Tiểu luận giáo dục công dân: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân bài 4 GDCD lớp 12: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội. - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận

dụng phương pháp dạy học bằng tình huống

nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trong dạy
học môn Giáo dục công dân bài 4- GDCD lớp 12: Quyền
bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống
xã hội.

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A

Hà Tĩnh, năm 2015

1


I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, đổi mới và nâng cao chất
lượng hiệu quả GD&ĐT là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đào
tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Nội dung quan trọng của nó chính
là đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực tự giác của học
sinh, lấy người học làm trung tâm như NQ hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khóa VIII
đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục đào tạo phải bằng: “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy


tích cực trong đó phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp thường xuyên
được sử dụng.
2. Mục đích nghiên cứu
- Khắc phục tình trạng đọc chép do lượng kiến thức của bài học quá nhiều
- Tạo không khí thoải mái trong giờ học, phát huy được tính sáng tạo của học sinh,
kích thích học sinh suy nghĩ tích cực hơn, tăng khả năng tư duy và rèn luyện kĩ năng
trình bày kiến thức theo một hệ thống logic.
- Giúp học sinh ghi nhớ bài nhanh hơn, tiết kiệm thời gian.
- Rèn luyện kĩ năng sống, phát triển các năng lực cho học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dạy học bằng phương pháp tình huống bài 4 chương
trình GDCD lớp 12: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời
sống xã hội.
4. Giả thiết nghiên cứu
Theo Soul.Robinsohn dạy học theo tình huống dựa trên quan điểm giáo dục:
“ Giáo dục là chuẩn bị cho người học hướng vào giải quyết các tình huống của cuộc
sống”.
Trong các phương pháp dạy học hiện nay thì phương pháp dạy học theo tình
huống là một phương pháp khá phổ biến trong thực hiện các mục tiêu giáo dục. Tạo
cho người học khả năng trình bày những điều đã học và suy nghĩ về điều đó. Tạo điều
kiện để người học trao đổi lẫn nhau và trao đổi với giáo viên.
Như vậy dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, theo đó việc dạy
học được tổ chức theo những chủ đề phức hợp, gắn với tình huống trong thực tiễn
cuộc sống thông qua đó người học có thể vận dụng các tình huống của cuộc sống để
hình thành các kĩ năng, năng lực của mình.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Hướng dẫn học sinh học bài bằng phương pháp tình huống
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu:

1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
1.1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học
Trong các tác phẩm về lý luận dạy học, ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về
phương pháp dạy học như:
Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp
thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt
tới mục đích dạy học .
Bất cứ phương pháp nào cũng là hệ thống những hành động có mục đích của
giáo viên, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh nhằm đảm bảo
cho trò lĩnh hội được nội dung trí dục.
Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò, trong quá
trình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên cứu, mà kết quả là trò
lĩnh hội được nội dung trí dục.
Những định nghĩa này đã nêu lên được một cách khái quát về phương pháp dạy
học. Qua quá trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ta thấy rằng giữa dạy và học
có mối liên hệ mật thiết với nhau.

4


Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, chúng là
hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau về mục đích, tác
động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sự thống nhất
này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở
lại đối với phương pháp dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp học
cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằng
lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánh

nhớ những điều thầy giảng.
Giai đoạn 2: Xử lý thông tin khi tự học.
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là sự tự học để xử lý thông tin, biến nó
thành học vấn riêng. Ở đây trò phải sử dụng toàn bộ các thao tác tư duy.
Giai đoạn 3: Vận dụng thông tin để giải bài tập.
Đây là bước kết thúc của quá trình lĩnh hội một vấn đề. Nhiệm vụ của nó là vận
dụng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo việc giải quyết các bài tập nhận thức.
Trong quá trình dạy và quá trình học thì quá trình dạy có vai trò chỉ đạo trong
cả ba giai đoạn của quá trình học, quá trình dạy hợp lý thì quá trình học sẽ đạt kết quả
cao.
1.1.1.2. Quan niệm về tình huống và phương pháp dạy học bằng tình huống
* Quan niệm tình huống:
“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn
xung đột. Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các phương án giải
quyết khác nhau. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có cốt
truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phức hợp được viết ra để minh chứng
một vấn đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế. Tình huống dạy học là những
tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huồng thực, được cấu trúc hóa nhằm mục
đích dạy học”.
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài
toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết
được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tình
huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải
quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta
chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới
mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con người
tìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt

Phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp dạy học mà trong đó
giáo viên đặt học sinh vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi họ gặp mâu thuẫn khách
quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu
cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó là bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là
họ giành được kiến thức và cả phương pháp giành kiến thức .
Với phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một vấn đề sau đó cho các
em thấy rõ lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải quyết nó nhưng đồng
thời cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu kiến thức cần thiết nhưng
thiếu sót này có thể khắc phục nhờ một số nỗ lực của nhận thức.
Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:
Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh chưa biết cần
tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới.
Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo nên nhu
cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học sinh chấp nhận mâu
thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.

7


Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh.
Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích cần đạt
được) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề.
Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của đổi mới
nội dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một trong những phương
pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả về
lý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra
được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc không
sát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tình
huống, hoặc giải quyết sai.

nhiều môn học khác nhau.
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình huống giúp
người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra nhưng bản thân chưa đủ
kiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ khả
năng phát sinh những tình huống mà người học và thậm chí cả người dạy chưa gặp bao
giờ. Trong tình huống này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả năng tư duy
độc lập, sáng tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả
năng người học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ sung thêm kiến thức cho
cả người học lẫn người dạy.
Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học có thể
rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết
trình”. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học có thể thành công trong
tương lai. Học bằng tình huống giúp người học dễ dàng nhận ra những ưu điểm và hạn
chế của bản thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với các học viên khác
trong quá trình giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm việc
nhóm, tranh luận và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng tình
huống cũng giúp người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cách
khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách lôgic; hiểu biết thực tế sâu
rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phản
biện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ dàng chấp
nhận các ý kiến khác biệt, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làm
phong phú hơn vốn kiến thức của mình.
Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ
năng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thể
đạt được cả ba mục tiêu này.
Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năng
nghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập của
học sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việc
phân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấn
đề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người có

độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên,
hiện nay có khá nhiều học sinh không quen với phương pháp học bằng tình huống, họ
không có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ lại, không hợp tác từ đó làm giảm hiệu
quả của phương pháp dạy học bằng tình huống”.
Thứ ba: “Phương pháp dạy học bằng tình huống tốn nhiều thời gian của người
học”. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất định,
giáo viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ thống, logic
cho học sinh. Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp học bằng tình huống, học
sinh phải tự mình tìm kiếm và đọc tài liệu, xử lý thông tin nên sẽ tốn thời gian hơn gấp
nhiều lần so với phương pháp học truyền thống. Phương pháp dạy học bằng tình
huống đòi hỏi giảng viên phải là người tích cực, luôn đổi mới, cập nhật thông tin, kiến
thức và kỹ năng mới. Trong xã hội hiện đại, các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội
và pháp luật thay đổi một cách nhanh chóng nên “tuổi thọ” của một tình huống rất
ngắn. Có khi giảng viên mới xây dựng xong một tình huống, giảng dạy được một lần
đã phải thay đổi cho phù hợp.

10


Có ý kiến cho rằng dạy học bằng tình huống là cách để thầy “nghỉ ngơi” vì
trong khi người học phải làm việc, người dạy không có việc gì để làm. Đây là một ý
kiến sai lầm vì phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp
hơn trong giảng dạy, như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức
và khuyến khích người học thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện…
Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụng
phương pháp này.
1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống
1.1.3.1. Các loại tình huống dạy học
Áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụng
tình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyết

