sinh sống
lâu đời nhất ở tỉnh Đak Nông gồm 6.880 hộ với 37.221 khẩu, chiếm 8,64% dân
số toàn tỉnh và chiếm 75,4% dân tộc ít người tại chỗ, sinh sống ở các địa bàn trên
đồng bào dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận được nguồn tín
mức cận nghèo cao ( toàn tỉnh là 13.694 hộ, đồng bào dân tộc là 4.809 hộ, đồng
dụng và sử dụng chúng một cách có hiệu quả là một vấn đề quan trọng đối với
bào dân tộc tại chỗ là 1.472 hộ), dẫn đến tình trạng thoát nghèo chưa thực sự
việc giảm nghèo.
vững chắc, tỷ lệ hộ tái nghèo còn cao.
Ở những địa bàn dân tộc M’Nông sinh sống có nhiều điều kiện thuận lợi
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể và khách quan, bản thân vốn tín dụng
chỉ là một công cụ thúc đẩy sản xuất phát triển và tăng thu nhập cho người
để phát triển sản xuất các ngành nghề như trồng lúa nước, cây công nghiệp (cà
nghèo. Công cụ này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi hoạt động của nó phù hợp
phê, tiêu, cao su), kinh doanh nghề rừng, chăn nuôi trâu, bò, dê. Bên cạnh đó lực
với đặc điểm, năng lực chuyển đổi kinh tế của người nghèo, nhất là vùng đồng
lượng lao động của họ tương đối dồi dào. Nhiều vùng dân cư đã tiếp cận sản xuất
bào dân tộc M’Nông còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, trình độ dân
hàng hoá. Nhưng nhìn chung hiện nay đời sống của người M’Nông còn rất thấp,
lượng cuộc sống, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo như hiện nay.
đặc biệt là nguồn tín dụng khi họ tham gia vào nền kinh tế thị trường.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Theo kết quả điều tra năm 2004 của Viện Khoa học lao động kết hợp với
2.1. Mục tiêu tổng thể
khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, thiếu vốn sản xuất và đặc biệt
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của
sử dụng vốn không hiệu quả là nguyên nhân ảnh hưởng tới 79% số hộ nghèo. Tỷ
đồng bào dân tộc M’nông, từ đó gợi ý các giải pháp hỗ trợ người dân vay được
lệ hộ nghèo chưa tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của khu vực chính thức
vốn đầu tư phát triển sản, nâng cao đời sống nhanh chóng thực hiện các mục tiêu
ở Việt Nam tính đến nay chiếm khoảng 28% trong số những hộ nghèo thiếu vốn.
về xóa đói giảm nghèo.
Hiện nay chúng ta chưa có những điều tra tương tự ở vùng đồng bào dân tộc ít
người ở Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nòi riêng, nhưng chắc chắn là tỷ lệ
hộ chưa tiếp cận được với các nguồn tín dụng của khu vực chính thức sẽ cao hơn
M’nông tại tỉnh Đak Nông.
thực tiễn); tham khảo, phân tích ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ ở các đơn
- Từ nghiên cứu các mục tiêu trên, gợi ý các chính sách, đề xuất những
vị tín dụng và các cơ quan, tổ chức xã hội tại địa phương.
giải pháp tác động trực tiếp và gián tiếp: về vốn tín dụng, giải pháp hỗ trợ, giải
- Tài liệu sơ cấp: Phương pháp khảo sát, điều tra nghiên cứu thực địa thu
pháp tạo điều kiện và giải pháp về chính sách xã hội phù hợp với quá trình
thập thông tin sơ cấp từ cộng đồng dân cư đồng bào dân tộc M’nông bằng
chuyển đổi kinh tế sang kinh tế thị trường của đồng bào dân tộc M’Nông tỉnh
phương pháp phỏng vấn và bảng câu hỏi. Kỹ thuật phỏng vấn sâu được sử dụng
Đak Nông, tạo điều kiện cho họ tiếp cận dễ dàng hơn nguồn vốn tín dụng; bên
trong nghiên cứu định tính để làm cơ sở cho việc khám phá, điều chỉnh và bổ
cạnh đó là giải pháp từ bản thân người dân nhằm giúp họ nâng cao khả năng tiếp
sung các số liệu. Kỹ thuật bảng câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu định
cận nguồn tín dụng, phát triển sản xuất, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo
(EFA) nhằm khám phá ra nhân tố tác động đến mối quan hệ tín dụng của người
dân với công cụ xử lí là phần mềm SPSS được sử dụng trong nghiên cứu định
lượng, phân tích và kiểm định mô hình nghiên cứu.
5. Điểm mới của đề tài
- Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề “ tín dụng và nghèo đói”, “ tín dụng
và người nghèo”, do đó nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn tín dụng của người
Đối tượng khảo sát: người dân thuộc ở các xã, phường trên địa bàn tỉnh
nghèo nông thôn không phải là vấn đề mới mẻ. Tuy nhiên từ trước đến nay có rất
nơi có đông dân cư là đồng bào dân tộc M’nông sinh sống, cụ thể là: xã Quảng
ít các nghiên cứu về vấn đề tín dụng đối với đồng bào dân tộc nói chung và tín
Khê thuộc huyện Đak Glong, xã Đak Mâm thuộc huyện Krông Nô, phường
dụng đối với từng nhóm dân tộc vì mỗi nhóm dân tộc có những đặc điểm dân tộc
Nghĩa Tân thuộc thị xã Gia Nghĩa.
