vấn đề con ngời trong tác phẩm hệ t tởng đức
của c. mác và ph. ăngghen. ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh
trên mặt trận lý luận t tởng hiện nay
1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
1.1. Vài nét sơ lợc về thân thế sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăngghen
C.Mác sinh ngày 05 tháng 05 năm 1818 ở thành phố Tơria thuộc tỉnh
Ranh của nớc Phổ, bố ông là luật s. Năm 1835, C.Mác vào học luật ở Trờng
đại học Bon sau một năm chuyển sang học ở Trờng đại học Béclin. Ông
nghiên cứu sâu về lịch sử triết học. Năm 1841 ông bảo về luận án tiến sĩ Sự
khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của
Êpiquya, trong luận án này ông đã có quan niệm sâu sắc về mối quan hệ biện
chứng giữa ý thức và tồn tại thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời. Vào
năm 1482, ông trở thành biên tập viên của Báo Sông Ranh. Dới sự lãnh đạo
của ông, tờ báo đã trở thành cơ quan của phái dân chủ cách mạng. Khoảng
tháng 8 năm 1844 C. Mác gặp Ph. Ăngghen ở Pari, từ đó hai ông cộng tác với
nhau trong nghiên cứu lý luận- xây dựng hệ thống chủ nghĩa Mác nói chung
và triết học Mác nói riêng, và tham gia lãnh đạo phong trào công nhân cho
đến khi ông mất năm 1883. C.Mác tìm thấy ở Ăngghen một ngời cùng t tởng,
một ngời đồng chí nhất mực trung thành và một ngời trợ lực gắn bó mật thiết
với nhau trong sự nghiệp chung.
Ph. Ăngghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 ở Bácmen thuộc tỉnh Ranh
của nớc Phổ. Năm 1834 học ở trờng trung học Enbơphenđơ, ngay từ khi còn
trẻ đã tỏ ra có năng khiếu đặc biệt và nghị lực nghiên cứu, học tập phi thờng;
năm 1837 làm việc cho hãng buôn của bố ở Bácmen. Năm 1841 Ăngghen đi
làm nghĩa vụ quân sự ở Béclin, năm 1841 nghiên cứu tác phẩm Bản chất đạo
Thiên chúa của Phoiơbắc, năm 1842 ông bắt đầu cộng tác với tờ nhật báo của
tỉnh Ranh; cuối tháng 10 năm 1842 hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về
Bácmen. Khi trở về Bác men ông bắt đầu hoạt động, tham gia viết bài...năm
1844 ông viết Tình cảnh nớc Anh gửi cho tạp chí Niên giám Pháp- Đức,
khoảng tháng 8- 1844 sang Pari, ở đây Ăngghen đã gặp C.Mác... Ông đã viết
Đức, giai cấp t sản lại yếu hèn cả về kinh tế lẫn chính trị. Thực tế đó đặt ra
giai cấp nào sẽ lãnh đạo cách mạng Đức? Mặt khác, giai cấp vô sản đã bớc lên
vũ đài lịch sử của mình- trong tất cả các giai cấp hiện tại đang đối mặt với
giai cấp địa chủ phong kiến chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất.
Đơng nhiên để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp vô sản không
những cần phải phát triển nhanh cả về số lợng và chất lợng, mà còn phải có hệ
t tởng cách mạng và khoa học.