mở của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể xây dựng
các tình huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở là các vụ việc mà trong đó
lời giải để ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau. Loại tình huống này rất tốt trong
việc kích thích khả năng tư duy và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khi học sinh xử lý
các tình huống thuộc loại này, vấn đề mấu chốt không phải là bản thân kết luận mà là
cách thức để đi đến kết luận đó. Ngược lại, tình huống đóng là các tình huống dẫn tới
một kết quả cố định. Học sinh vẫn có thể chủ động xử lý tình huống xong giáo viên sẽ
định hướng cho học sinh tới kiến thức chính thống. Loại tình huống này rất tốt để giáo
viên bổ sung thêm cho học sinh kiến thức nội dung.
1.1.3.2. Cách thức xây dựng một tình huống dạy học
Đối với giáo viên tình huống được xây dựng nên là đề giải quyết một vấn đề
nào đó và qua quá trình đó giúp học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, quy trình xây
dựng bài tập tình huống của giáo viên thường đi theo chiều ngược lại với quy trình giải
quyết bài tập tình huống của học sinh. Quy trình này có thể được mô tả bằng các bước
sau:
Bước 1 - Xác định kiến thức cần truyền đạt.
Bước 2 - Hình thành vấn đề.
Bước 3 – Hình thành tiểu vấn đề.
Bước 4 – Xây dựng tình tiết sự kiện của tình huống.
“Việc xây dựng tình huống luôn bắt đầu từ nội dung kiến thức cần truyền đạt
tới học sinh. Nội dung kiến thức này có thể là một khái niệm nào đó giáo viên muốn
học sinh nắm bắt được và phân biệt được với những khái niệm khác hay cũng có thể là
một nguyên tắc ứng xử nào đó mà giáo viên muốn học sinh hiểu và áp dụng được vào
thực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề mà
thông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếp
thu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đề
nhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấn
đề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tình
huống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựng
tình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đã

- Quan niệm của học sinh, phụ huynh và xã hội vẫn xem GDCD là môn phụ, không
cần thiết phải đầu tư học tập, điều này ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình học tập, tiếp
nhận tri thức của học sinh. Các em hoàn toàn không chủ động tiếp nhận tri thức, ít
hứng thú say mê vì nghĩ mất thời gian mà lại không phục vụ thi cử…..
Chương 2: Sử dụng tình huống một cách có hiệu quả khi dạy học bài 4 : Quyền
bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - Chương trình
GDCD lớp 12
2.1. Nguyên lí ứng dụng phương pháp tình huống
Phương pháp tình huống là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh tự lực nghiên
cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề do tình huống đặt ra.
2.1.1.Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tình huống
Tính tích cực của phương pháp tình huống là không thể phủ nhận. Tuy nhiên trong quá
trình ứng dụng cũng gặp một số khó khăn nhất định. Cụ thể:
*Ưu điểm
- Nâng cao tính thực tiễn của môn học;
13


- Nâng cao tính chủ động, sáng tạo và hứng thú cho học sinh;
- Nâng cao kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng phân tích, kĩ năng giải quyết vấn đề, trình
bày và phản biện ý kiến trước đám đông cho học sinh;
- Giáo viên tiếp thu được những kinh nghiệm, những cách giải quyết mới từ học sinh
để làm phong phú thêm bài giảng và có thể điều chỉnh nội dung tình huống nghiên cứu
cho phù hợp;
- Nếu tình huống tốt có tính chất liên kết lí thuyết rất cao.
*Hạn chế
- Giáo viên:
+ Tăng khối lượng làm việc;
+ Luôn luôn cập nhật thông tin, kiến thức và kĩ năng mới. Đây là một quá trình liên tục
đòi hỏi thời gian và sức lực;

- Sau khi học sinh giải quyết xong yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên là phải nhận xét,
đánh giá, động viên bằng nhiều hình thức( có thể cho điểm) để khuyến khích các em.
- Từ tình huống học sinh vừa giải quyết xong, giáo viên liên hệ với lí thuyết bài học, từ
đó giúp các em nắm vững và ghi nhớ nội dung cần thiết.
2.2. Hướng dẫn học sinh học bài 4 - GDCD 12: Quyền bình đẳng của công dân
trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội bằng phương pháp tình huống
Như chúng ta biết tình huống để sử dụng trong dạy học có thể yêu cầu học sinh
chuẩn bị. Nhưng để chủ động giáo viên nên chuẩn bị những tình huống phục vụ cho
bài dạy của mình một cách chu đáo và có chọn lọc.
Sau khi có tình huống giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị các phương tiện vật
chất cần thiết để phục vụ cho việc giải quyết tình huống.
Giáo viên cần phải nhận thức rõ việc đưa ra tình huống để các em giải quyết
với mục đích là tiếp cận kiến thức cơ bản của bài học. Do vậy trong quá trình hướng
dẫn học sinh làm việc giáo viên cần định hướng tránh việc sa đà vào giải quyết theo
quan điểm cá nhân, làm loãng vấn đề, thậm chí đi chệch ý tưởng thiết kế ban đầu. Đây
là điều hết sức cấm kị, giáo viên tuyệt đối phải tuân thủ.
Tương ứng với tâm thế đó giáo viên cũng cần hình thành ở học sinh tâm thế
chủ động tiếp nhận tình huống, các em hiểu đây là những tình huống giả định, phải
vận dụng kiến thức môn học để giải quyết.
2.3. Phương pháp áp dụng dạy học theo tình huống vào bài 4 – GDCD 12: Quyền
bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội.
Để thực hiện thành công phương pháp này giáo viên cần phải biết kết hợp một
cách nhuần nhuyễn với các phương pháp và kĩ thuật dạy học khác.
Bản thân tôi với kinh nghiệm dạy học đã từng có, tôi đã kết hợp cùng với
phương pháp thảo luận nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn và kĩ thuật phòng tranh.
Khi thực hiện bài dạy tôi phân lớp thành 3 nhóm. Mỗi nhóm thực hiện một nội
dung của bài học. Trong quá trình thực hiện thảo luận nhóm tôi sẽ thực hiện kĩ thuật
khăn trải bàn. Sau khi giáo viên nêu tình huống xong HS làm việc cá nhân ghi ý kiến
vào phần phiếu của mình. Sau khi cá nhân làm việc xong nhóm sẽ thảo luận dưới sự
điều hành của nhóm trưởng, thống nhất ý kiến, thư kí sẽ ghi ý kiến của nhóm mình vào