và những phong tục tập quán rất khác nhau. Do những trở ngại đặc biệt về điều
-6-
-7-
kiện tự nhiên và trình độ phát triển xã hội,bộ phận các dân tộc thiểu số vùng sâu,
đều có nhu cầu vay vốn để mở mang, phát triển sản xuất, trong khi một số định
khu vực nông thôn. Nghèo là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đa phương diện và
chế tín dụng chính thức lại cho rằng người dân không có nhu cầu vay vốn, hoặc
không thuần tuý chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù thước đo của nó trước hết và chủ
khả năng quản lý sử dụng vốn kém, chỉ muốn sản xuất theo tập tục truyền thống
yếu dựa vào thước đo về kinh tế được thể hiện qua chỉ số thu nhập hoặc tiêu
tự cung tự cấp. Vì vậy đề tài này mong muốn từ khảo sát, nghiên cứu thực tế tìm
dùng. Điều này có nghĩa nghèo không chỉ phản ánh sự thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu
ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng của đồng bào dân
phương tiện sản xuất và sinh hoạt, mà còn phản ánh sự thiệt thòi trên bình diện
tộc M’nông để gợi ý một số giải pháp giúp người dân tăng khả năng vay vốn,
sức khỏe, giáo dục…
phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của họ.
- Bên cạnh đó đề tài này cũng hy vọng sẽ giúp các tổ chức tín dụng tham
Những khía cạnh khác nhau của nghèo đói thể hiện tính đa phương diện
của nó như: thu nhập, sức khỏe, giáo dục, nguy cơ bị tổn thương, thường tác
Chương 3. Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín
dụng của đồng bào dân tộc M’Nông.
Trên thực tế không có một khái niệm duy nhất về nghèo, mà nghèo là một
khái niệm tương đối, luôn biến đổi và là tình trạng thiếu thốn trên nhiều phương
diện. Khái niệm nghèo hiện nay không còn được tranh cãi nhiều và hầu như đã đi
đến thống nhất, chỉ có sự khác nhau về phương pháp đo lường và đánh giá chuẩn
nghèo giữa các tổ chức quốc tế, của Chính phủ Việt Nam... Khái niệm nghèo
-8-
hiện nay bao hàm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
- Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét. Khái niệm
-9-
từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông
Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp.
- Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời
nghèo mà luận văn dùng để nghiên cứu tập trung vào nghèo tương đối và được
gian từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ
đo lường bằng mức chuẩn nghèo chung do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp
phủ Việt Nam đã điều chỉnh mức chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 ở khu vực
không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng (gồm lương thực và phi lương thực, trong đó
nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 300.000 đồng/người/tháng trở
chi tiêu cho lương thực phải đủ 2.100 ca-lo/ngày) và có mức sống dưới mức
xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ
trung bình của cộng đồng trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét. Họ thiếu
390.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo.
năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, đặc biệt họ thiếu khả
1.1.1.2. Vòng luẩn quẩn của nghèo đói và mối quan hệ với cung tín dụng
năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của sự phát triển một cách có hiệu quả.
Đối tượng nghèo mà luận văn nghiên cứu tập trung vào những hộ dân cư
là đồng bào dân tộc M’Nông sống ở nông thôn, hầu hết là vùng sâu vùng xa, có
mức thu nhập dưới mức chuẩn nghèo, thiếu vốn hoặc thiếu khả năng tiếp cận vốn
Đối với người nghèo nói chung và đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa
nói riêng, hiện nay đời sống và sản xuất của họ đang ở trong vòng luẩn quẩn: Sơ
đồ vòng luẩn quẩn của nghèo đói
và họ có nhu cầu vay vốn.
- Nghèo tuyệt đối: người hay hộ gia đình có thể được xem là nghèo hay
sống trong tình trạng nghèo khi thu nhập của họ nằm ở mức tuyệt đối hay mức
thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng
tiêu dùng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói
cao đời sống của nông dân nghèo.
Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn cũng là một trong những yếu tố
chung, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi giữa các ngân hàng, tổ chức
nằm trong vòng luẩn quẩn đói nghèo. Phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu
tín dụng với các tổ chức, cá nhân, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo
vào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thường sống ở những nơi giao
nguyên tắc hoàn trả có lãi. Do đặc điểm riêng của mình, tín dụng ngân hàng đạt
thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện, trẻ em thất học…Những khó khăn đó
được ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi
làm cho nông dân nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện
đầu tư. Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng ngân hàng có khả năng đầu
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thiếu kinh nghiệm và trình độ
tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậy
càng
trầm
trọng:
“các hình
thức
sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất
cho vay cả tiện nghi sinh hoạt như tivi, video, đài, xe máy… Khi trả, người vay
định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn vốn có thể hưởng theo
thường trả bằng lương thực, thực phẩm mà nếu tính ra, có thể lãi suất lên tới vài
lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói
chục phần trăm! Với lối tư duy của người dân vùng cao, nhất là người chỉ quen
vươn lên hoà nhập cộng đồng.
