Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững ( - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án.
Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung và huyện Quế Phong nói
riêng có số lượng lớn, phân bố rộng, trình độ dân trí thấp, đời sống cơ bản đang gặp
nhiều khó khăn. Do đặc thù về vị trí địa lí nên người dân ở đây đang chịu nhiều thiệt
thòi. Các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là
vấn đề chăm lo sức khỏe của nhân dân. Dân số các đồng bào dân tộc thiểu số chiếm
một tỷ lệ lớn (90%) so với dân số toàn huyện, trong đó dân tộc Thái có 50.523 người,
chiếm khoảng 80%. Qua tìm hiểu thấy đồng bào Thái đang lưu truyền rất nhiều bài
thuốc chữa bệnh hay, thậm chí một số bài thuốc truyền thống còn chữa bệnh hiệu quả
hơn các phương pháp chữa bệnh tiên tiến khác.
Do dân cư phân bố chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, cơ sở
y tế nghèo nàn, thuốc tây vừa thiếu, giá lại đắt nên ở đây họ chủ yếu chữa bệnh bằng
kinh nghiệm của các ông lang bà mế. Đồng bào Thái gọi thầy thuốc là “Xây hạc may”.
Xây có nghĩa là thầy, hạc may nghĩa là rễ cây, “Xây hạc may” có nghĩa là người thầy
dùng cây để chữa bệnh. Trên thực tế, các ông lang bà mế không nhiều, các bài thuốc
chủ yếu chỉ truyền trong gia tộc, một số thầy lang không truyền lại được cho đời sau.
Như vậy, nguy cơ về việc thất truyền các bài thuốc là có thật và việc chữa bệnh của
đồng bào dân tộc Thái sẽ ngày càng khó khăn hơn.
Người Thái sống chủ yếu dựa vào nguồn cung cấp lương thực, thuốc men từ
rừng, đó là nguồn tài nguyên vô giá. Tuy nhiên, hiện nay nguồn tài nguyên rừng đang
bị tàn phá nghiêm trọng và ngày càng cạn kiệt. Nạn chặt phá rừng, khai thác không có
kế hoạch, ô nhiễm môi trường … đang diễn ra hàng ngày, song song với những vấn
nạn đó thì cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái cũng dần dần bị biến mất một cách
nhanh chóng.
Hiện nay, việc nghiên cứu cây thuốc ở vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung chưa
được quan tâm nhiều, đặc biệt ở Quế Phong - một huyện vùng núi cao giáp Lào, nơi
chứa đựng một kho tàng cây thuốc và các bài thuốc dân gian có giá trị của dân tộc
miền núi, đây là nguồn tư liệu tốt cho nền y học nước nhà. Xuất phát từ thực tế đó
nên tôi chọn đề tài “Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái,
huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng

+ Mô tả đặc điểm sinh học, điều kiện sinh thái, công dụng của 64 loài cây
thuốc có giá trị.
+ Xác định thành phần hóa học của 2 loài cây thuốc hoa dẻ lông đen (Desmos
cochinchinensis) và cây dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia).
+ Trồng bảo tồn cây lửa ít gân (Rourea oligophlebia) theo phương pháp bảo
tồn nội vi (in-situ) và bảo tồn ngoại vi (ex-situ).
5. Bố cục của luận án
Luận án gồm 120 trang, phụ lục 138 trang
Mở đầu
4 trang
Chương 1. Tổng quan tài liệu
23 trang
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
6 trang
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
85 trang
Kết luận và kiến nghị
2 trang
Phụ lục
Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan
2 trang
Tài liệu tham khảo
11 trang
49 trang
Phụ lục 1: Danh lục các loài thực vật làm thuốc
9 trang
Phụ lục 2: Ảnh một số loài cây thuốc.
16 trang
Phụ lục 3: Các hợp chất hóa học có trong các loài cây thuốc
Phụ lục 4: Các phiếu kiểm tra nồng độ acid uric các bệnh 8 trang

giải trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái …
Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực
Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu và công bố hơn 1000 công trình khoa học về thực
vật và dược liệu được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài có tính
kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông Á và Đông Nam Á
"Medicinal Plants of East and Southeast Asia, 1985" .
Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 300.000 loài cây cỏ được sử dụng, vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới.
Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indoonesia
có 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có 700 loài, SriLanka có khoảng
550-700 loài.
Theo WHO, mức độ sử dụng nguồn dược liệu ngày càng nhiều: Trung Quốc
tiêu thụ hết khoảng 700 ngàn tấn/năm, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị
khoảng 1,7 tỉ USD trong năm 1986. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc từ thực vật
trên thị trường Châu Âu -Châu Mỹ và Nhật Bản 1985 đạt hơn 43 tỉ USD.
Song song với sự phát triển của Khoa học Công nghệ, con người đã khai thác
tinh dầu trong cây thuốc để phục vụ cho việc chữa bệnh rất hiệu quả. Các nước Trung
3