người chú để lại. anh Nam đã đăng kí sở hửu tài sản riêng. Sau khi kết hôn anh Nam
đem bán căn nhà đó mà không cần hỏi ý kiến vợ.
Câu hỏi: Anh Nam có quyền đó không? Vì sao?
- Quan hệ bố mẹ và con cái:
Tình huống: Gia đình anh Thắng và chị Nga có 2 đứa con. Anh Thắng đi làm và giao
toàn quyền quản lí và nuôi dạy con cái cho vợ. Anh Thắng cho rằng mình đi làm kiếm
tiền, vợ ở nhà nuôi dạy con cái, trông nom nhà cữa, mỗi người mỗi việc nên anh không
quan tâm tới việc dạy dỗ con cái.
Câu hỏi: Hãy trình bày quan điểm của em về tình huống trên?
- Bình đẳng giữa lao động:
Tình huống: Công ty may X cần tuyển 100 lao động vào làm công nhân. Yêu cầu là
tuổi từ 18 đến 35, có sức khoẻ tốt. Sau khi thông báo tuyển dụng có rất nhiều người
đến xin việc ( Số người xin việc gấp hai lần người tuyển) cuối cùng công ty X củng
tuyển đủ người. Trong những lao động vừa được tuyển có 90 người nam, 10 người nữ
mặc dù điều kiện của nam và nữ khi đến tuyển dụng là như nhau.
16


Câu hỏi: Hãy trình bày quan điểm của mình trước tình huống trên?
Tình huống: Trong xí nghiệp sản xuất đồ mĩ nghệ A, anh Minh có tay nghề rất cao.
Anh thiết kế và tạo ra niều mẫu sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng. Công ty đã
trả lương cho anh cao gấp đôi so với những lao động khác.
Câu hỏi: Việc công ty trả lương cao như thế có bị coi là phân biệt đối xử trong thực
hiện quyền lao động không?
2.5. Thiết kế giáo án thử nghiệm
I. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức
- Nêu được một số quyền bình đẳng của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
- Nêu được trách nhiệm của Nhà nước đối với việc đảm bảo cho công dân thực hiện

nhân và gia đ́nh ở nước ta là: b́nh đẳng giữa vợ
và chồng, b́nh đẳng giữa các thành viên trong
gia đ́nh.
- B́ình đẳng trong hôn nhân được thể hiện trong
quan hệ giữa vợ và chồng: vợ, chồng có nghĩa
vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia
đ́nh.
- Quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong
gia đ́nh được pháp luật quy định và được Nhà
nước đảm bảo thực hiện.
a Cách thực hiện:
- Bình đẳng giữa vợ và chồng:
Tình huống: Chồng chị An ngoại tình. Chị An
biết chuyện liền đi rêu rao cho cả cơ quan
chồng biết chuyện với ý định để chồng chị xấu
hổ không dám làm thế nữa, ân hận và sẽ quay
về với vợ con.
Câu hỏi: Theo em cách cư xử của chị An như
vậy có đúng không? Vì sao?
- Trong quan hệ nhân thân:
Tình huống: Một người chồng do quan niệm vợ
mình không đi làm, chỉ ở nhà làm công việc nội
trợ không thể quyết định được việc lớn nên khi
bán xe ( tài sản chung của hai vợ chồng đang sử
dụng vào công việc kinh doanh của gia đình) đã
không bàn bạc với vợ. Người vợ đã phản đối
không đồng ý bán.
Câu hỏi: Theo em người vợ có quyền đó
không? Vì sao?
- Trong quan hệ tài sản:

