DAY HOC
Yâ cỗ ÍĨCK
Đéc TRƯNG THỂ LOAI CHO HỘC SINH LỚP 6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
T S . N G U Y Ễ N THỊ BÍC H H Ư Ờ N G
DẠY HỌC TRUYẼN THUYẾT VÀ c ố TÍCH
■
■
THEO ĐẶC
■ TRƯNG THỂ LOẠI
■
CHO HỌC SINH LỚP 6
(Chuyên khảo)
NHÀ XUÁT BẢN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NĂM 2015
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BP:
Biện pháp
BPDH:
SGK:
Sách giáo khoa
SGV:
Sách giáo viên
THCS:
Trung học cơ sở
THPT:
Trung học phổ thông
TP:
Tác phẩm
TPVC:
Tác phẩm văn chương
TPVH:
Tác phẩm văn học
TPVHDG:
1.2.2. Thực trạng dạy học tác phâm tự sự dân gian ơ lớp 6............................... 68
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỀN THUYÉT VÀ CÓ
TÍCH Ở LỚP 6 THEO ĐẶC TRƯNG THẺ LOẠI
77
2.1 Khái niệm phương phap dạy h ọ c......................................................................77
2.2. Các phươns pháp dạy h ọ c ................................................................................78
2.3. Vận dụng phương pháp dạy học mới đẻ dạy truyền thuyết, cô tích ơ
lơp 6 theo đặc trưng thô loại.........................................................................................81
2.3.1. Vận dụng cac phươnơ pháp dạy học tác phâm văn chươns (PPDH
xét theo quan hệ giữa GV và HS VỚI đối tưọna dạy học)
81
2.3.2. Vận dụng phương pháp tô chưc hoạt động (PPDH xét theo quan hệ
giữa GV VỚI HS)
94
2.3.3. Quy tnnh dạy học truyền thuyết, cô tích theo thi phap thê loại
108
Chu ong 3 BÀI SOẠN DẠY HỌC TRƯYÈN THƯYÉT VÀ CỎ TÍCH
CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO ĐẶC TRƯNG THẺ LOẠI
117
hướng tiếp cận thi pháp học (và đặc biệt trong đó tiếp cận tác phẩm văn
chương theo thi pháp thể loại) đã thu được nhiều thành công trong một thời
gian dài, đến hôm nay, nếu được sử dụng hợp lí thì vẫn đạt được những kết quả
đáng trân trọng. Chuyên khảo “Dạy học truyền thuyết và cỗ tích theo đặc
trưng thể loại cho học sinh lóp ố” của TS Nguyễn Thị Bích Hường là một
công trình nghiên cứu triển khai theo hướng tiếp cận Thi pháp thể loại - một
thành tố nằm trong chỉnh thể của nó là Thi pháp học. Sự vận dụng các hệ thống
lí thuyết khác nhau vào một đối tượng cụ thể ở Việt Nam là con đường quen
thuộc với các nhà khoa học nước ta. Và con đường chung ấy cũng đã đem lại
những kết quả to lớn, bên cạnh sự vận dụng lí thuyết của các phương pháp
nghiên cứu khác như: xã hội học, xã hội học Mác xít, Tự sự học Liên văn
bản,... thì Thi pháp học cũng có một vận mệnh tương tự như thế. Có thể ví von
rằng: Các phương pháp nghiên cứu và giảng dạy văn học như những con dao
làm bếp. Món ăn ngon được tạo ra không phải nhờ việc dùng con dao nao mà
6
quyết định bởi tài năng của người nấu bếp (Dù con dao tốt, phù hợp cũng góp
phần vào sự thành công của việc chế biến món ăn). Với quan niệm ấy, chúng
tôi có thể khẳng định công trình nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Bích Hường
đã thành công bởi sự công phu và tâm huyết của chị. Không chỉ nắm chăc lí
thuyết về thi pháp thể loại của văn học dân gian (mà cụ thể hơn là của truyên
thuyết, cổ tích trong chương trình Ngữ văn lớp 6), TS. Nguyễn Thị Bích
Hường đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo lí thuyết kể trên để “soi
sáng” trong từng tác phẩm cụ thể, chỉ ra hệ thống thi pháp của truyền thuyết, cổ
tích trong chương trình lớp 6, từ đó đề xuất hệ thống thao tác phù hợp, cần thiết
nhằm giúp giáo viên giảng dạy thành công, tránh được “căn bệnh” bình tán
quen thuộc cho từng bài giảng của mình. Trên cơ sở khoa học là các nguyên tắc
nghệ thuật được lặp lại nhiều lần tạo nên các “hình thức mang tính nội dung
tức thi pháp thể loại của tất cả các tác phẩm thuộc nhóm “truyền thuyết” và
“giải mã” tác phẩm. Việc dạy TPVH theo thề loại là một vấn đề đã va đang
được chú trọng. Bởi vì, mỗi thể loại, mỗi tác phẩm thuộc thể loại được dạy
trong nhà trường đều có cách nói riêng, nham biểu đạt nội dung riêng. Nhà
nghiên cứu VHGD Đỗ Bình Trị quan niệm “Thể loại là đơn vị cơ sờ của
VHDG và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu VHDG” “có
nắm được thi pháp thể loại mới có khả năng “giải mã”được các tác phâm thuộc
thể loại” [178, tr.5-6].