Sống trong hoàn cảnh lịch sử đó, C.Mác và Ph. Ăngghen nhận thấy hệ t tởng cũ không còn đáp ứng đợc yêu cầu của cách mạng, nó đã trở nên lỗi thời,
phong trào cách mạng lúc này đòi hỏi phải có một hệ t tởng mới trang bị cho
giai cấp công nhân để nó hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Tình hình phát triển lý luận ở nớc Đức lúc này, phong trào công nhân
đang chịu ảnh hởng t tởng của chủ nghĩa xã hội không tởng của Xanhximông,
Phuriê và Ôoen; triết học của Hêgen, Phoiơbắc. Nhu cầu của phong trào cách
mạng lúc này là: đấu tranh nhằm gạt bỏ ảnh hởng của các loại t tởng phản
động, đồng thời phải xây dựng một lý luận khoa học về xã hội. Muốn thực
hiện điều đó, phải phê phán chủ nghĩa xã hội không tởng, phải tiến hành lợc
bỏ những t tởng sai lầm của các nhà triết học cũ, phải có một thế giới quan
duy vật biện chứng... Điều đó, đã thôi thúc C.Mác và Ph.Ăngghen tiến hành
một cuộc cách mạng về thế giới quan, giải phóng cho nhân dân thoát khỏi ách
nô lệ của tinh thần. Mặt khác, năm 1844 Phoiơbắc tự tuyên bố là nhà cộng
sản, vì thế các thế lực thù địch dấy lên phong trào chống chủ nghĩa cộng sản,
từ đó hai ông đã quyết định cùng nhau viết chung tác phẩm: Hệ t tởng Đứcđây là tác phẩm bút chiến, nhằm đấu tranh, bảo vệ và phát triển lý luận, t tởng
chủ nghĩa cộng sản. Thông qua việc, các ông phê phán những học thuyết triết
học ở Đức đơng thời và các trào lu t tởng chủ nghĩa xã hội chân chính, đồng
thời kế thừa những giá trị t tởng của nhân loại, để trình bày thế giới quan mới
của mình.
Tác phẩm Hệ t tởng Đức, đợc các ông viết từ tháng 11/1845 đến tháng
4/1846 là cơ bản hoàn thành. Tác phẩm sau này bị những ngời xã hội dân chủ
Đức tìm cách dấu đi. Mãi đến năm 1932 tác phẩm mới đợc xuất bản lần đầu
tiên bằng tiếng Đức; năm 1937 đợc xuất bản bằng tiếng Nga.
mới đó nh thế nào.
Nh vậy, qua kết cấu và nội dung của tác phẩm, Mác và Ăngghen muốn
chỉ ra rằng, triết học Mác cũng có tiền đề lý luận là triết học của Hêghen và
triết học của Phoiơbắc, trong đó chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là khâu trung
gian giữa triết học của Hêghen và triết học Mác. Do kế thừa những giá trị triết
học trớc đó và do khái quát thực tiễn xã hội và nhận thức khoa học, triết học
Mác là hình thức phát triển cao của lịch sử triết học.
3. Vấn đề con ngời trong tác phẩm
Trong tác phẩm: Hệ t tởng Đức Mác và Ăngghen có những quan niệm
về chủ nghĩa duy vật lịch sử nh: Thực chất của quan điểm duy vật lịch sử; tính
biện chứng của LLSX và QHSX; mối quan hệ giữa CSHT và KTTT, TTXH và
YTXH; vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp; về cách mạng xã hội; về CNCS;
đặc biệt là nền xản xuất vật chất và con ngời sản xuất vật chất.
Tiền đề xuất phát từ con ngời- đó là con ngời sống, hành động, và
sản xuất vật chất, C.Mác và Ăngghen đã vạch ra cơ sở của toàn bộ đời sống xã
hội đó là sản xuất vật chất: Mác viết: Quan niệm đó về lịch sử là: phải xuất
phát từ chính ngay sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp để xem xét quá
trình hiện thực của sản xuất và hiểu hình thức giao tiếp gắn liền với phơng
thức sản xuất ấy và do phơng thức sản xuất ấy sản sinh ra2.
Thực chất của quan niệm duy vật biện chứng đối với quá trình lịch sử là
việc thừa nhận những tính quy luật khách quan của sự phát triển xã hội do
chính hoạt động vật chất của con ngời tạo nên. Tính chất khách quan của
chúng thể hiện ở chỗ, chúng không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, vào ý thức
con ngời. Các ông phân tích và chỉ ra rằng: quy luật tự nhiên vận động không
phụ thuộc vào con ngời, ngợc lại, quy luật xã hội vận động thông qua quá
2
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 54
Phoiơbắc, đợc xem xét một cách cụ thể, bằng xơng, bằng thịt. Nhng do
Phoiơbắc thiếu một quan điểm thực tiễn, nên chủ nghĩa triết học nhân bản của
ông mang tính chất trực quan. Do đó, trong cuộc sống ông không hiểu đợc bản
chất của con ngời, dừng lại ở con ngời chung chung trừu tợng, phi lịch sử
không gắn với sản xuất vật chất. Trên thực tế, ở điểm này, Phoiơbắc đã thụt lùi
so với các nhà duy vật Pháp. Các nhà duy vật Pháp đã thấy đợc sự phụ thuộc
của con ngời vào hoàn cảnh. Con ngời theo họ, đó là sản phẩm của hoàn cảnh,
hoàn cảnh quyết định bản chất của nó. Tuy nhiên ở họ vẫn cha thoát khỏi cái
vòng luẩn quẩn đó là: Con ngời do hoàn cảnh quyết định, nhng con ngời lại
cải tạo hoàn cảnh. Vì thế , chủ nghĩa duy vật Pháp đã đi tìm bản chất của con
ngời trong bản tính tự nhiên của nó. Trong Luận cơng về Phoiơbắc Mác
viết: Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con ngời là sản phẩm của
những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con ngời đã biến đổi là sản
phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi,- cái
học thuyết ấy quên rằng chính những con ngời làm thay đổi hoàn cảnh và bản
thân nhà giáo dục cũng cần phải đợc giáo dục5.