Tình huống: Gia đình anh Thắng và chị Nga có
2 đứa con. Anh Thắng đi làm và giao toàn
quyền quản lí và nuôi dạy con cái cho vợ. Anh
Thắng cho rằng mình đi làm kiếm tiền, vợ ở
nhà nuôi dạy con cái, trông nom nhà cữa, mỗi
người mỗi việc nên anh không quan tâm tới
việc dạy dỗ con cái.
Câu hỏi: Hãy trình bày quan điểm của em về
tình huống trên?
* Thế nào là b́nh đẳng trong hôn nhân và gia
đ́nh?
GV giải thích cho HS thấy được hôn nhân là
quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đă kết hôn.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đ́nh
hạnh phúc, thực hiện các chức năng sinh con,
nuôi dạy con và tổ chức đời sống vật chất, tinh
thần của gia đ́nh.
GV giúp HS hiểu khái quát sự b́nh đẳng trong
hôn nhân và gia đ́nh:
Trong hôn nhân và gia đ́nh có các mối quan hệ
chủ yếu như: quan hệ giữa vợ và chồng, quan
hệ giữa cha, mẹ và các con, quan hệ giữa các
anh, chị, em, và quan hệ giữa các thành viên
khác trong gia đ́nh.
B́nh đẳng trong hôn nhân và gia đ́nh được hiểu
là b́nh đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các
thành viên trong các mối quan hệ đó, ở phạm vi
gia đ́nh trên nguyên tắc công bằng, dân chủ, tôn
trọng lẫn nhau và không phân biệt đối xử.
* Nội dung b́ình đẳng trong hôn nhân và gia

có quyền lựa chọn nghề nghiệp chính đáng, nơi
cư trú, tín ngưỡng, tôn giáo,…
+ Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và
chồng bao gồm: quyền sở hữu tài sản chung
(chiếm hữu,sử dụng, định đoạt), có quyền có tài
sản riêng (có trước khi kết hôn hoặc được thừa
kế riêng, được tặng, cho riêng), quyền thừa kế,
quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng,..
GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:
GV chia nhóm và giao câu hỏi:
T́nh trạng bạo lực trong gia đ́nh mà nạn nhân
thường là phụ nữ và trẻ em là vấn đề đang được
quan tâm ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt
Nam. Theo em, đây có phải là biểu hiện của bất
b́nh đẳng không?
Một người chồng do quan niệm vợ ḿnh không
20

Bình đẳng giữa cha mẹ và con
Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
đối với con; cùng nhau thương yêu, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của con,…
Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa
các con, ngược đăi, hành hạ, xúc phạm con
(kể cả con nuôi); không được lạm dụng sức
lao động của con chưa thành niên; không xúi
giục, ép buộc con làm những việc trái pháp
luật, trái đạo đức xă hội.
Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, chăm

những tổn thương nặng nề về thân thể, bị khủng
bố về tinh thần, lo sợ, hoang mang.
Bạo lực trong trong gia đ́nh thể hiện cách ứng
xử không b́nh đẳng, thiếu dân chủ khiến phụ nữ
và trẻ em phải chịu thiệt tḥi. Đó là hành vi vi
phạm các quy định của Luật Hôn nhân và Gia
đ́nh và Luật B́nh đẳng giới . Do đó, bạo lực
trong gia đ́nh cần phải bị lên án và xử lí thật
nghiêm khắc.
+ Người vợ có quyền phản đối, không đồng ý
bán xe ô tô bởi đó là tài sản chung của vợ và
chồng đang sử dụng vào việc kinh doanh của
gia đ́nh. Theo quy định của Luật Hôn nhân và
Gia đ́nh, việc mua, bán liên quan đến tài sản
chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy
nhất của gia đ́nh phải được bàn bạc, thoả thuận
của cả vợ và chồng.
GV kết luận: Vợ, chồng b́nh đẳng với nhau, có
nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt
trong gia đ́nh.
ù B́nh đẳng giữa các thành viên của gia đ́nh
GV giảng:
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đ́nh:
quan hệ giữa cha, mẹ và con; giữa ông, bà và
21