Hoa, Ấn Độ, Inđônêxia đã trở thành những nước sản xuất và chế biến tinh dầu có
khối lượng lớn. Các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Thụy
Sỹ, Nhật Bản…rất chú trọng việc nhập tinh dầu thô và tái xuất các sản phẩm đã qua
chế biến đem lại lợi nhuận khổng lồ. Điều này chứng tỏ rằng ở các nước công nghiệp,
phát triển cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng rất mạnh. Cây thuốc là
loại cây kinh tế, cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe cho con người .
1.1.2.Vấn đề trồng bảo tồn cây thuốc trên thế giới.
Trước đại chiến thế giới lần thứ nhất, đảo Java của Inđônêxia đã trồng hương
lau (Vetiveria zizaniodes) để xuất khẩu sang châu Âu (chủ yếu xuất khẩu sang Đức,
Pháp, Anh). Hiện nay ở Philipin và Inddooxixia đã đưa loài dầu giun (Chenopodium


chúa Trịnh đặt tên “Hồng Nghĩa giác tư y thư” biên soạn bằng quốc âm, trong đó có
630 vị thuốc, giới thiệu 13 đơn thuốc chữa tạp bệnh, 37 đơn thuốc chữa bệnh thương
hàn (Thập tam phương thuốc gia giảm và tam thập thất tùy pháp) .
Đến thời vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Lê trung hưng, ở ngôi từ năm 1705 đến
năm 1729 thời vua Lê Dụ Tông lại được biết đến Danh y Hải Thượng Lãn Ông, tên
thực là Lê Hữu Trác (1720-1791). Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như “Y tông tâm
lĩnh” (1770), nay người ta gọi là “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được viết trong vòng
10 năm, gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là
công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và “không chỉ có giá trị
về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học”.
Thời kỳ Tây Sơn (1788-1802) có Danh y Nguyễn Quang Tuân có tập “Nam
Dược”, “Nam dược chỉ danh truyền”, “La khê phương dược” ghi chép 500 vị thuốc
nam trong dân gian dùng để chữa bệnh. Danh y Gia Phan (1748 – 1817), ông là tác
giả các bộ sách “Liệu dịch phương pháp toàn tập” viết về bệnh truyền nhiễm; “Hộ
Nhi phương pháp tổng lục”, viết về Nhi khoa và “Lý Am phương pháp thông lục” về
Phụ khoa.
Thời nhà Nguyễn (1802-1884) có quyển “Xuân Đình y án kinh trị chủ
chứng‟‟ chuyên về bệnh ôn dịch và thời khí của Lê Kinh Hạp.
Thời Pháp thuộc (1884 – 1945), Y học cổ truyền Việt Nam bước vào thế kỷ
XX, khi mà triều đình nhà Nguyễn đã ký hiệp ước HARMAND (25/08/1883) biến
Việt Nam thành một nước thuộc địa. Trong giai đoạn này, ngoài những tác phẩm y
học biên soạn bằng chữ Hán Nôm như: “Vệ sinh yếu chỉ‟‟ (1901) của Bùi Văn Trung
ở Nam Định, “Bí truyền tập yếu‟‟ (1906) của Lê Tư Thúy ở Hà Nam, còn có những
tài liệu y học viết bằng chữ Quốc ngữ: “Việt Nam Dược học‟‟ của Phó Đức Thành,
“Nam Dược bộ‟‟ của Nguyễn An Cư, “Trung Việt Dược tính hợp biên‟‟ gồm 1500 vị
thuốc của Đinh Nho Chấn…
Giai đoạn từ năm 1945 đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà thực vật học
nghiên cứu về cây thuốc, có nhiều tác phẩm như : “Thuốc Nam châm cứu‟‟ của Viện
Đông y (1960), 450 cây thuốc của Phó Đức Thành (1962), “Tính kháng khuẩn của

thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây vọng cách Premna SP. thu
hái ở Nam Định”của Nguyễn Thị Bích Hằng (2010), „Nghiên cứu tác dụng trên bệnh
Gút thực nghiệm của cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis )” của Nguyễn Thị Thùy
Dương (2012), “Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng dược lý của cây mạ
mân (Aganope balansae )” của Trần Quốc Toản (2012), Nghiên cứu thành phần hóa
học và một số tác dụng dược lý của loài trám hồng (Canarium bengalense) Hoàng
Thị Lê (2012) „Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của rễ cây chóc máu nam
(Salacia cochinchinensis )” của Đỗ Thị Nguyệt Quế (2013) …
1.2.2. Tình hình điều tra, đánh giá, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc và
bài thuốc ở Việt Nam.
1.2.2.1. Tình hình điều tra, đánh giá
Từ năm 1961 đến năm 1985 là giai đoạn điều tra cơ bản, Viện Dược liệu tiến
hành điều tra dược liệu và công bố, ở Miền Bắc từ năm 1961 đến 1974 đã điều tra ở
1905 xã, thuộc 20 tỉnh và thành phố. Kết quả đã phát hiện được 1114 loài thực vật
được dùng làm thuốc.
Năm 1985, công tác điều tra cơ bản lần thứ nhất về dược liệu trên toàn quốc đã
được hoàn thành. Tổng số các địa phương đã được tổ chức điều tra bao gồm 2715 xã
- phường, thuộc 357 huyện - quận và 42 tỉnh - thành phố. Kết quả đã ghi nhận được
Danh lục cây thuốc gồm 1863 loài thực vật bậc cao cũng như bậc thấp được sử dụng
làm thuốc, thuộc 1033 chi, 236 họ, 11 ngành.
Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra cơ bản lần thứ nhất, từ năm 1986 đến nay
công tác điều tra dược liệu không tiến hành một cách rộng rãi như trước kia. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu, Viện Dược liệu vẫn phối hợp với các
địa phương và các ngành có liên quan tiếp tục tiến hành công việc điều tra cây thuốc
6