Nắm vững thi pháp thể loại, người dạy không chỉ hiểu đúne, hiêu sâu
hơn TPVH mà còn có khả năng thiêt kê có hiệu quả hệ thống hoạt độno. thao
tác để hướng dẫn HS cách thức đọc - hiểu tác phẩm, giúp người hoc co khả
năng “giải mã” những tác phâm cùng thê loai.
1.2. Thực tế nhà trường cho thấy HS học Văn nhưng nhiều em vẫn chưa
thực sự có năng lực đọc văn, hiêu văn. Mặc dù đã được học những tac phâm
8
tiêu biểu cho các thể loại, các giai đoạn, các trào lưu sáng tác, nhưng khi đọc
những tác phẩm cùng thể loại, cùng giai đoạn, cùng trào lưu chưa được học
trong chương trình, các em vẫn không hiểu giá trị cơ bản, những cái hay, cái dở
trong từng tác phẩm. Không ít HS cảm nhận lệch lạc nội dung của cả những tác
phẩm đã học. Có thể nêu ví dụ đáng buồn về sự suy diễn một cách tuỳ tiện của
100 HS thi vào một trường chuyên nghiệp tỉnh T về ý nghĩa và giá trị của một
bài thơ thời trung đại mà HS đã biết qua bài giới thiệu Thời và thơ Tú Xương
của Nguyễn Tuân [176, tr. 181]. Đề bài yêu cầu những HS đã tốt nghiệp THPT
phân tích bài thơ Sông Lấp, nhưng không ít HS tham dự id thi đã hiểu và cảm
thụ bài thơ rất lệch lạc, phi lý. Có em cho rằng: “Câu 1, 2 trong bài thơ (Sông
kia rày đã nên đồng - Nơi làm nhà cửa, nơi ừ ồng ngô khoai) nói cảnh lao động
cực khổ trong xã hội cũ. Câu 3, 4 (Vẳng nghe tiếng ếch bên tai - Giật mình còn
tưởng tiếng ai gọi đố) với hình ảnh ếch, ám chỉ người nông dân bị vùi dập dưới
bùn nhơ của chế độ thực dân phong kiến địa chủ”. Có em bình luận : “Tác giả
từ những hiểu biết về đặc trưng thể loại để đọc và cắt nghĩa tác phẩm một cách
đúng đắn. Một nguyên nhân nữa là do chương trình và SGK Văn học cũ ở
THCS chưa chú ý dạy TPVH nói chung, TPVHDG nói riêng gắn với đặc trưng
thể loại, vẫn còn tình trạng HS đọc - hiểu TPVHDG như đọc tác phẩm văn học
viết. Muốn thay đổi tình trạng này, phải đổi mới chương trình, SGK, đổi mới
cách dạy theo hướng dạy người học cách đọc - hiểu tác phẩm, dạy người học
trở thành những chủ thể tích cực, sáng tạo thực sự trong quá trình dạy học, dạy
giải mã và chiếm lĩnh tác phẩm dựa trên những hiểu biết về đặc trưng thể loại
của chính tác phẩm đó.
1.3.