Tuy nhiên, so với các nhà duy vật Pháp, Phoiơbắc cũng có những bớc tiến
nhất định trong xem xét bản chất của con ngời. Phoiơbắc cho rằng, bản chất
con ngời là tồn tại. Điều đó có nghĩa rằng, muốn hiểu con ngời phải gắn nó
với những điều kiện tồn tại hiện thực của nó. Phoiơbắc phê phán tôn giáo và
khẳng định phải đi tìm bản chất của con ngời ở trần gian là đúng, song hạn
chế của ông cũng nh của chủ nghĩa duy vật cũ là thiếu một quan điểm thực
tiễn. C.Mác chỉ rõ: Khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật, từ trớc đến
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 65.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 39- tr 40.
5 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr10.
3
4
4
ra đạo đức, tình yêu và tôn giáo; theo ông đạo đức của con ngời là tình yêu ngời với ngời, hạn chế hợp lý của bản thân mình để đạt đến hạnh phúc. Ông
cũng cho rằng hạnh phúc là bẩm sinh, hạnh phúc là cơ sở của đạo đức. Mặt
khác ông mong muốn xoá bỏ tôn giáo nhng lại muốn xây dựng một thứ tôn
giáo- tôn giáo tình yêu.
Do thiếu quan điểm thực tiễn đúng đắn nên các nhà duy vật cũ, kể cả
Phoiơbắc, đã không hiểu đợc mối quan hệ giữa t duy ý thức với tồn tại, cũng
có nghĩa là không hiểu đợc con ngời. Do tính chất trực quan trong xem xét,
các nhà duy vật cũ chỉ thấy một bên là tồn tại, một bên là ý thức, không thấy
đợc sự sáng tạo của ý thức, vì thế họ không đủ sức để bác bỏ quan điểm của
chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết về vấn đề này. Phíchtơ cho rằng
cái tôi thuần tuý sinh ra mọi cái. Phoiơbắc đã vạch ra đợc điều vô lý là tại
sao một cái tôi, không có cái gì nữa mà lại sinh ra mọi cái đợc. Nhng ông
không đủ sức để cắt nghĩa một cách khoa học vấn đề đó. Ông không giải thích
đợc vì sao con ngời với 5 giác quan lại nhận thức đợc thế giới. Trong khi đó,
chủ nghĩa duy tâm lại thổi phồng mặt năng động chủ quan của ý thức.
C.Mác cho rằng, chỉ có quan điểm thực tiễn đúng đắn mới khắc phục đợc
những hạn chế đó. Chỉ có xuất phát từ quan điểm thực tiễn chúng ta mới có
thể giải thích đợc vì sao ý thức con ngời phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực
khách quan; vì sao ý thức lại có vai trò to lớn trong cải tạo hiện thực khách
quan. C.Mác khẳng định: Trong con ngời, ý thức thay thế bản năng, hoặc
bản năng của con ngời là bản năng đã đợc ý thức8.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 9.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 29.
8 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 44.
6
7
5
cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên 11. Rõ ràng không có nhu cầu thì con
ngời cũng không làm gì cả; chỉ có nhu cầu và nhu cầu ngày càng tăng thì đó là
động lực trực tiếp thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó con ngời luôn gắn với
thực tiễn- hoạt động sản xuất vật chất.