làm nương rẫy thì họ không hề biết run sợ trước lãi suất ấy! Miễn là có cái ăn, cái
- Các nhà kinh tế học thuộc trường phái Ohio như Adams (1984), Von
tiêu đã, còn nợ trả sau. Và như thế, lãi mẹ đẻ lãi con, lãi năm trước chồng lên lãi
thống định chế tín dụng nông thôn thuộc khu vực chính thức ít khi mang lại lợi
kinh tế của Grameen. Phần lớn người vay vốn của Ngân hàng này là phụ nữ
ích cho người nghèo vì: (1) Yêu cầu về tài sản thế chấp như là điều kiện tiên
(96%) và tỷ lệ hoàn vốn đạt trên 98%. Hơn một nửa những người vay vốn của
quyết; (2) Các định chế thường giới hạn cung cấp tín dụng đến nông dân nghèo
Grameen tại Bangladesh (gần tới 50 triệu người) đã thoát khỏi nghèo đói nhờ
để giảm chi phí giao dịch vì chi phí giao dịch sẽ rất cao so với số tiền vay rất nhỏ
khoản vay của ngân hàng, được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như có tất cả con
và với số người mượn đông; (3) Do khống chế của chính sách lãi suất trần, các
trong tuổi đến trường được đi học, tất các các thành viên gia đình được ăn ba bữa
định chế thường tìm thấy hiệu quả và ít rủi ro khi cho vay đối với nông dân có
một ngày, một nhà vệ sinh, một nhà có mái tránh dột, nước uống sạch và khả
qui mô sản xuất lớn (nông dân giàu); (4) Có nhiều người nghèo không có khả
năng hoàn vốn một khoản 8 USD một tuần. Mô hình tín dụng giúp đỡ người
năng trả lại nợ và điều này làm ảnh hưởng chung đến uy tín người nghèo về khả
khu vực chính thức: lãi suất, huy động tiết kiệm, cấu trúc tổ chức của định chế,
tăng (đến 31/10/2008, dư nợ cho vay lĩnh vực này đạt 294.853 tỷ đồng, chiếm
vấn đề thông tin không hoàn hảo, yếu tố ngoại sinh và yếu tố khác.
23% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế). Đối tượng tiếp cận nguồn vốn tín dụng
1.2. Kinh nghiệm về sự thành công của tín dụng người nghèo trên thế giới và
thực tiễn ở Việt Nam
tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng; trong giai đoạn từ 1994 - 2007, tỉ lệ
1.2.1. Trên thế giới
So với các lý thuyết và nghiên cứu về thị trường tín dụng nông thôn nêu
trên thì sự thành công của ngân hàng Grammeen (tiếng Bangla nghĩa là "Ngân
hàng của làng quê") tại Bangladesh và một số nước Châu Á lại hầu như trái
ngược. Đây là một tổ chức tài chính vi mô (microfinance) với mục đích cho vay
vốn nhỏ cho người nghèo nông thôn mà không cần điều kiện bảo đảm dựa trên ý
tưởng người nghèo có các kỹ năng mà không được tận dụng hết. Điểm mấu chốt
trong hoạt động của ngân hàng này là việc áp dụng tín dụng vi mô (Microcredit).
Mỗi nhóm tự giúp (self-help group) gồm năm cá thể được vay một khoản tiền,
nhưng cả nhóm sẽ bị từ chối nhận tín dụng tiếp nếu một cá thể vỡ nợ. Việc này
tạo động lực kinh tế cho nhóm hoạt động có trách nhiệm và làm tăng tính khả thi
cũng ngày càng mở rộng với trên 9 triệu hộ dân và doanh nghiệp ở nông thôn đã
hộ gia đình nông thôn vay được tiền của các định chế tài chính đã tăng từ 9% lên
đến 70%. Hoạt động tín dụng đã thực sự gắn với làng, bản, xóm thôn, gần gũi với
bà con nông dân. Ngân hàng đã cung cấp vốn tín dụng cho đa số những người
nghèo trên toàn quốc, làm hạn chế việc cho vay nặng lãi ở nông thôn. Vốn tín
phụ nữ, đoàn thanh niên.
(2.3) Nhân tố từ sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và ngân hàng:
khuyến nông, khuyến lâm, tư vấn thị trường, pháp lý.
tín dụng của người nghèo nông thôn. Chưa có các ý kiến thống nhất về việc xác
Từ các nhân tố kỳ vọng trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu, khảo sát thực tế,
định các rào cản người nghèo tiếp cận nguồn tín dụng cũng như những phương
phỏng vấn các hộ dân cư để đặt ra các biến quan sát, sau đó sử dụng phương
án hoạt động hiệu quả nhất của một định chế tín dụng đối với người nghèo, hay
pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) rút gọn các biến quan sát thành các nhân
nói một cách khác là trên thế giới chưa có một ngân hàng mẫu hoạt động tín dụng
tố chính thức.
nông thôn cho người nghèo. Như vậy việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
1.4. Các bước nghiên cứu
khả năng tiếp cận nguồn tín dụng của người nghèo nông thôn trên phạm vi quốc
1.4.1. Nghiên cứu sơ bộ
gia, khu vực hay của một nhóm cộng đồng dân cư là một việc làm cần thiết, từ đó
có đông dân cư là đồng bào dân tộc M’Nông sinh sống, có nhiều điều kiện thuận
đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng của đồng bào dân tộc M’Nông tại tỉnh Đak
lợi để phát triển sản xuất tại huyện Đak Glong, huyện Krông Nô, thị xã Gia
Nông như sau:
Nghĩa tỉnh Đak Nông để tìm hiểu về phong tục tập quán, thực tế sản xuất và đời
(1) Nhân tố từ phía người dân, trong đó bao gồm hai nhân tố là:
sống, tìm hiểu mong muốn của người dân đối với việc vay vốn và ý kiến của họ
(1.1) Trở ngại do phong tục tập quán: sản xuất tự cung tự cấp, trước đây
về những trở ngại trong quá trình tiếp cận các nguồn vốn vay từ các các đơn vị
- 16 -
- 17 -
tín dụng. Cụ thể là đã tiến hành phỏng vấn sơ bộ lấy ý kiến của 30 hộ dân, gồm
vốn còn dàn trải, chỉ chú ý đến chỉ tiêu định mức giải ngân theo kế hoạch chứ
10 hộ tại xã Quảng Khê huyện Đak Glong, 10 hộ tại xã Đak Mâm huyện Krông
chưa chú ý nhiều đến việc hỗ trợ cho người dân sử dụng vốn đạt hiệu quả);
tín dụng công của người phụ nữ.
