LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những bước tiến vĩ đại của nền sản xuất hàng hóa là sự phân
công và hợp tác lao động quốc tế. Chuyên môn hóa và hợp tác trong các lĩnh
vực sản xuất và dịch vụ đã tạo ra năng suất lao động và chất lượng lao động
ngày càng tăng đang là xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại, và điều
này cũng không phải ngoại lệ đối với lĩnh vực vận tải.
Như chúng ta biết,vận tải biển là một trong những ngành công nghiệp quốc
tế hàng đầu thế giới và được xếp vào loại đứng đầu trong hoạt động kinh tế thế
giới. Vận tải biển là một phương thức vận tải rẻ tiền, năng lực chuyên chở lớn,
giá thành vận tải đường biển thấp hơn so với phương thức vận tải khác. Vận tải
biển tạo điều kiện cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu, giao lưu
văn hoá, thông tin, khoa học kỹ thuật giữa các vùng trên thế giới.
Vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng đang có những bước chuyển
biến quan trọng theo hướng chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc. Các dịch vụ hỗ
trợ cho hoạt động vận tải như: cung ứng, làm thủ tục cho tàu ra vào cảng, tìm và
gom hàng hóa, tư vấn về thị trường đang được phát triển rất nhanh và được cung
cấp bởi bên thứ ba, những dịch vụ đó gọi chung là dịch vụ giao nhận vận tải. Sử
dụng những dịch vụ này đem lại nhiều lợi ích to lớn cho các bên như các nhà
kinh doanh xuất nhập khẩu, người kinh doanh vận tải bởi tính hiệu quả về
chuyên môn do dịch vụ giao nhận mang lại. Hoạt động giao nhận luôn gắn liền,
tạo thuận lợi và đẩy mạnh quá trình vận tải, đặc biệt là vận tải biển.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giao nhận vận tải đường
biển đối với sự phát triển của kinh tế, trong quá trình thực tập tại công ty Cổ
phần Tiếp vận Siêu tốc - một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực
1
HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU.
1.1 Vận tải biển – vai trò của vận tải biển
Việc thông thương buôn bán hàng hóa đóng vai trò quan trọng đối với
mỗi quốc gia. Để vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu người ta sử dụng nhiều
phương thức khác nhau như: đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng
không… Nhưng đến nay, vận tải đường biển vẫn giữ một vị trí quan trọng trong
các phương thức vận tải hàng hoá. Có được vai trò quan trọng như vậy là do vận
tải biển có những ưu điểm vượt trội như:
- Chi phí cho việc xây dựng, cải tạo, bảo dưỡng các tuyến đường biển thấp
vì hầu hết là những tuyến giao thông tự nhiên (trừ các cảng biển).
- Năng lực chuyên chở của phương tiện vận tải biển thường rất lớn: một
tuyến có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai
chiều, đồng thời phương tiện vận tải biển có thể chở được hầu hết các loại hàng
hóa với khối lượng lớn.
-Vận tải bằng đường biển còn tỏ ra đặc biệt có ưu thế trong việc vận chuyển
nhiều loại hàng hóa khác nhau, đặc biệt là khả năng sử dụng để vận chuyển các
container chuyên dụng.
1.2 Lý luận chung về giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển
1.2.1 Giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển
1.2.1.1 Tính tất yếu khách quan về sự ra đời của dịch vụ giao nhận
Trong buôn bán quốc tế, sau khi hợp đồng được ký kết thì người bán thực
hiện nghĩa vụ giao hàng cho người mua, tức là hàng hóa được vận chuyển từ
nước người bán đến nước người mua. Đặc điểm nổi bật của mua bán quốc tế là
người mua, người bán ở những nước cách xa nhau. Tùy theo thỏa thuận giữa hai
bên mà nghĩa vụ tổ chức vận chuyển hàng được giới hạn ở những mức độ khác
nhau. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục được và kết thúc
được, tức là hàng hóa đến tay người mua được, cần phải thực hiện hàng loạt
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.2.1.3 Đặc điểm của nghiệp vụ giao nhận
Do cũng là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ giao nhận vận tải cũng mang
những đặc điểm chung của dịch vụ, đó là nó là hàng hóa vô hình nên không có
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đồng nhất, không thể cất giữ trong kho, sản xuất
và tiêu dùng diễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận
của người được phục vụ. Nhưng do đây là một hoạt động đặc thù nên nó cũng
có những đặc điểm riêng như:
- Dịch vụ giao nhận vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất, nó chỉ làm đối tượng
thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không tác động kỹ thuật làm thay đổi các
đối tượng đó. Nhưng giao nhận vận tải lại có tác động tích cực đến sự phát triển
của sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.