cháu; giữa anh, chị, em với nhau được thực
hiện trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, đối xử với
nhau công bằng, dân chủ, cùng nhau chăm lo

cảnh đó, cần tới sự giúp đỡ của những người
thân trong gia đ́nh như ông, bà, cô, chú; của
thầy, cô, bạn bè; của chính quyền địa phương,
các tổ chức đoàn thể;…
22


GV kết luận: Các thành viên trong gia đ́nh có
quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau
và có nghĩa vụ quan tâm, chăm lo đời sống
chung của gia đ́ình.
* Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo
đảm quyền b́ình đẳng trong hôn nhân và gia
đ́nh
GV cho học sinh đọc thêm
IV.Củng cố và luyên tập
Cho hoc sinh làm bài tập t́ình huống sau:
Ngôi nhà gia đ́ình chị H sống là do bố mẹ chị
mua cho khi chị đi lấy chồng do đó cả hai vợ
cḥồng chị đứng tên sở hữu. Nay mẹ chị mắc
bệnh tim nặng cần số tiền lớn để mổ.Chị muốn
bán ngôi nhà đang ở đẻ cho mẹ chữa bệnh
.chồng chị không đồng ý cho rằng nhà bây giờ
là của vợ và chồng chị không có quyền bán.
Hỏi: Chị H có quyền bán nhà của ḿnh không?
nếu khong ly hôn nhưng muốn chia tài sản
chung có được không?
Giáo viên đọc to bài 8 sgk sau đó gọi học sinh
đứng dậy trả lời
Đơn vị kiến thức 2:

Câu hỏi: Việc công ty trả lương cao như thế có
bị coi là phân biệt đối xử trong thực hiện quyền
lao động không?
* Thế nào là b́nh đẳng trong lao động?
GV cho HS trao đổi trả lời câu hỏi:
\
Hiện nay, một số doanh nghiệp ngại nhận lao
động nữ vào làm việc, v́ vậy, cơ hội t́m việc
làm của lao động nữ khó khăn hơn lao động
nam. Em có suy nghĩ ǵ trước hiện tượng trên?
GV hỏi tiếp:
Nếu là chủ doanh nghiệp, em có yêu cầu ǵ khi
tuyển dụng lao động? V́ sao?
HS trả lời.
GV giảng:
Việc làm là vấn đề mấu chốt đầu tiên để người
lao động thực hiện quyền lao động của ḿnh.
Pháp luật quy định mọi công dân đều có quyền
làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm
phù hợp với khả năng của ḿnh, không bị phân
biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tôn giáo…, đó
24


là cơ sở để công dân b́nh đẳng trong thực hiện
quyền lao động.
Tuy công dân thực hiện quyền lao động trên cơ
sở b́nh đẳng, nhưng để có việc làm, công dân,
dù nam hay nữ cần có ư thức trong việc học
nghề và nâng cao tŕnh độ chuyên môn, bởi

+ Điều kiện an toàn, vệ sinh lao động…
25

2. B́ình đẳng trong lao động
a) Thế nào là b́ình đẳng trong lao động?
B́ình đẳng trong lao động được hiểu là b́ình
đẳng giữa mọi công dân trong thực hiện
quyền lao động thông qua việc t́m việc làm,
b́ình đẳng giữa người sử dụng lao động và
người lao động thông qua hợp đồng lao động,
b́ình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ
trong từng cơ quan, doanh nghiệp và trong
phạm vi cả nước.

B́ình đẳng
- Thực hiện quyền lao động.
- hợp đống lao động.
- lao động nam và lao động nữ

b) Nội dung cơ bản của b́ình đẳng trong lao
động
Công dân b́ình đẳng trong thực hiện quyền
lao động
Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa
chọn việc làm và nghề nghiệp phù hợp với
khả năng của ḿnh, không bị phân biệt đối xử
về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo,
nguồn gốc gia đ́nh, thành phần kinh tế.
Người lao động có tŕnh độ chuyên môn, kĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status