- Các yếu tố khách quan:
Từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 02 năm 2009, giai đoạn này thực hiện
nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng với kỹ thuật thu thập dữ liệu là
phỏng vấn sâu, trực tiếp các hộ dân cư ( số liệu sơ cấp) thông qua Bảng câu hỏi
phỏng vấn.
1.4.2.1. Các bước nghiên cứu
- Bước 1: Nghiên cứu định tính:
+ Từ phía các Ngân hàng
Phỏng vấn 15 hộ ( 05 hộ/ xã, phường), trong đó có 02 chủ hộ là phụ nữ,
. Về các thủ tục cho vay;
08 chủ hộ có trình độ học vấn trung học cơ sở, 01 chủ hộ có trình độ học vấn phổ
.Về lượng vốn vay và thời hạn vay vốn;
thông trung học, 07 chủ hộ có trình độ tiểu học, 05 hộ có thu nhập kém, 06 hộ có
. Sự tính toán về rủi ro.
thu nhập trung bình, 04 hộ có thu nhập khá.
+ Từ phía các đường dẫn
Sau khi phỏng vấn 15 hộ, tác giả đã điều chỉnh lại Bảng câu hỏi phỏng
tính, đánh giá về độ tin cậy và các giá trị của thang đo điều chỉnh. Từ đó, điều
(Xem Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn).
chỉnh thang đo điều chỉnh để hình thành thang đo hoàn chỉnh.
- Bước 2: Nghiên cứu định lượng:
1.4.2.4. Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu
Nói đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng, sẽ có 3 trường hợp xảy ra: (1)
- Phương pháp chọn mẫu: Các đối tượng phỏng vấn được chọn dựa vào sự
vay được vốn; (2) không vay được vốn và (3) không cần vay vốn. Trong quá
tư vấn của liên hiệp phụ nữ xã, già làng và trưởng các buôn tại các địa bàn, từ đó
trình nghiên cứu định tính chúng tôi phát hiện ra rằng có một số ít hộ không quan
lập danh sách các đối tượng được phỏng vấn theo phương pháp chọn thuận lợi.
tâm đến việc vay vốn do đó không thực hiện được cuộc phỏng vấn hoặc chủ hộ
- Quy mô mẫu: Theo Hair & ctg (1998), để phân tích nhân tố khám phá
trả lời phỏng vấn không rõ ràng. Do đó khi lựa chọn các hộ dân để phóng vấn
số mẫu cần thiết đạt được phải đảm bảo tối thiểu 5 quan sát cho mỗi biến quan
để phân tích.
Mức (4) : Đồng ý.
Mức (5) : Hoàn toàn đồng ý.
Các biến được trình bày trong bảng câu hỏi, được hiệu chỉnh sau khi hoàn
thành nghiên cứu định lượng để hình thành bảng câu hỏi chính thức.
1.4.2.3. Quy trình thực hiện
- Bước 1: Dựa vào mô hình nghiên cứu để lập thang đo dự kiến;
- Bước 2: Tiến hành nghiên cứu sơ bộ bằng cách phỏng vấn sâu với cỡ
mẫu n = 30 hộ dân cư (10 hộ /xã);
- Bước 3: Trên cơ sở thông tin thu thập được từ kết quả nghiên cứu sơ bộ,
điều chỉnh thang đo dự kiến để có được thang đo điều chỉnh;
- Bước 4: Tiến hành nghiên cứu định tính bằng bảng câu hỏi với cỡ mẫu n
- 20 -
- 21 -
- Về trình độ học vấn: phần lớn những người được khảo sát có trình độ
Chương 2
học vấn cấp tiểu học (chiếm 64,7%), trình độ học vấn trung học cơ sở 31,6%.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Điều này cho thấy có đến 96,3% là những người có trình độ học vấn ở cấp trung
học cơ sở trở xuống. Như vậy, trình độ học vấn của người dân ở đây khá thấp,
P.Nghĩa Tân, Tx.Gia
Nghĩa
X.Đak Mâm,H.Krông Nô
X.Quảng Khê,H.Đak
Glong
Tổng
Tần
số
2
Phần
trăm
1,1
Phần trăm
hợp lệ
1,1
Phần trăm
tích lũy
1,1
50
26,6
26,6
Tiểu
hoc
THCS
THPT
Giới tính Nữ 62,7% 31,3%
6,0%
Nam 65,8% 31,7%
2,5%
Tổng
64,7% 31,6%
3,7%
Tổng
100,0%
100,0%
100,0%
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 -2008
- Thông tin về giới tính: đã tiến hành phỏng vấn 35,6% nữ giới, 64,4%
nam giới. Sự khác biệt về số lượng phỏng vấn nam và nữ trong quá trình khảo sát
- Về độ tuổi: những người được khảo sát có độ tuổi bình quân ở mức độ
đều xuất hiện ở các địa phương một cách ngẫu nhiên, điều này có nghĩa ở các địa
khá trẻ (38 tuổi), hơn 50% có tuổi nhỏ hơn 37 tuổi, trong đó thường gặp nhất là
phương được khảo sát phần lớn nam giới là người trả lời phỏng vấn, trường hợp
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 - 2008
phương có độ tuổi còn khá trẻ và đang trong giai đoạn tuổi có khả năng lao động
cao, điều này liên quan đến nhu cầu giải quyết việc làm cho người dân địa
1 Phụ lục số 2
- 22 -
- 23 -
phương.
