BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
TÌM HIỂU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
GIỐNG LÚA TẠI XÃ THẠNH NHỰT
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG
NGUYỄN HOÀNG TOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN & KHUYẾN NÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2007
Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học, khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận: “TÌM HIỂU TÁC
ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH CHUYỂN ĐỔI GIỐNG LÚA TẠI XÃ THẠNH
NHỰT, HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG”, do NGUYỄN HOÀNG
TOẠI, sinh viên khoá 2003, ngành PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN & KHUYẾN NÔNG,
đã bảo vệ thành công trước hội đồng ngày________________.
TS. LÊ QUANG THÔNG
Người hướng dẫn,
Ngày
Ngày
cô khoa Kinh Tế đã tận tình truyền thụ, hướng dẫn, trang bị những kiến thức quý báu
cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Thông qua khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý
báu của tập thể cán bộ UBND xã, HTX Bình Tây xã Thạnh Nhựt, huyện Gò Công
Tây, tỉnh Tiền Giang đã tạo điều kiện thuận lợi và hết lòng giúp đỡ, đóng góp ý kiến
cho khóa luận tốt nghiệp của tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu tại địa phương.
Có một người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và kính yêu, người đã có 3 năm trực
tiếp giảng dạy tôi trong thời gian tôi theo học tại trường, đó là thầy Lê Quang Thông.
Thầy cũng chính là người tận tình chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
này.
Và cuối cùng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới tất cả các bạn của tôi, những
người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian sống và học tập tại trường Đại Học
Nông Lâm này.
NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN HOÀNG TOẠI. Tháng 6 năm 2007. “Tìm Hiểu Tác Động của
Chương Trình Chuyển Đổi Giống Lúa tại Xã Thạnh Nhựt, Huyện Gò Công Tây,
Tỉnh Tiền Giang”.
NGUYEN HOANG TOAI. June 2007. “Searching for Impact of Rice – Seed
Convert Project in Thanh Nhut Commune, Go Cong Tay District, Tien Giang
Province”.
Khóa luận tìm hiểu về tác động của chương trình chuyển đổi giống lúa tại xã
Thạnh Nhựt, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang trên cơ sở phân tích số liệu thu thập
được từ UBND xã, thông qua đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân và
điều tra, phỏng vấn 52 hộ trồng lúa trên địa bàn Thạnh Nhựt. Khóa luận tập trung
nghiên cứu 5 nội dung chính như sau:
- Thực hiện chương trình đổi giống người dân gặp những thuận lợi và khó khăn
gì?
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định trong việc thực hiện
Hợp Tác Xã
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
LVCN
Luận văn Cử nhân
PRA
Đánh giá Nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal)
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
UNESCO
Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc
(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
VS
Vệ sinh
VTNN
nước ta. Cây lúa nước được xem là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho con người,
đồng thời đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước (thông qua xuất khẩu gạo). Từ chỗ
lương thực thiếu đói, hiện đã giải quyết được vấn đề lương thực đủ ăn, có dự trữ và
xuất khẩu. Bắt đầu từ năm 1989 đã có xuất khẩu và hàng năm đều trên 2 triệu tấn gạo,
trong đó năm 1999 lên đến 4,55 triệu tấn. Trong thời kỳ từ năm 1989 – 2000 tốc độ
tăng trung bình sản lượng lúa hàng năm là 5,5%. Năm 2000 sản lượng lúa 32,5 triệu
tấn (số liệu niên giám thống kê năm 2000). Để có được những con số trên, nhân tố
“tiến bộ kỹ thuật” trong sản xuất nông nghiệp là không thể không nhắc tới, đặc biệt là
nhân tố giống, chính nó đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và thu
nhập cho người nông dân. Những khó khăn của nền nông nghiệp Việt Nam là giá cả
nông sản bấp bênh (đầu ra không ổn định), hay gặp thiên tai (bão, lụt, lũ hàng năm),
dịch bệnh, năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp, chất lượng nông sản chưa được cao
(do yếu tố giống)…và nghề trồng lúa cũng không nằm ngoài các đặc điểm chung đó.