tại các tỉnh Thanh Hóa, Hà Giang, Lào Cai… và đồng thời nghiên cứu sâu về khả
năng khai thác, tái sinh và phát triển nhiều cây thuốc có giá trị như Chè hoa vàng, Sa
nhân, Bảy lá một hoa, Sâm ngọc linh, Bình vôi…

tam thất hoang (Panax stipuleanatus).
Đến 2015, trên phạm vi cả nước đã có nhiều vườn cây thuốc được xây dựng
trên các địa phương như: Nghệ An 1 vườn; Hà Nội 1 vườn; Vùng Sa Pa 8 vườn; khu
vực Vườn Quốc gia Bạch Mã 4 vườn; Yên Bái 2 vườn; Hòa Bình 1 vườn; Thanh Hóa
1 vườn; Lạng Sơn 4 vườn; Hà Giang 1 vườn; Vĩnh Phúc 1 vườn.
Tại các Vườn Quốc gia: Tam Đảo, Bến En, Cát Tiên, Ba Bể, Ba Bể, Cúc
Phương, đã trồng được 120 loài cây thuốc.
1.2.2.3. Về bài thuốc:
Tính đến năm 2007, trên cả nước đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân
gian gia truyền của 12.351 lương y.
Đến năm 2015 có nhiều bài thuốc đã được bổ sung, tuy nhiên chưa có tài liệu
tổng hợp cụ thể. Mặc dù công tác điều tra, đánh giá, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc
và bài thuốc ở Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, tuy nhiên chưa đáp ứng
được nhu cầu về dược liệu, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của chúng ta.
1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh có diện tích rừng lớn, phong phú và chứa đựng nhiều cây
thuốc. Các khu rừng chạy dọc theo dãy Trường Sơn và nhiều huyện miền núi được
đánh giá là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học.

8


Tài nguyên thực vật được tập trung chủ yếu ở vùng Tây Bắc và Tây Nam Nghệ
An, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời như Thái, Thổ, Tày,
Mường... Cuộc sống của người dân ở đây chủ yếu sống nhờ vào rừng, lương thực,
thực phẩm và cây thuốc.
Trong danh mục cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế, Nghệ An có 41
loài nằm trong 206 loài cây thuốc mọc tự nhiên được khai thác và sử dụng. Nghệ An
cũng nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 tầm nhìn 2030
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.



Tại Nghệ An, Tại Nghệ An, có 56 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng đã được thống kê, trong đó 3 loài trong tình trạng CR (Cực kỳ nguy cấp),
19 loài trong tình trạng nguy cấp (EN) và 34 trong tình trạng sắp nguy cấp (VU).
Có 15 loài đáng báo động như (Ngũ gia bì gai, Ba gạc lá to (Rauvolfia
cambodiana), Ba gạc lá mỏng (Rauvolfia micrantha.), Cẩu tích (Cibotium
barometz)… Đặc biệt, trong số những loài có giá trị cao nêu trên bị khai thác ồ ạt
như: Bách bộ đứng (Stemona saxorum), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla), Hoàng
đằng (Fibraurea tinctoria), cây thuốc quý như Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum )
chỉ có trong rừng sâu thuộc xã Tri Lễ huyện Quế Phong, nhiều loài cây thuốc quý có
trữ lượng lớn ở Nghệ An suy giảm nghiêm trọng.
Hiện nay, tại Nghệ An, Công ty CP Dược liệu TH (thuộc Tập đoàn TH) đã triển
khai dự án “Bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao gắn với phát triển
rừng bền vững”. Dự án có tổng mức đầu tư 3.200 tỷ đồng, trên tổng diện tích hơn
2.800ha tại vùng có khí hậu mát quanh năm như Mường Lống, huyện Kì Sơn.
Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 4 đang thực hiện mô hình phục hồi, nhân giống cây
dược liệu gồm Đẳng sâm (Codonopsis javanica), Atiso và đặc biệt là Sâm
Puxailaileng - một loại sâm quý giống như sâm ngọc linh ngay dưới chân núi
Puxailaileng thuộc địa phận xã Na Ngoi.
Ngoài ra còn một số hộ dân trồng dược liệu theo quy mô nhỏ lẻ như trồng kim
tiền thảo ở phường Quỳnh Trang (Thị xã Hoàng Mai), trồng cà dây leo ở xã Quỳnh
Bảng (huyện Quỳnh Lưu), xã Mã Thành (huyện Yên Thành).
Những năm gần đây với xu hướng “trở về với thiên nhiên” nên nhu cầu về dược
liệu cũng như thuốc từ dược liệu gia tăng. Nắm bắt xu hướng này, thời gian gần đây,
tỉnh Nghệ An cũng đã có những chủ trương, đường lối chính sách đúng đắn trong
việc xây dựng vùng trồng cây dược liệu.
Năm 2013, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn
gen cấp tỉnh thực hiện từ năm 2014 - 2020, giao Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa
học công nghệ Nghệ An bảo tồn nguồn gen 3 loại dược liệu quý hiếm trên địa bàn