2.1.2. Thông tin tình hình tín dụng của các hộ dân
Bảng 4: Ước lượng độ tuổi bình quân của chủ hộ
Tuổi người
Trung bình
được khảo sát 90% Khoảng tin cậy của giá trị
trung bình
5% Trimmed Trung bình
Trung vị
Phương sai
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Range
Interquartile Range
Skewness
,673
,045
nông thôn Việt Nam2 (Agribank), vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng vào khu
các tổ chức tín dụng khác tham gia cho vay khu vực này còn quá nhỏ. Hiện tại ở
Việt Nam tại các thành phố lớn, khu vực đô thị, hàng loạt các ngân hàng thương
mại đua nhau mở thêm chi nhánh, phòng giao dịch thì khu vực nông thôn, phần
đông hiện nay ở cấp huyện chỉ có chi nhánh Agribank, của Ngân hàng Chính
sách xã hội và một vài phòng giao dịch ở các khu vực đông dân cư của hai tổ
chức tín dụng này.
Với tình hình hoạt động tín dụng ở nông thôn nêu trên, nguồn vốn đến với
,179
,355
Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát tháng 12 – 2008
người dân tại địa phương cũng mang tính nhỏ giọt. Vấn đề đặt ra, phải chăng
người nông dân không cần vốn hoặc ít cần vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh nông nghiệp tại địa phương. Kết quả khảo sát tại một số địa bàn dân tộc
- Về kỹ năng nghề nghiệp: chỉ có 2,1% những người được khảo sát trả lời
M’Nông sinh sống cho thấy có đến 99,5% người dân cho rằng đang có nhu cầu
có tham gia những lớp đào tạo kỹ năng nghề, tỷ lệ đào tạo ngắn hạn và trung hạn
vốn lớn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhưng trong số này chỉ có 45,2%
là 50/50. Hoạt động nghề của người dân ở địa phương hầu hết chỉ đơn thuần là
Bảng 7: Số lần vay ngân hàng trước đây
Bảng 5: Nhu cầu vay vốn của chủ hộ
Tần số Phần trăm Phần trăm hợp lệ Phần trăm tích lũy
Không
1
,5
,5
,5
Có
187
99,5
99,5
100,0
Tổng
188
100,0
100,0
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 -2008
Bảng 6: Thực trạng vay vốn của chủ hộ
Không
Có
Tổng
Tần số Phần trăm Phần trăm hợp lệ Phần trăm tích lũy
103
54,8
22,4
94,1
5
2,7
5,9
100,0
85
45,2
100,0
103
54,8
188
100,0
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 - 2008
Xét về khả năng tiếp cận nguồn vốn theo giới tính, nam giới là những
người có sự chủ động và mạnh dạn hơn trong quá trình tiếp cận nguồn vốn. Số
lần nam giới tiếp cận nguồn vốn bình quân là 2,02, trong khi đó chỉ số này của
nữ giới là 1,76. Điều này phần nào dễ hiểu bởi nguyên nhân là đồng bào dân tộc
M’Nông còn theo chế độ mẫu hệ nhưng phần lớn những việc giao dịch với các
cơ quan, tổ chức đều do người nam trong gia đình quyết định. Tuy nhiên, vai trò
Đánh giá về khả năng tiếp cận nguồn tín dụng trong những lần tiếp theo
của người nữ trong gia đình như thế nào đối với khả năng tiếp cận nguồn vốn?
đối với những người đã từng vay vốn, kết quả phân tích cho thấy 41,2% chỉ mới
Theo một số nghiên cứu về khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đặc biệt là khả
gặp khó khăn trong lần vay vốn đầu tiên? Câu trả lời được tác giả bài viết làm rõ
trong phần các trở ngại tiếp theo.
Số lần vay vốn ngân hàng trước
đây
Giới
tính N
Nữ 29
Nam 56
Trung
bình
1,76
2,02
Độ lệch
chuẩn
,739
1,018
Sai số
chuẩn
,137
,136
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 - 2008
Số vốn bình quân mỗi hộ tiếp cận được trong mỗi lần vay là 15,9 triệu
N
Giá trị
nhỏ nhất
Statistic
Statistic
85
2
Giá trị
lớn nhất
Trung bình
Std,
Statistic Statistic Error
40
15,89
,913
Độ lệch
chuẩn
Statistic
8,414
,261
,250
,517
Kurtosis
Nguồn: Kết quả khảo sát tháng 12-2008
Mặc dù khả năng tiếp cận vốn tín dụng của nam giới cao hơn so với nữ
giới theo phân tích ở trên, nhưng cũng cho thấy khả năng tiếp cận vốn tín dụng
của nữ giới đang có xu hướng mở rộng. Vì thế, câu hỏi đưa ra là có sự khác biệt
85
nào về số vốn vay khi đối tượng vay vốn là nam và nữ hay không? Kết quả kiểm
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 – 2008
định về sự khác biệt số vốn vay theo giới tính4 cho thấy mặc dù có những sự khác
biệt cơ bản trong phong tục tập quán cũng như về vai trò của người phụ nữ trong
gia đình, điều này tạo ra những khác biệt trong cách vay vốn (phương sai về vốn
vay của nữ có sự khác biệt so với nam (Giá trị sigLevene’s
test
= 0,5%< 10%).