- Mang tính thụ động: đó là do dịch vụ này phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của
khách hàng, các qui định của người vận chuyển, các ràng buộc về mặt luật pháp,
thể chế của chính phủ (nước nhập khẩu, nước xuất khẩu, nước thứ ba…)
- Mang tính thời vụ: dịch vụ giao nhận là dịch vụ phục vụ cho hoạt động xuất
nhập khẩu nên nó phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. mà
thường hoạt động xuất nhập khẩu mang tính chát thời vụ nên hoạt động giao
nhận cũng chịu ảnh hưởng của tính thời vụ.
- Ngoài những công việc như làm thủ tục, môi giới, lưu cước, người làm dịch vụ
giao nhận còn tiến hành các dịch vụ khác như gom hàng, chia hàng, bốc xếp,
nên để hoàn thành công việc tốt hany không còn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật
chất và kỹ thuật và kinh nghiệm của người giao nhận.
1.2.1.4 Vai trò của nghiệp vụ giao nhận đối với sự phát triển của
Thương mại quốc tế.
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống xã hội hiện nay, cũng như là sự mở rộng
giao lưu hợp tác thương mại giữa các nước, đã khiến cho giao nhận ngày càng
có vai trò quan trọng. Điều này được thể hiện ở :
quan, kiểm hoá …”
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Do tính chất công việc, người giao nhận có thể đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau nên hiện nay chưa có luật quốc tế về người giao nhận. Địa vị pháp lý
của người giao nhận rất khác nhau đối với từng nước như: có nước áp dụng tập
quán luật như khối Liên hiệp Anh, cũng có nước áp dụng luật dân sự như
Pháp…. Ở nhiều nước, các hiệp hội giao nhận xây dựng các điều kiện kinh
doanh chuẩn, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao
nhận. Nơi chưa có điều kiện kinh doanh chuẩn thì căn cứ vào hợp đồng giữa
người giao nhận và khách hàng.
1.2.2.2 Phạm vi dịch vụ của người giao nhận
Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng ủy thác ký với chủ hàng, bảo vệ
lợi ích của chủ hàng.
Người giao nhận lo liệu việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải, anh
ta có thể sử dụng phương tiện vận tải, thuê mướn người vận tải.
Cùng với việc tổ chức vận tải, người giao nhận còn làm nhiều việc khác
trong phạm vi ủy thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo
những điều khoản đã cam kết.
Phạm vi các dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận
kho vận. Trừ khi bản thân người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) muốn tự mình
tham gia vào bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, còn thông thường người giao
nhận có thể thay mặt người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liêụ quá trình
vận chyển hàng hoá qua các công đoạn cho đến tay người nhận cuối cùng.
Người giao nhận có thể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý
hoặc thuê dịch vụ của người thứ ba khác.
Những dịch vụ mà nguời giao nhận thường tiến hành là:
+ Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ngoài ra, người giao nhận cung cấp các dịch vụ đặc biệt theo yêu cầu của
chủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị cho các công trình xây dựng lớn,
vận chuyển quần áo may sẵn trong các container đến thẳng cửa hàng, vận
chuyển hàng triển lãm ra nước ngoài...Đặc biệt trong những năm gần đây, người
giao nhận thường cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, đóng vai trò là MTO
và phát hành cả chứng từ vận tải.