cỏ sẵn có ở trên nương rẫy để đun lấy nước uống hàng ngày nhằm: nâng cao sức
khoẻ; thanh nhiệt giải độc; giải rượu; chữa viêm gan; viêm đại tràng; đau nhức xương
khớp, viêm khớp dạng ong đốt (bệnh gút); phục hồi ngay sức khoẻ cho phụ nữ sau
khi sinh...
Thực tế hiện nay, người giữ được những bài thuốc gốc còn rất ít. Một phần vì
các thầy lang dân tộc ở đây chủ yếu không biết viết, việc lưu giữ chỉ mang tính truyền
khẩu, nên một số bài thuốc quý đã từng chữa trị được bệnh đặc biệt những bài thuốc
chữa các bệnh nan y đang bị lãng quên từng ngày.
Qua trao đổi với người già có kinh nghiệm, trực tiếp đi lấy thuốc cho biết: Lấy
thuốc tốt nhất vào buổi sáng, giờ mão, giờ thìn tức khoảng 7-10 giờ sáng hoặc có thể
buổi chiều 2-4 giờ. Cố gắng chọn các hướng núi hoặc đồi đối diện với mặt trời nghĩa
là hướng dương và hái lá bằng 1 tay, hạn chế dùng kim loại như dao kéo.
+ Về bảo tồn cây thuốc:
Các ông lang bà mế cũng đã bắt đầu bảo vệ cây thuốc như tài sản riêng, không
làm chết cây, lấy một số cây con từ rừng về trồng cạnh nhà để tiện sử dụng khi xảy ra
bệnh thường gặp, đó là các loại cây chữa xương, rắn cắn, cảm gió, đau bụng.
Hiện nay, tại xã Hạnh Dịch đã có 5 khu vườn của người dân tự phát trồng và
bảo tồn dược liệu.
1.5. Điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Quế Phong
Huyện Quế Phong được thành lập theo Quyết định số 52/CP ngày 19 tháng 4
năm 1963 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ), do chia tách từ huyện Quỳ
Châu (cũ) thành 03 huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Quế Phong. Lúc mới thành lập
huyện Quế Phong có 6 xã: Châu Kim, Châu Thôn, Cắm Muộn, Châu Hùng, Châu
11


Long và Thông Thụ; là huyện miền núi biên giới phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An; có
73,10 km đường biên giới tiếp giáp với huyện Sầm Tớ - tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng
hoà dân chủ nhân dân Lào. Đến nay huyện Quế Phong có 13 xã và 01 thị trấn.
1.5.1. Vị trí địa lý:

đồng bào dân tộc Thái, phân tích và đánh giá đa dạng cây thuốc về: thành phần loài,
dạng thân, các bộ phận sử dụng, sự phân bố và các bệnh chữa trị.
12


2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp phỏng vấn, điều tra
- Điều tra rộng rãi, phỏng vấn bà con dân bản của dân tộc Thái, đặc biệt là các
ông lang bà mế tại địa bàn nghiên cứu để sưu tầm các bài thuốc và cây thuốc sử dụng
theo kinh nghiệm dân gian, phỏng vấn tập trung các ông lang bà mế.
2.3.2. Phƣơng pháp thu hái, xử lí và bảo quản mẫu vật.
Mẫu vật được thu hái và xử lí theo phương pháp sau: Phương pháp điều tra
thực vật theo "Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật" của Nguyễn Nghĩa Thìn,
1997. Mẫu cây được đánh số hiệu và đặt trong một tờ báo cho vào túi nilon lớn
khoảng 20-30 mẫu, đổ cồn vào để bảo quản (xử lí sơ bộ tại địa bàn thu mẫu). Sau đó xử
lí lại và cho vào cặp mắt cáo để phơi khô dưới nắng hoặc dưới ánh điện. Xử lí, định danh
600 mẫu được lưu trữ tại phòng Thực vật Trường Đại học Vinh.
2.3.3. Phƣơng pháp giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên
Giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên theo tài liệu "Cẩm nang nghiên
cứu đa dạng sinh vật" của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997.
2.3.4. Phƣơng pháp xác định tên khoa học
Mẫu được xác định chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái so sánh theo các tài
liệu của các tác giả chủ yếu sau: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ 2003), Thực vật
chí Việt Nam (The Flora of Vietnam), Họ Bạc hà - Lamiaceae (Vũ Xuân Phương,
2002) , họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2005), họ Na - Annonaceae
(Nguyễn Tiến Bân, 2000), họ Cói - Cyperaceae (Nguyễn Khắc Khôi, 2002), họ Trúc
đào - Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2005), họ Đơn nem - Myrsinaceae (Trần Thị Kim
Liên, 2002), Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi (2012), những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2011).
2.3.5. Phƣơng pháp chỉnh lý tên khoa học