Nhưng khi kiểm định về sự khác biệt về giá trị trung bình cho thấy không có sự
khác biệt lớn về số tiền vay được bình quân theo giới tính (sig = 49,3%). Hay nói
có trình độ học vấn ở bậc tiểu học (phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa tỷ lệ
Số tiền vay mỗi lần
Phương sai Phương sai không
bằng nhau
bằng nhau
8,477
,005
,603
,689
83
78,914
,548
,493
1,165
1,165
1,932
1,691
-2,049
-1,649
4,379
3,979
100,0%
100,0%
X.Quảng
Tổng
Khê
84,0% 54,8%
16,0% 45,2%
100,0% 100,0%
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 -2008
Bảng 13: Kiểm định số tiền vay được theo địa phương
địa phương là phường Nghĩa Tân (thị xã Gia Nghĩa) và xã Dak Mâm (huyện
Krông Nô) có tỷ lệ người dân vay vốn chiếm tỷ lệ cao với khoảng trên 80%.
Riêng tại xã Quảng Khê (huyện Đak Glong) tỷ lệ những người dân đã từng vay
vốn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ (khoảng 16%). Vấn đề ở đây là tại sao tỷ lệ hộ dân
đã từng vay vốn lại có sự khác biệt ở những địa phương này5, kết quả tìm hiểu
những nguyên nhân được xác định dựa trên những mối quan hệ giữa biến địa
phương với các nhân tố còn lại, tác giả xác định nguyên nhân có ý nghĩa cao nhất
Value
df
Asymp, Sig, (2-sided)
Pearson Chi-Square
78,682a 3
,000
Likelihood Ratio
85,456 3
,000
đất rẫy (xét trong khoảng tin cậy 90%, diện tích rẫy bình quân của mỗi hộ gia
lần tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Từ thực trạng sản xuất nông nghiệp của người
đình từ 12,6 sào đến 14 sào), trong đó hơn 50% hộ gia đình có diện tích rẫy dưới
dân, tác giả có thể khẳng định tính khả thi của việc cung cấp tín dụng cho người
11 sào và phổ biến nhất là các hộ gia đình sở hữu 10 sào. Hộ có diện tích đất rẫy
dân địa phương là rất cao. Tuy nhiên, quá trình cung tín dụng cần quan tâm đến
lớn nhất có 30 sào và ít nhất có 2 sào.
chu trình, vòng quay và tính mùa vụ của các sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp
Xem xét diện tích đất chuyên trồng cây công nghiệp, bình quân mỗi hộ sở
của người dân để có các thời hạn cho vay thích hợp để việc cung tín dụng sẽ có
hữu khoảng 9,2 sào (với khoảng tin cậy 90%, bình quân mỗi hộ sở hữu từ 8,7 đến
tính thiết thực và hiệu quả hơn nhằm giúp cho người dân nâng cao hiệu quả sản
9,7 sào đất cây công nghiệp). Trong đó, hơn 50% những hộ dân sở hữu 10 sào
xuất.
Bảng 14: Diện tích rẫy, lúa và diện tích cây công nghiệp
đất cây công nghiệp trở xuống và phổ biến nhất là những hộ dân có 10 sào diện
Diện tích rẫy Diện tích lúa Diện tích cây công nghiệp
13,2957
2,0192
9,2118
11,0000
2,0000
10,0000
10,00
2,00
10,00
5,84980
1,08149
3,82485
2,00
1,00
1,00
30,00
5,00
20,00
10,0000
1,0500
7,0000
15,0000
2,0000
10,0000
Đánh giá về đời sống của người dân phần đông số hộ được khảo sát có đời
sống từ trung bình trở xuống ( 92% 7), trong đó 33% có đời sống ở mức nghèo và
59% có đời sống ở mức trung bình. Kết quả này không có sự chênh lệch nhiều so
với cách đánh giá của các điều tra viên. Qua kết quả kiểm định với mức ý nghĩa
Giới hạn
trên
Pair 1
Đánh giá đời sống- Điều tra
viên đánh giá đời sống
-,005
,491
,036
xuất (chỉ kiểm định đất rẫy và đất trồng cây công nghiệp). Bằng những kiểm định
-,064
tương tự như trên, kết quả kiểm định về mối quan hệ giữa hai nhân tố này cho kết
T
Df
Sig, (2-tailed)
Value Asymp, Std, Errora Approx, Tb Approx, Sig,
Ordinal by Ordinal Gamma ,540
,108
4,262
,000
Nguồn: Kết quả khảo sát tháng 12-2008
Nguyên nhân thứ hai là mối quan hệ giữa đời sống và diện tích đất sản
quả sig = 0%, giá trị mối quan hệ 0,53810 điều này cho thấy giữa hai nhân tố này
hai nhân tố này. Bằng kiểm định Gamma , mức ý nghĩa α=10% và giá trị sig từ
phần mềm SPSS tính được cho thấy sig=0%. Vì thế nhận định về mối quan hệ
Bảng 18: Kiểm định mối liên hệ giữa đời sống và diện tích cây công nghiệp
Value Asymp, Std, Errora Approx, Tb Approx, Sig,
Ordinal by Ordinal Gamma ,411
,080
4,674
,000
Nguồn: Kết quả khảo sát tháng 12-2008
này được xác định trình độ học vấn thấp là một trong những nguyên nhân làm
đời sống của những người dân ở đây thấp. Giá trị kiểm định từ kết quả tính toán
Nguyên nhân thứ ba ảnh hưởng đến mức sống của người dân là do tác
cho thấy chỉ số mối quan hệ giữa hai nhân tố này là 0,54, có nghĩa là giữa hai
động của nhân tố khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Trong một xã hội mà
nhân tố này có mối quan hệ thuận với nhau.