SGK Ngữ văn Trung học cơ sở (hiện hành) được biên soạn theo
Chương trình Trung học cơ sở, ban hành theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BỘ
GD&ĐT, ngày 24 tháng 01 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
(NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002). Ngoài hướng cải tiến chương trình như giảm
tải, tăng thực hành, gắn với đời sống,... thì nét nổi bật của Chương trình, SGK
mới là sự thay đổi tên môn học và hướng tích hợp giữa ba phân môn Văn học
Tiếng Việt và Tập làm văn, trong đó, văn bản văn học được lấy làm trục chính.
“Đây không phải là sự lắp ghép cơ học ba phân môn Văn học, Tiếne Việt và
Tập làm văn mà là một sự tích hợp (integration) khá cao về nội dung cũne như
PPDH” [152, tr.35].
Nghiên cứu chương trình và SGK Ngữ văn THCS mới, có thê thấy: so
với Chương trinh và SGK Văn học THCS giai đoạn trước cấu trúc theo lịch sừ
văn học thì Chương trình và SGK THCS mới đã cấu trúc phần Văn hoc theo
thê loại và phần nào theo tiến trình lịch sử, trên cơ sở dạy HS tiếp nhận va tao
lập 6 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh, điêu hành.
Khẳng định dạy tác phẩm là chủ yếu, chương trình Ngữ văn mới dạy HS cách
HS nắm vững đặc trưng các thể loại truyền thuyết và cổ tích qua hoạt động
phân tích các văn bản mẫu, vận dụng vào các bài cụ thể cùng thể loại đê từ đó
HS có khả năng cảm thụ và phân tích đúng giá trị của những tác phẩm cùng thê
loại được đọc ngoài nhà trường.
1.4.
Chúng tôi chọn đối tượng HS lớp 6 và thể loại tự sự dân gian để
nghiên cứu vì những lý do sau:
- HS lớp 6 là HS lớp đầu cấp THCS, lần đầu học văn như một phân môn
độc lập, kiến thức văn học và khả năng đọc - hiểu văn bản chưa bị ảnh hưởng
nhiều bởi những yếu tố ngoài nhà trường.
- Tâm sinh lý, nhận thức của HS lớp 6 đã có những thay đổi so với HS
Tiểu học, các em đã đủ lớn để tiếp nhận một số vấn đề về thi pháp thể loại (ở
mức độ đơn giản) trên cơ sở vốn liếng khá phong phú (gần 60 truyện dân gian
được học trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học và những kiến thức nhất định
về văn kể chuyện: nhân vật, cốt truyện, hành động, tính cách nhân vật,...).
- So với các thể loại văn học khác, VHDG đơn giản hơn, đặc trưng thi
pháp từng thể loại tương đối rõ ràng. Trong SGK Ngừ văn 6, những định nghĩa
về một thể loại truyện dân gian nhìn chung đã thâu tóm đủ những đặc trưng cơ
bản nhất của một thể loại. Đó là căn cứ đảm bảo hiệu quả của việc dạy
TPVHDG cho HS lớp 6 theo đặc trưng thi pháp thể loại.
2. Vài nét về tình hình nghiên cứu
2.1.
Trên cơ sở những thành tựu về loại thể văn học và thi pháp học
nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo đã đề xuất những cách thức, con đường dạy HS
chí Văn học, số 4 năm 1987); bài báo của Nguyễn Xuân Lạc (Dạv học truyện
dân gian ơ lớp 6 như thế nào? Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, 2004),. ..
2.2.
Dưới đây, chúng tôi điểm qua nội dung một số công trình, chuyên
luận, bài viết nghiên cứu cụ thế về những vấn đề cơ bản của thể loại VHDG
thi pháp VHDG, phương pháp phân tích, cảm thụ TPVHDG theo thể loại rất có
giá trị với người nghiên cứu, người dạy VHDG.
Công trình Mấy vấn đề phương pháp giang dạy nghiên cứii văn học dân
gian của tác giả Hoàng Tiến Tựu [166], đặt vấn đề vận dụng các thuộc tính cơ
bản của VHDG - tính tập thể, tính dị bản, tính truyền miệng, tính nguyên hợp vào việc giảng dạy và nghiên cứu, trong đó, tính nguyên hợp được đặc biệt coi
13
trọng. Tác giả dành chương 6 viết về vấn đề giàng dạy truyện dán gian, đưa ra
pp tiếp cận, tiếp nhận TPVH dân gian không theo con đường của văn học viết.