Loài
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
Ngành
lượng
%
lượng
%
lượng
%
Lycopodiophyta
2
2
5
1
12
2
Equisetophyta
1
1
1
0,1
1
0,1
Polypodiophyta
17

khảo sát được thể hiện qua bảng 3.2.
Bảng 3.2. Số lượng họ, chi, loài ở hai lớp trong ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Họ
Chi
Loài
Số
Số
Lớp
Số lượng Tỷ lệ % lượng Tỷ lệ % lượng Tỷ lệ %
Magnoliopsida 84
79
278
87
463
88
Liliopsida
23
21
40
13
62
12
Tổng
107
100
318
100
525
100
14

400

0,07

4

Acanthaceae

27

207

0,13

5

Lamiaceae

23

145

0,16

6

Rutaceae

23


170

0,11

10

Verbenaceae

18

131

0,14

Trong các chi, có hai chi có số loài cây thuốc nhiều, gồm 11 loài là chi
Ficus với các đại diện như ngái lông dày (Ficus hirta) chữa phong thấp, sung nằm
(Ficus prostrata) chữa thận, Rù rì quả lê (Ficus pyriformis ) chữa dạ dày, đại
tràng… Chi Cinnamomum, có 10 loài với các đại diện như Gù hương
(Cinnamomum balansae) chữa cảm cúm, Re xanh (Cinnamomum tonkinensis )
chữa thận, đau lưng, quế bời lời (Cinnamomum polyadelphum ) chữa mắt,…qua đó
để các nhà khoa học có định hướng nghiên cứu cây thuốc của 2 chi trên về công
dụng, thành phần hóa học, tính kháng khuẩn…
3.1.4. So sánh cây thuốc huyện Quế Phong với hệ cây thuốc Việt Nam
Huyện Quế Phong chỉ chiếm 0,1% so với Việt Nam nhưng có số loài thực vật làm
thuốc 583 loài chiếm 13% trong loài cây thuốc của cả nước, như vậy hệ thực vật được
người dân sử dụnglàm thuốc rất đa dạng, phong phú.
3.1.5. Đa dạng về dạng thân, nơi sống và cách sử dụng cây thuốc
3.1.5.1. Đa dạng về dạng thân cây của các cây thuốc được người dân huyện Quế
Phong sử dụng
Kết quả điều tra cho thấy, nhóm cây được sử dụng nhiều nhất là cây thân

nhóm này là do các ông lang bà mế đưa về trồng để bốc thuốc chữa bệnh. Như vậy số
lượng cây thuốc được trồng để chữa bệnh chưa nhiều, người dân chủ yếu vào rừng
để tìm cây thuốc. Cuối cùng là môi trường sống gần nước như ven khe suối... có số
loài bắt gặp là ít hơn cả, chỉ có 40 loài, nhóm này chủ yếu là những cây thân thảo.
3.2. Những cây thuốc bị khai thác nhiều, cây thuốc trong Sách đỏ Việt
Nam 2007 cần đƣợc bảo vệ tại huyện Quế Phong
Cây thuốc bị khai thác nhiều do các nguyên nhân khác nhau: Do tần suất sử
dụng cao, có trong nhiều bài thuốc như cây Hoa dẻ lông đen(Desmos
cochinchinensis), cây thuốc bán sang Trung Quốc như Bách bộ đứng (Stemona
saxorum), Chè hoa vàng (Camellia chrysantha ),cây ngâm rượu bán thành sản
phẩm hàng hóa như cây Dây lửa ít gân(Rourea oligophlebia)…
Những cây thuốc này đã có nhiều tác giả đề cập đến như Võ Văn Chi
(2012), Đỗ Tất Lợi (2011), tuy nhiên để giúp cho công tác bảo tồn và phát triển
bền vững cần mô tả bổ sung chi tiết, bổ sung các công dụng…
3.2.1. Mô tả, bổ sung công dung những cây thuốc bị người dân khai thác nhiều
để tạo cơ sở cho công tác bảo tồn và khai thác bền vững
16