1.2.2.3 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:
• Môi giới hải quan (Custom Broker): Họ chỉ hoạt động trong nước với nhiệm vụ
là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu như một môi giới hải quan. Sau
đó mở rộng phục vụ hoạt động cả hàng xuất khẩu và dành chở hàng trong vận
tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của người xuất khẩu
hoặc người nhập khẩu tùy thuộc vào hợp đồng mua bán ngoại thương.
• Đại lý (Agent): Trước đây người giao nhận không đảm nhiệm trách nhiệm của
người chuyên chở. Người giao nhận chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người
gửi hàng và người chuyên chở, như một đại lý của người chuyên chở và người
gửi hàng.
• Người gom hàng (Consolidator): Dịch vụ này đã xuất hiện sớm ở châu âu chủ
yếu phục vụ cho đường sắt. đặc biệt trong vận chuyển hàng hóa bằng container
dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ thành hàng hàng
nguyên để tận dụng sức chứa, sức chở của container và giảm cước phí vận
chuyển. khi là người gom hàng, người giao nhận có thể đóng vai trò là người
vận tải hoặc chỉ là đại lý.
• Người chuyên chở (Carrier): Hiện nay trong nhiều trường hợp người giao
nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký kết
hợp đồng vận chuyển với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ
nơi này đến nơi khác. Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở
theo hợp đồng, nếu người giao nhận ký hợp đồng chuyên chở thì họ đóng vai trò
là người chuyên chở thực tế.
giới hạn trách nhiệm phù hợp với vai trò của một đại lý. Trong trường hợp,
người giao nhận đảm nhận trách nhiệm của một bên chính, tự mình ký kết hợp
đống sử dụng người chuyên chở và các đại lý, thì anh ta không được hưởng
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
nhứng quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm nói trên và anh ta phải chịu trách
nhiệm cho cả quá trình vận tải hàng há kể cả khi hàng nằm trong tay những
người chuyên chở và đại lý mà anh ta sử dụng.
Ở các nước có luật dân sự (Civil law), như các nước Châu Âu, người giao
nhận theo thể chế đại lý hưởng hoa hồng. Đặc điểm của thể chế này là người đại
lý hưởng hoa hồng vừa là bên chính, vừa là đại lý. Đối với khách hàng, anh ta là
đại lý, nhưng đối các hợp đồng anh ta đã ký kết dể thực hiện được nhiệm vụ
được khách hàng uỷ thác, thì anh ta lại là bên chính.
Như vậy người giao nhận có bổn phận của người đại lý và cũng có quyền
hạn của một bên chính để đòi hỏi thức hiện các hợp đồng mà anh ta ký kết để
chuyên chở hàng của khách hàng. Tuy nhiên, thể chế mỗi nước có những điểm
khác nhau. Nhiều nước, căn cứ vào luật quốc gia, các hiệp hội giao nhận xây
dựng điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy đinh quyền hạn, nghĩa vụ, trách
nhiệm của người giao nhận. Những nơi chưa áp dụng điều kiện kinh doanh tiêu
chuẩn thì hợp đồng giữa người giao nhận và khách hàng phải xác đinh rõ nhiệm
vụ, trách nhiệm, quyền hạn của mỗi bên.
1.2.2.4.2 Quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người giao nhận
Như vậy, có thể phân biệt quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người giao
nhận khi đóng vai trò là người đại lý và khi đóng vai trò là người uỷ thác. Ở địa
vị nào, người giao nhận cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hoá được uỷ thác,
thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề liên quan đến
vận tải hàng hoá. Nhưng khi là đại lý, anh ta chấp nhận trách nhiệm do lỗi lầm
sai sót của mình và của người làm công cho mình. Lỗi lầm sai sót đó có thể là
hạn hợp lý.
6. Khi đảm nhận các công việc vận chuyển hàng hóa thì phải tuân thủ các qui định
của pháp luật, tập quán chuyên ngành về vận tải.
• Trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của người giao nhận
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Trừ những điều khác đã quy định trong Các điều kiện kinh doanh chuẩn,
trách nhiệm của người giao nhận, trong mọi trường hợp, đối với bất kỳ sự cẩu
thả hay lỗi lầm hoặc sự cố hay sự kiện khác dù xảy ra thế nào và bất cứ nguyên
nhân gây ra mất mát, hư hỏng không giải thích được, sẽ không vượt qúa 500
triệu đồng/vụ khi họ hành động không phải là đại lý.