Đặc biệt, đề xuất 7 bước tìm hiểu, phân tích một truyện dân gian như sau:
- Bước 1: Xác định thể loại, hoàn cảnh ra đời, địa bàn lưu hành đầu tiên
hoặc chủ yếu của truyện.
- Bước 2: So sánh dị bản, xác định cốt truyện của dị bản được phân tích.
- Bước 3: Phân tích chủ đề của truyện.
- Bước 4: Phân tích các nhân vật. Nếu cốt truyện đơn giản, số nhân vật
ít (một hoặc hai) thì khâu này kết hợp thực hiện trong quá trình phân tích chủ
đề của truyện.
- Bước 5: Phân tích và tổng hợp, rút ra những giá trị, những vấn đề quan
trọng trong nội dung TP (rộng hơn chủ đề).
- Bước 6: Phân tích đặc điểm hình thức nghệ thuật truyện.
- Bước 7: Phân tích giá trị và ý nghĩa hiện đại của truyện; tìm mối liên
hệ giữa TP với văn học nghệ thuật và cuộc sống hiện tại của nhân dân [166,
Cuốn sách đã chỉ ra 4 tiêu chí “phân định chính xác các TPVHDG vào
đúng thể loại của chúng, cũng như để phân biệt các thể loại với nhau” là: Hệ đề
tài; Chức năng; Thi pháp; Phương thức diễn xướng. [179, tr.48].
Tác giả còn trình bày thuyết phục và khá cụ thể những thao tác, kĩ năng
GV dạy văn cần sử dụng khi phân tích TPVHDG theo thể loại (truyền thuyết,
cổ tích, truyện cười). Riêng loại truyện ngụ ngôn không được đề cập đến. Cuốn
sách này có thể xem như một sự khai phá cho việc cải tiến phương pháp giảng
dạy VHDG trong nhà trường phổ thông Việt Nam.
Năm 1999, Đỗ Binh Trị viết Nhũvg đặc điểm thi pháp cua các thể loại
văn học dân gian [178], trong đó, tác giả trình bày tỉ mỉ, tường tận về thi pháp
của từng thể loại. Sau khi nêu bật ý nghĩa của đề tài qua hai mục về khái niệm
thê loại và thi pháp thê loại; Mục đích, ỷ nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp
thê loại, tác giả đã lý giải, phân tích, dẫn chứng cụ thể, sinh động, chỉ ra những
đặc điêm cơ bản của từng thể loại VHDG (cổ tích, truyền thuyết lịch sử truyện
ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao). Theo tác giả, “đê hiêu một thể
loại văn học dân gian, trước hết, cần có được một định hướng chính xác về nó
tức là cần nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản về nó” [178 tr.4]. Có thể
nói, từng thể loại VHDG và đặc trưng thi pháp của từng thể loại đã được tác
giả đặt ra và lý giải một cách khoa học, lô gíc, mạch lạc và sáng rõ. Mồi đặc
15
điểm thi pháp thể loại được phân tích với các dẫn chứng thuyết phục, cách viêt
thấu đáo, nhuần nhị. Cuốn sách cũng xác định hướng đi đúng đắn về thê loại
của VHDG đối với việc dạy học TPVHDG theo đặc trưng thi pháp thê loại.
Công trình Văn học dán gian Việt Nam trong nhà trường của Nguyên
Xuân Lạc [102] xuất phát từ đặc trưng thể loại đã đưa ra gợi ý về PPDH ba thể
loại tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích). Tác giả đề xuất mô hình
tiếp cận VHDG theo pp hệ thống, gồm 6 bước như sau:
- Bước 1: Tìm hệ thống dị bản của TP.
Bên cạnh cuốn Vãn học dán gian Việt Nam trong nhà trường, tác giả
Nguyễn Xuân Lạc còn viết chuyên luận Giảng dạy văn học dân gian theo thế
loại (2001). Công trình này giới thiệu mấy vấn đề về thi pháp VHDG như:
- Văn bản ngôn từ.
- Những yếu tố ngoài văn bản và những mặt giao thoa.
- Dạy VHDG theo quan điểm hệ thống, bằng pp hệ thống.