Kết quả đã mô tả bổ sung công dụng 64 loài cây thuốc có giá trị, nhưng được sử dụng
nhiều và khai thác mạnh tại địa phương gồm các nhóm bệnh : ngoài da , thầ n kinh,
đường tiêu hóa , gãy xương, cảm cúm, bê ̣nh về hô hấ p , thận nhóm bện khác và thuốc
bổ .
3.2.2. Hiện trạng những cây thuốc quý trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 cần được
bảo vệ tại huyện Quế Phong.
Hiện nay, tại Khu dữ trữ sinh quyến Miền Tây Nghệ An có 78 loài quí hiếm,
trong đó có 71 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 19 loài có tên trong Nghị
định 32/ 2006 CP, và 8 loài có trong Danh lục đỏ IUCN. Tại huyện Quế Phong (bao
gồm cả Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt) có 15 loài cây thuốc có trong Sách Đỏ Việt
Nam 2007, nhưng người dân địa phương vẫn tiếp tục khai thác, cần có biện pháp

sán…)
Bệnh ngoài da (nhiễm trùng, lở, mụn nhọt…)
Bồi bổ sức khoẻ
Bệnh về thần kinh (bại liệt, thần kinh…)
Hô hấp (ho, phế quản, phổi…)
Trẻ em (suy dinh dưỡng, giật mình…)
Động vật cắn (sên, vắt cắn..)
Bệnh về xương (gãy xương, bong gân…)
Bệnh về thận (sỏi thận, lợi tiểu, viêm thận…)
Bệnh về gan (gan, da vàng…)
17

Số loài
120
118
93
41
34
24
24
23
19
15
15


12
13
14
15

khớp, gãy xương.
Các bài thuốc dân tộc chữa bong gân, sai khớp, gãy xương có hiệu quả rất tốt. Để
xác định được hiệu quả của các bài thuốc này chúng tôi đã điều tra, phỏng vấn 32 ông
lang, bà mế, và 116 bệnh nhân họ chữa trị trên 24 bản thuộc 9 xã thuộc Khu bảo tồn
Pù Hoạt kết quả cho thấy: Cây thuốc chữa bong gân, sai khớp, gãy xương được đồng
bào dân tộc Thái tại KBTTN Pù Hoạt sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả, tác dụng
nhanh (90/116 bệnh nhân khỏi bệnh trong vòng 7 ngày đối với bong gân sai khớp).
3.3.4.2. Kết quả kiểm chứng bài thuốc chữa viêm khớp dạng ong đốt (bệnh gút)
Người dân tộc Thái gọi bệnh gout là viêm khớp dạng ong đốt, vì các triệu chứng
cơ bản giống bệnh gout như cảm giác ấm, đau, sưng và yếu ở các khớp, thường là
khớp ngón chân cái sau đó đau sưng ở các khớp đặc biệt sưng tấy đỏ ở ngón chân
cái như ong đốt. Bệnh này đã được nhiều thầy lang sử dụng bài thuốc (73), dùng
đậu xanh (Vigna radiata) để nguyên vỏ nấu nhừ, mỗi ngày ăn 1 bát trong vòng 30
ngày. Vì đây là loại bệnh gặp rất nhiều ở thời điểm hiện nay, cách sử dụng bài
thuốc dễ dàng, nguyên liệu thông dụng và không gây tác dụng phụ nên bài thuốc
đã được phổ biến kiểm nghiệm ở một số bệnh nhân, bằng cách kiểm tra nồng độ
axit uric trong máu trước khi sử dụng bài thuốc, mọi sinh hoạt ăn uống bình
18


thường, 30 ngày sau khi áp dụng bài thuốc kiểm tra lại kết quả đều có tác dụng rất
tốt. Tất cả các bệnh nhân kiểm chứng đều có nồng đọ axit uric giảm rõ rệt
3.3.4.3. Xác định thành phần hóa học có trong thân cây hoa dẻ lông đen
(Desmos cochinchinensis) và cây dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia )
Trong quá trình điều tra thấy đa số các ông lang bà mế đều sử dụng cây hoa dẻ
lông đen (Desmos cochinchinensis) trong các bài thuốc của họ để chữa nhiều bệnh
khác nhau như dạ dày (bài 65), đau bụng, thần kinh (bài 65), viêm phổi (bài 38),
ghẻ lở (bài 17), ung thư, u hạch (bài 61)…, vì vậy để tìm hiểu nguyên nhân tại sao
cây hoa dẻ lông đen (Desmos cochinchinensis) được sử dụng nhiều, chúng tôi tiến
hành phân tích thành phần hóa học trong thân cây, kết quả cho thây có 3 hợp chất

MeO

3

7

2

3

1
4

2

MeO

9

COOH

HO

2

3

3a

8


(Chất B)

(Chất C)