nền kinh tế ngày càng theo xu hướng mở, mối quan hệ giữa người nông dân và
các tổ chức tài chính, tín dụng, các nhà doanh nghiệp và nhà nước ngày càng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đặc biệt đối với Việt Nam, một nền kinh tế với
9 Kiểm định cho hai biến định tính dạng ordinal (thứ bậc)
xu hướng sau: (1) thực sự giữa hai nhân tố này không có mối quan hệ với nhau,
Value Approx, Sig,
Nominal by Nominal Phi
,111
,317
Cramer's V
,111
,317
Contingency Coefficient ,110
,317
Nguồn: Kết quả khảo sát tháng 12-2008
nghĩa là người nông dân dù có tiếp cận nguồn vốn hay không để cải thiện khả
năng và hiệu quả sản xuất đều không ảnh hưởng đến đời sống của chính họ
hoặc/và (2) do mức độ hội nhập vào nền kinh tế của người dân còn thấp nên mối
quan hệ giữa hai nhân tố này chưa rõ ràng, có thể có những nguyên nhân giải
thích cho trường hợp này như: do người nông dân chưa quen với việc vay tiền từ
các ngân hàng để phục vụ cho quá trình sản xuất, do phong tục sản xuất nông
nghiệp còn quen với cách làm truyền thống, do sự không thống nhất giữa những
thành viên trong gia đình về quan điểm vay vốn phục vụ cho sản xuất, do năng
lực tiếp cận vốn còn hạn chế do những trở ngại từ phía ngân hàng và một nguyên
nhân lớn nữa là do thiếu sự quan tâm của các ngân hàng, các tổ chức chính trị xã
Những phân tích trên cho thấy có thể tóm lược thành những điểm chính
như sau:
- Trình độ học vấn của người dân ở đây khá thấp, chỉ mới dừng lại ở mức
phổ cập giáo dục theo chương trình của Chính phủ đưa ra đến năm 2010, hầu hết
người dân đều có trình độ học vấn ở bậc tiểu học và xét theo giới tính thì không
11 Theo kết quả thống kê 2008 của Tổng cục thống kê
còn mang tính nhỏ giọt. Trong số những người có nhu cầu về vốn, 41,2% số hộ
12 Kiểm đinh Cramer’V=0,11 với sig = 31,7%.
đã từng tiếp cận được nguồn vốn cho sản xuất nông nghiệp. Đánh giá về khả
- 36 -
- 37 -
năng tiếp cận vốn trong những lần tiếp theo đối với những người đã từng vay vốn
tiêu thụ sản phẩm, quan tâm tiếp cận vốn tín dụng để nâng cao đời sống. Đây
kết quả phân tích cho thấy 41,2% những người đã từng vay vốn hiện đang chỉ
chính là điều kiện thuận lợi để các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, doanh
mới tiếp cận vốn lần đầu, 30,6% là những người đã vay vốn lần 2 và 22,% là
nghiệp có những chính sách, giải pháp tác động thuận tiện để hướng người dân
những người đã vay vốn lần 3. Tác giả đưa ra nhận định rằng nếu người nông
tới những phương án sản xuất mới có hiệu quả hơn.
+ Số vốn vay của người dân phục vụ cho sản xuất nông nghiệp có thể
được xem là không lớn, bình quân là 14,3 triệu đồng dến 17,4 triệu đồng/ hộ và
lượng vốn vay không có sự khác biệt giữa người tiếp cận là nam hay nữ.
- Xét về diện tích đất nông nghiệp của các hộ gia đình, lớn nhất là diện
tích đất rẫy và 100% các hộ có đất rẫy (bình quân 13,3 sào/hộ), thứ hai là diện
tích cây công nghiệp ( 9,2 sào/hộ) và ít nhất là diện tích lúa (02 sào/hộ).
- Đánh giá về đời sống, phần đông người dân (92% ) có đời sống từ trung
nguồn vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất tác tập trung vào các nhân tố chính
như: (1) những trở ngại từ phong tục tập quán của người dân, (2) những trở ngại
từ năng lực tiếp cận nguồn vốn như: tài sản thế chấp, khả năng lập kế hoạch theo
yêu cầu của ngân hàng, (3) những trở ngại phía các ngân hàng, (4) Sự hỗ trợ từ
phía các tổ chức xã hội và (5) Sự phối hợp giữa ngân hàng và các cơ quan nhà
nước.
2.1.4.1. Những trở ngại từ phong tục, tập quán
Về nhân tố phong tục tập quán người dân cản trở họ tiếp cận nguồn vốn
bình trở xuống, trong đó 33% ở mức nghèo và 59% ở mức trung bình. Nguyên
nhân: (i) trình độ học vấn thấp, (ii) diện tích đất sản xuất đang sở hữu ít, (iii)
nguồn vốn sản xuất thấp và khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng còn hạn chế.