Nguyễn Xuân Lạc quan niệm: “Thi pháp văn học dân gian khẳng định
rằng văn bản ngôn từ là yếu tố quan trọng nhất, là cơ sở chủ yếu để chúng ta
dựa vào đó mà phân tích TPVHDG, tìm ra những thông tin thẩm mĩ ẩn chứa
trong nó”. Theo chúng tôi, quan niệm này đúng với ca dao, tục ngữ mà không
hoàn toàn đúng với văn xuôi dân gian. Vì văn bản truyện dân gian, ví dụ truyện
cổ tích, không phải là văn bản tương đối cố định như ca dao, tục ngữ mà dễ
thay đổi theo lời kể của từng người, tức là có rất nhiều dị bản. Văn bản truyện
dân gian chỉ có một số yếu tố tương đối ổn định là cốt truyện, nhân vật, kết
cấu. Như vậy, chỉ có thể dựa vào các yếu tố này mà tìm hiểu đặc trưng thi pháp
của TP.
Cũng trong chuyên luận này, tác giả còn trình bày PPDH một số thể loại
VHDG ở trung học phổ thông với các nội dung: thi pháp; các PPDH cụ thể,
trong đó nghiên cứu chủ yếu về thể loại cổ tích và cách tiếp cận truyện cổ tích
Tấm Cám theo tinh than folklore học. Với chuyên luận này, phần lý luận chung
giúp người đọc có thêm hiểu biết về thi pháp VHDG, còn phần PPDH chỉ ra
những đường hướng dạy học TPVHDG cho GV và HS trung học phổ thông.
Đi sâu hơn về cách tiếp cận và phân tích truyện cổ tích trên cơ sở thi
pháp thể loại, Nguyễn Xuân Lạc trong bài viết Giảng dạv văn học dân gian
theo thế loại [103] đã đặc biệt chú ý tới 6 phương diện sau của thể loại cổ tích:
Cách cấu tạo cốt truyện; Các mô tip nghệ thuật; Những câu văn vần xen kẽ
(nếu có); Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật; Không khí truyện; Sự
vận động của truyện trong đời song và diễn xướng.
17
học Sư phạm Hà Nội, 2009); “Từ đặc trưng thể loại xác định nội duns và
phương pháp đọc - hiêu một sô tác phẩm tự sự dân gian thuộc thế loại truyền
18
thuyết, cổ tích trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở” (Nguyễn Văn Nại,
Luận án Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004); “Những biện pháp
tích cực hoá việc dạy học truyện cổ tích từ nhân vật chức năng ở lớp 6 trường
Trung học cơ sở miền núi” (Bùi Thị Vui, Luận án Thạc sĩ KHGD, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2005); “Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản truyền
thuyết Việt Nam trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 6 - THCS theo
hướng tích hợp” (Hoàng Thị Lưu Luyến, Luận án Thạc Khoa học Giáo dục, Đại
học Sư phạm Hà Nội, 2005),...
Gắn liền với SGK Ngữ văn 6, SGV Ngữ văn 6, tập 1 (NXB Giáo dục,
2001 - Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên; Nguyễn Đình Chú, Bùi Mạnh Nhị chủ biên và tác giả phần Văn) là cuốn sách trình bày khoa học, có hệ thống
những vấn đề chung về chương trình và SGK Ngữ văn THCS nói chung, SGK
Ngữ văn 6 nói riêng; nêu những gợi ý giảng dạy cho từng bài: mục tiêu cụ thể
cần đạt, những điều cần lưu ý, tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học. Đây là
những chỉ dẫn quan trọng khi dạy học các thể loại tự sự dân gian cho HS lớp 6.
Sự định hướng này thể hiện tương đối rõ quan điểm dạy TPVHDG theo đặc
trưng thể loại.
Ngoài ra, còn có một số sách thiết kế bài soạn, hướng dẫn tự học từng
thể loại, trong đó có các thể loại VHDG viết cho GV và HS lớp 6 của các tác
giả Đỗ Bình Trị, Vũ Nho, Hoàng Dân, Nguyễn Văn Đường, Trần Đình Chung,
Nguyễn Xuân Lạc, Nguyễn Trọng Hoàn, Đặng Tương Như, Nguyễn Thị Vân
Hồng, Trần Thị Thành, Nguyễn Xuân Đức, Lê Trường Phát, Trần Hoàng,
Phạm Thu Yến, ...