- Nếu người giao nhận hành động như người chuyên chở thì giới hạn trách
nhiệm được quy định theo luật vận tải.
- Trong trường hợp người giao nhận là MTO, khách hàng không khai báo rõ
về giá trị của hàng hoá bằng văn bản trước khi gửi hàng thì giới hạn trách
nhiệm là 666,67 SDR/kiện hoặc 2 SDR/kg trọng lượng toàn bộ của hàng hóa bị
tổn thất, bên khiếu nại được quyền lựa chọn phương án bồi thường nào có lợi
nhất. Nếu quá trình vận tải không liên quan đến vận tải biển thì người giao nhận
phải bồi thường 8,33 SDR/kg trọng lượng của hang hóa bị tổn thất. Nếu khách
hàng khai báo trung thực giá trị của hàng hóa bằng văn bản trước khi gửi hàng
thì người giao nhận phải bồi thường đúng giá trị của hàng hóa đã được khai
báo. Giá trị của hàng hóa được xác định theo hóa đơn thương mại. Nếu không
có hóa đơn thương mại thì xác định theo giá thị trường tại thời gian và địa điểm
xảy ra tổn thất, hoặc được tham chiếu theo giá thông thường của hàng cùng loại
có chất lượng tương đương.
Người giao nhận được miễn trách nhiệm trong những trường hợp:
- Hành động hoặc sự sơ suất của khách hàng hoặc chủ hàng hay bất kỳ
của khách hàng gây ra.
- Trả cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá mọi khoản tiền đã đến hạn thanh
toán.
1.2.4 Luật chi phối hoạt động giao nhận
1.2.4.1 Luật quốc gia:
• Luật thương mại 2005:
Điều 233: Dịch vụ logistics: định nghĩa về dịch vụ logstic
Điều 234: điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Điều 235: Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ
logistics
Điều 236: Quyền và nghĩa vụ của khách hàng
Điều 237: Các trường hợp miễn trách đối với thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistic
Điều 238: Giới hạn trách nhiệm
Điều 239: Quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa
Điều 240:Nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics khi cầm
giữ hàng hóa.
• Bộ luật Hàng hải 2005:
Điều 74 đến điều 97 có quy định về quyền và nghĩa vụ của người vận
chuyển, trách nhiệm của người vận chuyển và các nôi dung liên quan đến chứng
từ trong quá trình vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, thời gian khiếu nại…
Và một số bộ luật khác như: Luật Giao thông đường bộ 2005, Luật Doanh
nghiệp 2005, Luật Hải quan 2005.
• Một số nghị định liên quan:
- Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007: quy định chi tiết luật Thương
mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối
ESCAP... FIATA cũng được các tổ chức liên quan đến buôn bán và vận tải như
Phòng thương mại quốc tế, Hiệp hội vận chuyển Hàng không quốc tế (IATA),
các tổ chức chuyên chở và chủ hàng... thừa nhận.
Thành lập vào ngày 31/05/1926 và liên tục phát triển, trong nhiều năm qua
FIATA đã trở thành người đại diện cho giới cung cấp dịch vụ logistics chuyên
nghiệp toàn cầu. Thành viên của FIATA chủ yếu là các Hiệp hội Giao nhận và
Logistics của các Quốc gia. Hiện tại, Hiệp hội có khoảng 40.000 công ty Giao
nhận và Hậu cần Logistics tại 150 Quốc gia. FIATA có tư vấn cho Hội đồng
Kinh tế và Xã Hội (ECOSOC) của Liên Hiệp quốc ( bao gồm ECE, ESCAP,
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ESCWA); Hội nghị Liên Hiệp quốc về Thương Mại và Phát triển (UNCTAD) và
Uỷ Ban Liên Hiệp quốc về Luật thương mại Quốc tế (UNCITRAL).