Trong đó có chất Axit 3,4-dimetoxycinnamic được sử dụng trong hương
vị, màu chàm tổng hợp và một số dược phẩm, cũng là một loại tự ức chế sản xuất
bởi các bào tử nấm để ngăn chặn sự nảy mầm, có khả năng diệt khuẩn.
Lá cây Hoa dẻ lông đen có các hợp chất chủ yếu là sesquirerpen và các hợp
chất monotepen, trong đó các hợp chất sesquirerpen có tác dụng hoạt tính diệt
bào “in vitro” và một số khác có khả năng chống bướu ung thư “in vivo”, từ đó
chúng ta có thể giải thích tại sao người dân địa phương sử dụng lá hoa dẻ lông
đen nấu uống để chữa ung thư.
Tại thời điểm nghiên cứu, trên địa bàn huyện Quế Phong, cây dây lửa ít gân
(Rourea oligophlebia) bị khai thác nhiều. Người dân tộc Thái gọi cây dây lửa ít
gân là cây “Mú từn”. Theo kinh nghiệm của người dân địa phương khi lợn ăn cây
này nó sẽ bị kích thích thần kinh mạnh, tiếng dân tộc Thái gọi “Mú từn” là “lợn
tỉnh”, người ta sử dụng thân cây này ngâm rượu thành sản phẩm hàng hóa đặc sản
của huyện Quế Phong, có tác dụng cường dương, tăng cường sinh lực, tuy nhiên
nếu nấu uống, hoặc uống nhiều sẽ bị rối loại thần kinh. Vì khai thác mạnh nên cây
dây lửa ít gân ngày càng khan hiếm, trước đây cây mú từn rải rác khắp nơi, nhưng
sau khi người dân địa phương chặt ngâm rượu bán thành sản phẩm hàng hóa loài
cây này chỉ có trong rừng sâu của một số xã như Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm
Nhó, do đó đã trồng bảo tồn nguyên vị (in situ) và bảo tồn chuyển vị (ex situ),
19


đồng thời đã nghiên cứu về thành phần hóa học có trong cây dây lửa ít gân
(Rourea oligophlebia) để khuyến cáo sử dụng đối với loài cây này.
Dây lửa ít gân(Rourea oligophlebia Merr.) có các hợp chất sau:

29
4'

18

O

OH O
4''

5''

O

HO
1''' HO 3''

6''' 5'''

H3C
HO

4'''

O
HO

2''

13


19

1

6''

24
23

12

3

27

22
20

rutin

HO

3

4

5

6


5

23

13

25
26

16

8 14
15

10

6'

27
24

17

11
9

2

22

3

,

,
3 OH

6

5

,
6
8

H3CO

O

O

,

2

1

2

9

glycerol
Hợp chất rutin có hoạt tính chống oxy hoá và làm bền thành mạch máu , nó
còn có hoạt tính kháng nấm.
Hợp chất β-sitosterol có tác dụng làm giảm áp lực lên cơ trơn bàng quang, cơ
vòng quanh niệu đạo…, do đó có thể cải thiện các triệu chứng như dòng chảy nhỏ,
tiểu yếu, sau khi tiểu xong còn nhỏ giọt, tiểu bị gián đoạn…, có thể giúp việc tiểu tiện
diễn ra dễ dàng, nhanh chóng, giảm thiểu chứng tiểu buốt.
20


Hợp chất -sitosterol-3-O--D-glucopyranozit có tác dụng tốt trong chuyển
hóa đường huyết
Hợp chất Quercetin có vai trò kháng oxy hóa rất tốt và ức chế phát triển tế bào ung thư.
Hợp chất 1-(2,6-hydroxyhexacosanoyl)-glycerol có khả năng chống sốt rét và
đau xương.
Như vậy, trong các hợp chất trên chưa phát hiện được hợp chất nào có tác
dụng kích thích thần kinh, cường dương như cách sử dụng của người dân tộc
Thái, tuy nhiên các hợp chất này khi ngâm rượu có thể có tác dụng như mong
muốn nhưng chưa có cơ sở khoa học để chứng minh. Ngoài ra trong các cây
thuốc tại địa bàn nghiên cứu đã có nhiều loài được các nhà khoa học nghiên cứu
về hoạt chất để có cơ sở kiểm chứng tác dụng của cây thuốc trong các bài thuốc.
(Phụ lục 3)
3.4. Vấn đề bảo tồn tri thức bản địa, và phát triển tài nguyên rừng
bền vững
Muốn bảo tồn tri thức bản địa về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của
người dân tộc Thái huyện Quế Phong cần phải nghiên cứu phong tập quán, nét văn
hóa của người dân bản địa, điều tra thu thập mức độ sử dụng các bài thuốc dân tộc để
có cơ sở đề xuất các phương án bảo tồn thích hợp.
3.4.1. Thống kê số lƣợng ngƣời sử dụng thuốc dân tộc Thái trên địa bàn huyện
Quế Phong.