Kết quả nghiên cứu về thực trạng đời sống, sản xuất và khả năng tiếp cận
vốn tín dụng của người dân cho thấy có nhiều mâu thuẫn trong nhận thức của
người dân so với thực tế của họ. Tuy nhiên qua nghiên cứu cũng đã cho thấy
tín dụng, tác giả đưa ra nhiều giả thiết cho rằng: (i) sản xuất nương rẫy không cần
vay vốn, (ii) do người dân sản xuất nương rẫy chủ yếu chỉ dựa vào cộng đồng,
(iii) người dân không quen, ngại vay vốn và (iv) do vợ chồng không thống nhất
nhau.
Khảo sát những giả thiết trên ở các hộ dân cho các kết quả như sau:
Phần trăm hợp
lệ
Hoàn toàn không
59
31,4
31,4
đồng ý
Không đồng ý
102
54,3
54,3
Không có ý kiến
4
2,1
2,1
Đồng ý
22
11,7
11,7
Hoàn toàn đồng ý
1
,5
,5
Tổng
188
100,0
100,0
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 – 2008
47,3
47,3
86,2
được tiến hành tùy theo quan điểm và kinh nghiệm của người dân. Mỗi người
5
2,7
2,7
88,8
dân thực hiện theo những phương cách riêng và như vậy là sự tự phát trong sản
21
11,2
11,2
100,0
xuất nương rẫy đang được hầu hết người nông dân lựa chọn cho quá trình sản
188
Hoàn toàn không
đồng ý
Không đồng ý
Không có ý kiến
Đồng ý
Hoàn toàn đồng ý
Tổng
58
30,9
30,9
91
48,4
48,4
10
5,3
5,3
28
14,9
14,9
1
,5
,5
188
100,0
100,0
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 - 2008
cũng có thể làm cho năng lực tiếp cận vốn của người dân bị hạn chế là do (iv)
không thống nhất này không là trở ngại đối với các hộ gia đình hoặc là vợ chồng
điều kiện đi lại khó khăn.
luôn thống nhất trong quá trình vay vốn. Nói cách khác, theo các hộ dân trong
việc vay vốn thì sự thống nhất giữa vợ và chồng không là trở ngại lớn.
Bảng 24: Thái độ người dân với quan điểm cho rằng vợ chồng không thống nhất trong vay vốn
Tần
số
Hoàn toàn không
đồng ý
Không đồng ý
Không có ý kiến
Đồng ý
Hoàn toàn đồng ý
Tổng
Phần
trăm
Phần trăm hợp
lệ
Với trình độ dân trí thấp, điều kiện để vay vốn là người đi vay (nông dân)
phải biết lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đây là yêu cầu mà người nông dân
6,4
10,1
,5
100,0
83,0
89,4
99,5
100,0
người dân đã có lập kế hoạch trong quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt đối
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 – 2008
trình tiếp cận vốn tín dụng. Điều này có thể dẫn đến những giả thiết sau: (i)
với công việc sản xuất nương rẫy, cây công nghiệp nhưng những kế hoạch này là
những tính toán sơ bộ về thời gian sản xuất, chi phí chăm sóc cho cây trồng, vật
nuôi và những lợi nhuận kỳ vọng, mong muốn đạt được. Tuy nhiên, có thể những
Như vậy, đối với những trở ngại từ phong tục tập quán hầu hết người dân
kế hoạch này chưa được xây dựng một cách bài bản, cụ thể theo yêu cầu của
đều cho rằng sản xuất nương rẫy đều cần phải vay vốn đề phục vụ cho quá trình
ngân hàng. Vì thế, có thể nói đây là một trở ngại của người dân trong quá trình
sản xuất, để cải tiến quá trình sản xuất nương rẫy. Tuy nhiên, một vấn đề quan
tiếp cận vốn, (ii) thực tế người dân có thể lập kế hoạch tốt theo yêu cầu của ngân
Bảng 25: Thái độ người dân với quan điểm cho rằng người dân
không biết lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
Tần
số
Hoàn toàn không
đồng ý
Không đồng ý
Phần
trăm
Phần trăm hợp
lệ
chưa chủ động đối với việc tiếp cận các ngân hàng. Đây chính là trở ngại lớn đối
Phần trăm tích
lũy
22
11,7
11,7
11,7
98
1,6
100,0
188
100,0
100,0
Hoàn toàn đồng ý
Tổng
với các hộ dân. Vì cũng với những phân tích ở phần trước cho thấy khi một hộ
dân đã có sự tiếp cận vay vốn ngân hàng thì những lần tiếp cận vốn lần sau sẽ trở
nên dễ dàng hơn.
Để giải quyết vấn đề này cần những sự hỗ trợ từ phía các ngân hàng,
chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội là hết sức quan trọng, từ các chính sách
thông thoáng cho đến các thủ tục hành chính rõ ràng đơn giản hơn nữa để giữa
người dân và các ngân hàng ngày càng giảm dần khoảng cách trong mối quan hệ
vay mượn tín dụng.
Bảng 27: Thống kê thái độ người dân với quan điểm cho rằng
người dân không chủ động tìm vay vốn
Nguồn: Khảo sát thực tế tháng 12 - 2008
Tương tự như trên, giả thiết cho rằng người dân quản lý vốn không hiệu
Tần
số
11,7
11,7
11,7
92
25
46
3
188
48,9
13,3
24,5
1,6
100,0
48,9
13,3
24,5
1,6
100,0
60,6
73,9
98,4
100,0
29,8
38,8
Không có ý kiến
21
11,2
11,2
50,0
Đồng ý
91
48,4
48,4
98,4
3
1,6
1,6