FIATA được công nhận là đại diện là ngành giao nhận vận tải cho nhiều tổ
chức, cơ quan chính phủ, các tổ chức tư nhân quốc tế trong lĩnh vực giao nhận
vận tải như Phòng thương mại quốc tế (ICC), Hiệp hội Hàng không Quốc tế
(IATA); Liên minh Quốc tế đường sắt (UIC); Liên minh Giao thông đường bộ
Quốc tế (Iru); Tổ chức Hải quan thế giới (WCO); Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO),... Slogan hiện tại của FIATA là “Global Voice of Freight Logistics”.
Mục tiêu hoạt động của FIATA
- Hiệp nhất ngành giao nhận vận tải quốc tế.
- Đại diện, thúc đẩy và bảo vệ lợi ích của ngành bằng cách tham gia làm cố
vấn hoặc chuyên gia tại các cơ quan quốc tế kinh doanh giao thông vận tải
(phương tiện vận tải)
- Mở rộng các dịch vụ thương mại của các nhà giao nhận đến mọi người
thông qua việc phổ biến thông tin, phát hành ấn phẩm,..
- Nâng cao chất lượng dịch vụ của các nhà giao nhận bằng cách phát triển
và thúc đẩy điều kiện kinh doanh chuẩn quốc tế, đồng nhất tài liệu giao nhận,...
- FWR (FIATA Warehouse Receipt)
- FBL (negotiable FIATA Multimodal Transport Bill of Lading)
- FWB (non-negotiable FIATA Multimodal Transport Waybill)
- FIATA SDT (Shippers Declaration for the Transport of Dangerous Goods)
- FIATA SIC (Shippers Intermodal Weight Certificate)
- FFI (FIATA Forwarding Instructions)
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Các chứng từ của FIATA đã được công nhận là văn bản truyền thống và độ
chính xác cao. Trong quá khứ, nó đã tạo ra sự thuận lợi cho việc giao thương
quốc tế, trong tương lai chắc chắn sẽ trở thành công cụ đắc lực trong các dịch vụ
thương mại trên thế giới..
1.2.5.2 Các Công ty Giao nhận quốc tế ở Việt Nam.
Những năm 1960, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt nam mang tính chất
phân tán. Các đơn vị xuất nhập khẩu tự tổ chức chuyên chở hàng hoá của mình,
vì vậy, các Công ty xuất nhập khẩu đã thành lập riêng phòng kho vận, chi nhánh
xuất nhập khẩu, trạm Giao nhận ở các cảng, ga liên vận đường sắt.
Để tập trung đầu mối quản lý chuyên môn hoá khâu vận tải giao nhận, năm
1970 Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Thương mại) đã thành lập 2 tổ chức Giao
nhận:
- Cục Kho vận kiêm Tổng công ty giao nhận Ngoại thương trụ sở tại Hải
Phòng.
- Công ty giao nhận đường bộ, trụ sở tại Hà Nội.
Năm 1976, Bộ Ngoại thương đã sáp nhập hai tổ chức trên thành một công
ty giao nhận thống nhất là Tổng Công ty giao nhận và Kho vận ngoại thương
Vietrans. Trong thời kỳ bao cấp, Vietrans là cơ quan duy nhất được phép tiến
hành tổ chức giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu trên cơ sở ủy thác của các đơn
vị xuất nhập khẩu.
chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong
một thời gian nhất định những hàng hoá ghi trên chứng từ.
Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan....
- Việc giao nhận có thể do cảng làm theo uỷ thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm.
1.2.6.3 Nhiệm vụ của các cơ quan tham gia giao nhận hàng hoá XNK
1.2.6.3.1 Nhiệm vụ của cảng
- Ký kết hợp đồng xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hoá với chủ
hàng
Hợp đồng có hai loại:
+ Hợp đồng uỷ thác giao nhận
+ Hợp đồng thuê mướn: chủ hàng thuê cảng xếp dỡ vận chuyển, lưu kho,
bảo quản hàng hoá
- Giao hàng xuất khẩu cho tầu và nhận hàng nhập khẩu từ tầu nếu được uỷ
thác
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Kết toán với tầu về việc giao nhận hàng hoá và lập các chứng từ cần thiết
khác để bảo vệ quyền lợi của các chủ hàng.
- Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng trong nước theo sự uỷ thác của
chủ hàng xuất nhập khẩu.
- Tiến hành việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho trong khu vực cảng
- Chịu trách nhiệm về những tổn thất của hàng hoá do mình gây nên trong
quá trình giao nhận vận chuyển xếp dỡ.
- Hàng hoá lưu kho bãi của cảng bị hư hỏng, tổn thất thì cảng phải bồi
thường nếu có biên bản hợp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảng
không có lỗi.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá trong các trường hợp sau:
Các chứng từ này đều phải cung cấp 24h trước khi tầu đến vị trí hoa tiêu.
- Theo dõi quá trình giao nhận để giải quyết các vấn đề phát sinh
- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình giao nhận để có cơ sở khiếu nại
các bên có liên quan
- Thanh toán các chi phí cho cảng.
1.2.6.3.3 Nhiệm vụ của hải quan
- Tiến hành thủ tục hải quan, thực hiện việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát
hải quan đối với tầu biển và hàng hoá xuất nhập khẩu
- Ðảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu, về thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Đảm bảo trật tự an ninh tại các cảng biển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ hàng, chủ tàu.
- Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý hành vi
buôn lậu, gian lận thương mại hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối,
tiền Việt Nam qua cảng biển.
1.2.6.4 Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng biển
1.2.6.4.1 Ðối với hàng xuất khẩu
a. Ðối với hàng hoá không phải lưu kho bãi tại cảng
Ðây là hàng hoá XK do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các nơi trong
nước để xuất khẩu, có thể để tại các kho riêng của mình chứ không qua các kho
của cảng. Từ kho riêng, các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác có thể
giao trực tiếp cho tầu. Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua
cảng.
22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ðưa hàng đến cảng: do các chủ hàng tiến hành
- Làm các thủ tục xuất khẩu, giao hàng cho tầu
+ Chủ hàng ngoại thương phải đăng ký với cảng về máng, địa điểm, cầu tầu
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
* Cảng giao hàng cho tàu:
- Trước khi giao hàng cho tầu, chủ hàng phải:
+ Làm các thủ tục liên quan đến XK: hải quan, kiểm dịch, kiểm nghiệm
(nếu có....
+ Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tầu đến (ETA), chấp nhận NOR
+ Giao cho cảng sơ đồ xếp hàng
- Tổ chức xếp và giao hàng cho tầu:
+ Trước khi xếp, phải tổ chức vận chuyên hàng từ kho ra cảng, lấy lệnh xếp
hàng, ấn định số máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân và người áp tải nếu cần
+ Tiến hành bốc và giao hàng cho tầu. Việc xếp hàng lên tầu do công nhân
cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tầu dưới sự giám sát của đạI diện hải quan.
Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi số lượng hàng
giao vào Tally Report, cuối ngày phải ghi vào Daily Report và khi xếp xong một
tầu, ghi vào Final Report. Phía tầu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi kết quả
vào Tally Sheet. Việc kiểm đếm cũng có thể thuê nhân viên của công ty kiểm
kiện
+ Khi giao nhận xong một lô hoặc toàn tầu, cảng phải lấy biên lai thuyền
phó (Mates Receipt) để trên cơ sở đó lập vận đơn (B/L)
- Lập bộ chứng từ thanh toán: Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, nhân
viên giao nhận phải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết tập hợp thành bộ chứng
từ, xuất trình cho ngân hàng để thanh toán tiềnhàng. Nếu thanh toán bằng L/C
thì bộ chứng từ thanh toán phải phù hợp một cách máy móc với L/C và phải phù
hợp với nhau và phải xuất trình trong thời hạn hiệu lực của L/C.
- Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng
hoá (nếu cần)
- Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận
chuyển, bảo quản, lưu kho....
- Tính toán thưởng phạt xếp dỡ, nếu có
1.2.6.4.2 Ðối với hàng nhập khẩu
+ Dỡ hàng và nhận hàng từ tầu (do cảng làm)
+ Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận (nhân viên giao nhận
phải cùng lập)
+ Ðưa hàng về kho bãi cảng
- Cảng giao hàng cho các chủ hàng
25