0,88

0,84

0,76

0,85

0,75

0,88

0,76

0,88

0,89

0,82

0,0034

Nhóm 2

0,74

0,82

0,86


0,81

0,88

0,76

0,88

0,89

0,83

0,0029

Nhóm 4

0,76

0,86

0,83

0,73

0,81

0,85

0,86


0,88

0,82

0,0008

Nhóm 6

0,81

0,81

0,83

0,77

0,85

0,81

0,88

0,76

0,88

0,89

0,83


0,61

0,61

0,65

0,62

0,63

0,65

0,72

0,71

0,68

0,64

0,65

0,0015

Nhóm

21



0,81

0,67

0,76

0,85

0,81

0,82

0,76

0,88

0,86

0,78

0,0070

Nhóm 11

0,75

0,8

0,82


0,81

0,68

0,75

0,61

0,61

0,67

0,0061

Nhóm 13

0,62

0,77

0,68

0,71

0,62

0,67

0,81


0,86

0,81

0,0016

Nhóm 15

0,75

0,85

0,82

0,76

0,83

0,82

0,86

0,73

0,85

0,85

0,81


0,70

0,77

0,78

0,74

0,79

0,77

0,81

0,75

0,81

0,82

*Các xã: (KS: Kim Sơn, HD: Hạnh Dịch, TT: Thông Thụ, TP: Tiền Phong,
TL: Tri Lễ, CT: Châu Thôn, CM: Cắm Muộn, MN: Mường Nọc, NG: Nậm Giải, QP:
Quang Phong, X1: tỷ lệ % người dân trong 10 xã sử dụng thuốc dân tộc để chữa các
nhóm bệnh, ví dụ: nhóm 1 là nhóm bệnh do thời tiết (cảm nóng, cảm lạnh, đau đầu…)
82% người dân sử dụng thuốc dân tộc để chữa với độ phân tán S2 là 0.0034, X2 là tỷ lệ
% người dân trong 10 xã, thị trấn được khảo sát sử dụng thuốc dân tộc, ví dụ xã Kim
Sơn có 70% người dân sử dụng thuốc dân tộc để chữa bệnh.
3.3.4.2 Thực trạng của cây thuốc tại huyện Quế Phong và vấn đề bảo tồn và
phát triển tài nguyên rừng bên vững.
Qua quá trình nghiên cứu, thực trạng cây thuốc tại huyện Quế Phong bị khai

thuốc Việt Nam (2012) của Võ Văn Chi.
5. Xác định được trong thân cây hoa dẻ lông đen có các hợp chất các hợp chất 1-oxo4α,7α-eudesmanediol; 2,3- đi hydroxy-1-metoxy-noraporphin; axit 3,4dimetoxycinnamic,cây dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia Merr.) có hợp chất rutin,
β-sitosterol,-sitosterol-3-O--D-glucopyranozit,Quercetin,1-(2,6hydroxyhexacosanoyl)-glycerol, dimethoxy quercetin 4‟- O- [α-L- rhamnopyranosyl(1  2) -β-D- glucopyranosi.
6. Bước đầu kiểm chứng được hiệu quả của một số bài thuốc của người dân tộc Thái
hiện đang sử dụng.
Kiến nghị:
Về công tác nghiên cứu khoa học:
+ Tiếp tục đầu tư nghiên cứu về cây thuốc Miền Tây Nghệ An.
+ Tiếp tục nghiên cứu sâu về hai chi có nhiều loài cây thuốc là Cinnamomum, họ
Lauraceae và Ficus họ Moraceae về hoạt tính sinh học.
Về công tác bảo tồn:
+ Trồng bảo tồn tại chỗ các loài có trong Sách Đỏ 2007, và các loài bị khai thác nhiều
tại huyện Quế Phong.
+ Quy hoạch vùng dược liệu mới, phân khu vực trồng dược liệu theo nhóm bệnh đã
được phân chia theo tài liệu Đỗ Tất Lợi.
23


CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
1.Nguyễn Thƣợng Hải, Phạm Hồng Ban, Nguyễn Nghĩa Thìn, (2011) “Đa dạng
thực vật làm thuốc 2 xã Nậm Giải và Châu Kim ở Vùng đệm khu Bảo tồn Pù Hoạt
huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An” Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất hệ thống bảo tàng
Thiên nhiên Việt Nam,Tr193-196.
2.Nguyễn Thƣợng Hải, Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài, (2011) “Đánh giá và
nghiên cứu để góp phần sử dụng và phát triển nguồn gen cây thuốc khu bảo tồn thiên
nhiên Pù Hoạt” Tạp chí Khoa học Lâm Nghiệp. Tr 1704-1709.
3. Nguyễn Thƣợng Hải, Phạm Hồng Ban, Đào Thị Minh Châu, Nguyễn Nghĩa
Thìn, (2013) “Đánh giá đa dạng tài nguyên cây thuốc ở hai xã Thông Thụ và Hạnh
Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ,
Tr191-194.

phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở Khu dự trữ sinh quyển Miền Tây Nghệ An.(2013),
Đề tài cấp Tỉnh,(Thư ký).
2. Bảo tồn nguồn gen cây Mú từn ở huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, (2015) Đề tài
cấp Tỉnh,(Thành viên).

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status