Ba là, hoạt động sản xuất vật chất hàng ngày, nhằm tái tạo ra đời sống
của bản thân mình. Mác viết: Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân
mình, con ngời bắt đầu tạo ra những ngời khác, sinh sôi nẩy nở- đó là quan hệ
giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình 12. Chỉ có nhu cầu và sản
xuất vật chất thì con ngời mới quan hệ, giao tiếp với nhau, mới xuất hiện nhu
cầu trao đổi, nhu cầu liên kết...và do đó xuất hiện gia đình, xuất hiện xã hội vì
vậy gia đình cũng gắn chặt với xã hội.
C.Mác và Ăngghen cho rằng: Không nên coi ba mặt đó của hoạt động
xã hội là ba giai đoạn khác nhau, mà chỉ là ba mặt, chỉ là ba nhân tố, chúng
tồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịch sử, từ khi con ngời đầu
tiên xuất hiện, và chúng hiện vẫn còn biểu hiện ra trong lịch sử 13. Hơn nữa,
cũng không nên hiểu sản xuất vật chất chỉ là sản xuất ra những t liệu sinh hoạt
cho con ngời, mà phải hiểu hoạt động sản xuất vật chất đó chính là phơng thức
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 29.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 11.
11 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 40.
12 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 41.
13 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 42.
9
10
6
sống của con ngời. Nói một cách khác, sản xuất vật chất không những chỉ quy
Từ quan niệm về sản xuất vật chất, về con ngời hiện thực và vai trò của
nó, C.Mác và Ph. Ăngghen đã vạch ra thực chất mối quan hệ giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội (mặc dù cha sâu sắc) và một số nội duy về chủ nghĩa duy
vật lịch sử mà ở đó vai trò của con ngời không tách rời các quá trình đó- đó
cũng là quan điểm nhất quán của Mác và Ăngghen.
Về tồn tại xã hội, các ông quan niệm đó chính là: quá trình hiện thực của
sản xuất; sự sản xuất vật chất ra đời sống trực tiếp; các hình thức giao tiếp của
con ngời, các hình thức gắn liền với phơng thức sản xuất và do phơng thức sản
xuất ấy sản sinh ra- tức là xã hội công dân ở các giai đoạn khác nhau của nó là cơ sở của toàn bộ lịch sử. Mác viết: Không phải là cái gì khác mà chỉ là sự
biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan
hệ vật chất thống trị đợc biểu hiện dới hình thức t tởng...17. Nh vậy tồn tại xã
hội quyết định hiện thực của sản xuất vật chất của đời sống con ngời, các hình
thức gắn liền với phơng thức sản xuất và do phơng thức sản xuất ấy sinh ra xã
hội công dân.
Chính con ngời, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất
của mình, đã làm biến đổi, cùng với sự tồn tại hiện thực của mình, cả t duy lẫn
sản phẩm t duy của mình. Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính
đời sống quyết định ý thức. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 55.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 43.
16 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 43.
17 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 66- tr 67.
14
15
7
xã hội còn đợc thể hiện ở chỗ: tồn tại xã hội nh thế nào thì ý thức xã hội về
phẩm này lần đầu tiên Mác dùng thuật ngữ kiến trúc thợng tầng, còn cơ sở
hạ tầng vẫn đợc gọi là cơ sở hoặc cơ sở kinh tế, xã hội công dân. Các ông chỉ
rõ, kiến trúc thợng tầng nhà nớc là sản phẩm của cơ sở sản xuất, xã hội công
dân, bao gồm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai
đoạn phát triển nhất định của những lực lợng sản xuất. Nó bao gồm toàn bộ
đời sống thơng nghiệp và công nghiệp của một giai đoạn Xã hội công dân,
theo đúng nghĩa của nó, chỉ phát triển cùng với giai cấp t sản; tuy nhiên danh
từ ấy bao giờ cũng đợc dùng để chỉ tổ chức xã hội ra đời trực tiếp từ sản xuất
và thơng nghiệp và trong bất cứ thời đại nào cũng là cơ sở của nhà nớc và còn
là của kiến trúc thợng tầng t tởng nữa. Mác viết: Xã hội công dân ở những
giai đoạn khác nhau của nó- là cơ sở của toàn bộ lịch sử 20. Với quan niệm nh
vậy, C.Mác và Ph. Ăngghen tiến tới xem xét lịch sử xã hội theo quy luật biện
chứng của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Từ đó, các ông vạch ra sự
vận động của xã hội từ cổ đại đến chủ nghĩa t bản là một quá trình hợp quy
luật. Đặc biệt, các ông đã vận dụng quan điểm đó vào xem xét sự ra đời và
phát triển của chủ nghĩa t bản và rút ra đợc những hệ quả của lý luận triết học
của mình. Đó chính là lý luận về cách mạng vô sản và xây dựng chủ nghĩa
cộng sản.