Như vậy đã có những công trình nghiên cứu về thi pháp, về thể loại văn
học và về PPDH các thể loại VHDG làm tiền đề cho những công trình nghiên
cứu về hoạt động cảm thụ TPVH nói chúng, TPVHDG nói riêng theo đặc trưng
C ơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN
CỦA VIỆC
• DẠY
• HỌC
• TÁC PHẨM VĂN HỌC
• DÂN GIAN
THEO THI PHÁP THẺ LOẠI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở lí luận văn học: Thi pháp thể loại văn học dân gian
Công trình nghiên cứu này là một thể nghiệm việc dạy truyền thuyết và
cổ tích cho HS lớp 6 theo đặc trưng thể loại (thi pháp thể loại), vì vậy, việc
trình bày những kiến thức cơ bản về thi pháp, làm rõ các khái niệm thi pháp,
thể loại và thi pháp thê loại là cần thiết để làm sáng tỏ cơ sở lý luận cho việc
triển khai các giải pháp dạy học.
1.1.1.1. Khái niệm thi pháp
Thi pháp học là bộ môn có từ lâu đời. Thuật ngữ thi pháp và thi pháp
học xuất hiện từ hàng ngàn năm trước nhưng mới được giới nghiên cứu văn
học Việt Nam sử dụng rộng rãi trong một số năm gần đây.
ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp Arixtốt (384 - 322 TCN) được coi
là người đầu tiên nghiên cứu thi pháp học. Bộ sách Poeties {Nghệ thuật thi ca)
của ông, thông qua phân tích kịch thơ cổ Hy Lạp, đã tổng kết những nguyên lý
tương đối cơ bản và toàn diện về phương pháp sáng tác của các tác giả thời kỳ
đó. Thuật ngữ poetis được dịch sang tiếng Việt là “thi pháp”, “thi học”, “thi
pháp học”, trong đó, chữ “thi” được hiểu là toàn bộ các hiện tượng văn học nói
chung, còn “pháp” là phép tắc, là phương pháp, là cách thức sáng tạo. Nghệ
thuật thi ca của Arixtốt là bộ sách đầu tiên trong lịch sừ văn học và mỳ học thế
giới nghiên cứu sâu chức năng của văn học nghệ thuật. Tác giả bộ sách đã đề
bình, nhà lý luận của Trung Hoa cổ, trung đại đã cho ra đời những tac phẩm lý
giải sâu về mỹ học, về nghệ thuật văn chương, tiêu biêu là: Thi phàm của
22
Chung Vinh (thế kỷ VII); Văn tuyển của Tiêu Thống (thế kỷ VII); Thư gưi
Nguyên Chẩn của Bạch Cư DỊ (722 - 846); Tuỳ viên thi thoại của Viên Mai
(1716- 1797),...
Giai đoạn từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam đã có một số bài
văn, câu thơ của các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Phan Huy
Chú, Tự Đức bàn về những vấn đề cốt lõi của văn chương. Tác giả Trần
Hoàng dẫn hai lời bàn như sau:
- “Người làm văn quý ở mực thước, thanh nhã, hồn nhiên, biết lấy thực
làm cốt tử rồi dùng đẹp đẽ làm trang sức thêm. Làm thơ cũng phải như thế”.
(Ngô Thì Nhậm. Dần theo Từ ữong di sàn, Nguyễn Minh Tấn chủ biên NXB
Tác phẩm mới, Hà Nội, 1988, tr.79).
- “Ta thường cho làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba
là sự... Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất của trời và đất”. (Ngô
Thì Nhậm. Tlđd, tr.99). [69, tr.6]
Nhưng nhìn chung thời kì đó ở nước chưa có những chuyên luận, những
tác phẩm lớn nghiên cứu về mĩ học và thi học.
Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX trở lại đây, đã xuất hiện những công
trình nghiên cứu (sách, luận án, chuyên luận, bài viết) về thi pháp, thi pháp
VHDG. Trong hầu hết các công trình nghiên cứu xuất hiện trước những năm
1990, thuật ngữ “thi pháp” chưa được sử dụng nhưng nhiều nội dung về thi
pháp đã được bàn đến trong nghiên cứu “loại thể văn học”. Những công trình
này đã góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu thi pháp học. Có thể kể đến
một số công trình tiêu biểu như: Lý luận vãn học của Nguyễn Lương Ngọc vào
cuối thập kỉ 50 của the kỉ trước, Nguyên lý ỉý luận văn học của Tổ Lý luận văn
học, Trường Đại học Sư phạm (xuất bản năm 1965, tái bản 1973 với tên gọi