18
19
20
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 65.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 51.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 54.
8
Về lý luận về cách mạng xã hội, C.Mác và Ph. Ăngghen đã phân tích
bắt đầu kìm hãm sự phát triển ấy; gắn liền với sự kiện ấy, giai cấp vô sản ra đời
gắn với ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa: Trong quá trình phát triển của những lực
lợng sản xuất có một giai đoạn mà trong đó xuất hiện những lực lợng sản xuất
và những phơng tiện giao tiếp chỉ có thể gây tác hại trong khuôn khổ những
quan hệ hiện có...Gắn liền với sự kiện này xuất hiện một giai cấp buộc phải
chịu đựng tất cả gánh nặng của xã hội mà không đợc hởng những phúc lợi xã
hội...là giai cấp sản sinh ra ý thức về tính tất yếu của một cuộc cách mạng triệt
để, ý thức cộng sản chủ nghĩa23.
Hai là, sản xuất vận động trong điều kiện thống trị của một giai cấp nhất
định, biểu hiện tronh hình thức nhà nớc, vì vậy bất cứ cuộc đấu tranh cách
mạng nào cũng nhằm chống lại giai cấp thống trị cũ. Mác viết: Những điều
kiện trong đó những lực lợng sản xuất nhất định có thể đợc sử dụng, là những
điều kiện thống trị của một giai cấp nhất định trong xã hội, giai cấp quyền lực
của nó- quyền lực do sở hữu của nó mang lại,- thờng coá sự biểu hiện duy tâmthực tiễn dới hình thức nhà nớc riêng của mỗi thời kỳ, và vì vậy, mọi cuộc đấu
tranh cách mạng đều nhằm chống giai cấp đã thống trị cho đến lúc bấy giờ24.
21
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 107- tr 109.
22
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 102.
23
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 99.
24
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 100.
thế nào đi nữa- vì bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh
chính trị- xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế28.
Nh vậy, trong quá trình nghiên cứu lịch sử Mác và Ăngghen đã không phủ
nhận mà đánh giá cao vai trò của các nhà triết học trớc đó mà tiêu biểu là triết
học của Hêghen và triết học của Phoiơbắc. Các ông phê phán triết học trớc đó
cha có quan điểm đúng đắn về thực tiễn do đó thiếu triệt để, chỉ duy vật về tự
nhiên, cha thoát khỏi quan niệm duy tâm về lịch sử xã hội. Các ông đã vận
dụng quan điểm duy vật biện chứng vào nghiên cứu lịch sử xã hội và mở rộng
vào nghiên cứu một lĩnh vực đặc thù của thế giới vật chất là tồn tại có hoạt
động con ngời, tồn tại thống nhất, khách quan- chủ quan. Với việc kết hợp
một cách thiên tài giữa quá trình cải tạo triệt để chủ nghĩa duy vật và cải tạo
những quan điểm duy tâm về lịch sử xã hội, Mác và Ăngghen đã làm cho chủ
nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới
tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài ngời, chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Mác là thành tựu vĩ đại nhất của t tởng khoa học29.
Nh vậy, nếu nh ở giai đoạn trớc, các tác phẩm trớc, C.Mác và Ph.
Ăngghen còn chịu ảnh hởng t tởng của Phoiơbắc, đôi chỗ còn căn cứ vào
Phoiơbắc để đấu tranh với các quan điểm phản diện, thì đến tác phẩm này, các
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 100.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập. 3, tr 100- tr 101.
27 C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, t 21, tr 439.
28 C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, t 21, tr 441.
29 Lịch sử triết học, Nxb QĐND, Hà Nội, 2003, tr 216.
25
26
10
ông đã đoạn tuyệt với Phoiơbắc và xây dựng đợc hệ thống lý luận mới, độc lập
Mác và Ăngghen đã giải đáp đợc các vấn đề mà trớc đó nhân loại cha
giải đáp đợc hoặc giải đáp cha triệt để. Đồng thời các ông tiếp tục nghiên cứu,
bổ sung, hoàn thiện, phát triển đến đỉnh cao- hoàn bị cả về lý luận và thực tiễn
của đời sống xã hội. Hệ thống lý luận đó thống nhất thế giới quan và phơng
pháp luận, cách mạng và khoa học, lý luận và thực tiễn, nhận thức thế giới và
cải tạo thế giới. Mác đã chỉ ra: Dới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ
đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp t sản; vì mỗi hình thái hình
thành đều đợc phép biện chứng xét trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất
thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trớc một cái gì cả,
và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng30.
Mặt khác, với phát kiến ra chủ nghĩa duy vật lịch sử- một thành quả vĩ
đại, Mác và Ăngghen đã trở thành nhà t tởng vĩ đại, các ông đã đa triết học
của mình trở thành thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, là chìa
khoá để khám phá, nắm bắt bí mật của lịch sử xã hội, với quan điểm nhất
nguyên duy vật các ông khẳng định sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống
30
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 23, tr 35- tr 36.
11
xã hội; xã hội loài ngời trải qua các hình thái kinh tế- xã hội từ thấp đến cao là
một quá trình lịch sử tự nhiên; xã hội bóc lột tồn tại dựa trên chế độ t hữu về t
liệu sản xuất; trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp là nguồn gốc động
lực trực tiếp thúc đẩy các xã hội có giai cấp phát triển...đó là những kết quả
của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, sự cần cù sáng tạo và thiên tài
của Mác và Ăngghen. Lênin viết: Thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã
giải đáp đợc những vấn đề mà t tởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra31.
Nh vậy, với phân tích ở trên chúng ta khẳng định rằng triết học Mác là
xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn
khoa học mà những ngời xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi
mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống33.
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 23, tr 49.
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, t 36, tr 785.
33 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 4, tr 232.
31
32
12
Bốn là, thông qua tác phẩm này chúng ta thấy đợc tính nhân đạo sâu sắctính nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, đó là lý luận khoa học xuất phát từ con ngời, vì mục tiêu giải phóng con ngời, trớc hết là giải phóng giai cấp công nhân,
nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức bóc lột, phát triển tự do, toàn diện con
ngời.
Mong muốn xây dựng một xã hội mà ở đó không có ngời bóc lột ngời,
con ngời đợc giải phóng và đợc phát triển toàn diện là mong muốn của các
nhà t tởng trớc Mác. Song những mong muốn đó không trở thành hiện thực vì
nó không đi vào nghiên cứu xã hội cụ thể, con ngời cụ thể, thiếu đờng lối, phơng pháp cách mạng...do đó nó chỉ là khẩu hiệu chung chung và rơi vào chủ
nghĩa xã hội không tởng mà thôi. Chủ nghĩa xã hội mở đầu là Cách mạng
Tháng mời Nga (năm 1917) đã đánh dấu một bớc ngoặt lịch sử nó đã trở thành
chủ nghĩa xã hội hiện thực- phong trào cách mạng hiện thực, nó đã phát động
đợc giai cấp công nhân và quần chúng cách mạng dới sự lãnh đảo của đảng
cộng sản- đội tiền phong của giai cấp công nhân- lãnh tụ của phong trào đứng
lên làm cách mạng và đã giành đợc thắng lợi và đã trở thành một hệ thống xã
hội chủ nghĩa đối trọng với chủ nghĩa t bản. Đó là bằng chứng đầy sức thuyết
phục cả về lý luận và thực tiễn- khẳng định tính chân lý, tính hiện thực và sức
sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung và triết học Mác nói
riêng.
Triết học Mác- Lênin có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống xã hội. Sự
Tuy nhiên một số Đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế vẫn
kiên định đờng lối lấy lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng, kim chỉ
nam cho hành động của đảng, kịp thời đổi mới bổ sung, phát triển lý luận ấy
phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi nớc do đó không những đang đứng
vững mà còn có sự phát triển mạnh mẽ, điều đó khẳng định chủ nghĩa MácLênin nói chung, triết học Mác nói riêng không hề bị lỗi thời nh kẻ thù đang
xuyên tạc.
Năm là, có thể nói đây là tác phẩm thể hiện xuất sắc nhất tính đảng- bút
chiến của Mác và Ăngghen. Lần đầu tiên trong lịch sử, các ông đã công khai
tính đảng của triết học- một hệ thống triết học mang tính triệt để khi nó đứng
hẳn trên lập trờng của một trong hai phái chính của triết học- chủ nghĩa duy
vật hoặc chủ nghĩa duy tâm. Lênin nhấn mạnh: Triết học hiện đại cũng có
tính đảng nh triết học hai nghìn năm về trớc36. Mác và Ăngghen biến triết
học của mình thành vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản. Do gắn bó mật thiết
với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, triết học Mác đã trở thành
hạt nhân lý luận khoa học cho thế giới quan cộng sản của giai cấp công nhân.
Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong triết học Mác là sự thống
nhất hữu cơ với nhau. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận của chủ nghĩa
Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bớc chuyển biến về chất của phong
trào từ trình độ tự phát lên tự giác- một điều kiện tiên quyết để giai cấp công
nhân thực hiện đợc sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình. Bản thân triết học nó
không có mục đích tự thân mà triết học sinh ra do nhu cầu của phe phái...trong
xã hội có giai cấp tính đảng biểu hiện ra là tính giai cấp. Lênin viết: Hai
nghìn năm phát triển của triết học cũng chỉ xoay quanh trục Đêmôcrít- Platôn;
Hêghen đối xử với Đêmôcrít hoàn toàn nh một ngời mẹ ghẻ, nhà duy tâm
không chịu đựng nổi tinh thần duy vật; các nhà duy tâm t sản hiện đại đối với
Đêmôcrít nh một kẻ thù còn sống, điều đó minh hoạ đặc sắc cho tính đảng của
triết học37.
Sáu là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là học trò xuất sắc của Mác, Ăngghen,
Lênin với thế giới quan, t duy triết học duy vật biện chứng, Ngời đã tìm thấy
nghĩa Mác. Với tinh thần kế thừa tinh hoa t tởng văn hoá nhân loại chúng ta
phải biết kế thừa, đồng thời phải biết phát triển, vận dụng sáng tạo lý luận chủ
nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng- nắm vững chủ nghĩa duy vật
biện chứng và phép biện chứng duy vật vào giải quyết các vấn đề trong đời
sống xã hội- trong thực tiễn của nền sản xuất vật chất. Giờ đây triết học Mác
không những giải thích thế giới mà vấn đề là cải tạo thế giới: Các nhà triết
học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau; vấn đề là cải tạo thế
giới40. Nắm vững lý luận và phơng pháp luận khoa học của chủ nghĩa MácLênin, t tởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ
đảng viên, đặc biệt là lực lợng vũ trang trong nhận thức cũng nh trong hành
động, trong mỗi việc làm, nh Ăngghen viết: Một dân tộc muốn đứng vững
trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có t duy lý luận41. Bởi vì,
Ăngghen đã chỉ ra rằng: mỗi lần có phát minh vạch thời đại, ngay cả trong
lĩnh vực tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi phải thay đổi hình
thức của nó. Trên thực tế triết học Mác đã, đang và sẽ trở thành thế giới quan
khoa học và phơng pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển của mọi khoa
học cụ thể nói chung và cho phong trào công nhân nói riêng. Sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học ngày nay càng chứng tỏ sự cần thiết phải có t duy biện
chứng duy vật và ngợc lại, chỉ có dựa trên những thành tựu của khoa học hiện
đại để phát triển thì triết học Mác mới không ngừng nâng cao đợc sức mạnh
cải tạo thế giới của mình.
Đấu tranh không khoan nhợng với chủ nghĩa duy tâm, xét lại đang xuyên
tạc chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh kể cả trong nhận thức cũng nh
trong hành động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lực lợng vũ trang hiện nay, đồng thời bám sát cuộc sống, tổng kết kinh nghiệm
phát triển lý luận phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đó là nhiệm vụ của những
ngời cộng sản hiện nay. Kẻ thù đang tìm cách tuyên truyền xuyên tạc chống
lại Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta hiện nay, bóp méo chủ nghĩa Mác chúng
đang rêu rao về giải phóng, phát triển toàn diện, dân chủ, nhân quyền con ngời phi giai cấp, đó chỉ là con ngời tộc loại, con ngời toàn thể, một cách chung
chung...mục đích nhằm che đậy đấu tranh giai cấp mà thôi; điều chỉnh quan
hệ sản xuất, các hình thức sở hữu v.v.nhng tự bản thân chủ nghĩa t bản không
thể vợt qua chính nó. Đòi hỏi các Đảng ta và các lực lợng vũ trang nhân dân,