Xã Thạnh Nhựt thuộc huyện Gò Công Tây tỉnh Tiền Giang, một trong những
địa phương của vùng đồng bằng sông Cửu Long (vựa lúa lớn nhất của cả nước với
90% lượng gạo xuất khẩu, 2006), cuối năm 1999, trước thực trạng diễn ra trong vấn đề
canh tác lúa tại địa phương đó là giống cũ đã bắt đầu thoái hóa, dễ sâu bệnh, năng suất
giảm, chi phí tăng, hợp tác xã Bình Tây dưới sự chỉ đạo và phân công của UBND xã
Thạnh Nhựt đã tiến hành mua một số giống mới từ viện lúa đồng bằng sông Cửu
Long, công ty giống Miền Nam… có đặc tính tốt hơn về thử nghiệm trên cánh đồng
lúa của xã Thạnh Nhựt nhằm thay thế dần các giống cũ đang ngày càng thoái hóa. Tuy
vậy, đến năm 2003 việc áp dụng chương trình mới được phổ biến ra diện rộng. Trước
tình hình này, đề tài nghiên cứu “TÌM HIỂU TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH
CHUYỂN ĐỔI GIỐNG LÚA TẠI XÃ THẠNH NHỰT, HUYỆN GÒ CÔNG TÂY,
TỈNH TIỀN GIANG” được thực hiện nhằm mô tả bức tranh sản xuất lúa của địa
phương, ưu nhược điểm của chương trình chuyển đổi giống và bổ sung vào kinh
nghiệm quản lý về trồng lúa của chính quyền địa phương.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu điều tra thu thập số liệu về trồng lúa của nông hộ trong 2 năm 2002
và 2006. Năm 2000 là năm cuối cùng trước khi người dân chuyển sang dùng các giống
lúa mới.
Nghiên cứu được tiến hành trong 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6/2007.
1.4. Cấu trúc của khóa luận
Luận văn gồm 5 chương với những nội dung cụ thể như sau:
- Chương 1. Mở đầu
Chương này bao gồm các nội dung:
+ Lý do chọn vấn đề nghiên cứu “Tìm hiểu tác động của chương trình
chuyển đổi giống lúa tại xã Thạnh Nhựt, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang”.
+ Mục tiêu nghiên cứu.
+ Phạm vi nghiên cứu.
+ Cấu trúc khóa luận.
- Chương 2. Tổng quan
Chương này mô tả những đặc điểm khái quát về địa bàn nghiên cứu (xã Thạnh
Nhựt) như các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội… và giới thiệu sơ nét về hợp tác
xã Bình Tây, đơn vị có vai trò rất lớn trong chương trình chuyển đổi giống lúa này.
- Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên
cứu (tác động của chương trình chuyển đổi giống lúa) như vai trò của tiến bộ kỹ thuật
trong nông nghiệp, tiêu chuẩn chọn giống lúa…và giới thiệu một cách có hệ thống các
phương pháp nghiên cứu mà luận văn đã sử dụng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu
đã nêu ở phần 1.2.2 hoặc tìm ra các kết quả nghiên cứu. Chương này gồm 2 phần:
+ Cơ sở lý luận.
+ Phương pháp nghiên cứu.
3
- Chương 4. Kết quả và thảo luận
+ Phía Đông giáp thị trấn Vĩnh Bình và xã Bình Nhì.
+ Phía Tây giáp xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo.
+ Phía Nam giáp xã Vĩnh Hựu và xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo.
+ Phía Bắc giáp xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây và xã Bình Phục
Nhứt, huyện Chợ Gạo.
Hình 2.1. Bản Đồ Hành Chính Huyện Gò Công Tây Tỉnh Tiền Giang
Nguồn tin: http://www.tiengiang.gov.vn/BDO2006/gocongtay.html
Xã Thạnh Nhựt có diện tích tự nhiên 1.742 ha, với dân số năm 2006 là 14.086
người, mật độ dân số trung bình là 808 người/km 2. Xã có 5 ấp, bao gồm: Bình Đông,
Bình Tây, Bình Trung, Tân Thạnh và Thạnh Lạc Đông.
6
Hình 2.2. Sơ Đồ Các ấp của Xã Thạnh Nhựt
Nguồn tin: Văn phòng UBND xã
b) Địa hình
Nhìn chung, xã Thạnh Nhựt có địa hình tương đối bằng phẳng với độ cao trung
bình từ 0,5 – 0,9 mét so với mực nước biển, có xu hướng thoải dần từ Tây sang Đông.
c) Khí hậu, thời tiết
Xã Thạnh Nhựt nằm trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nên mang
những nét đặc trưng của khí hậu đồng bằng châu thổ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt
đới gió mùa, hàng năm có 2 mùa mưa, nắng rõ rệt.
Về nhiệt độ: nhiệt độ bình quân trong năm tương đối cao, trung bình khoảng
26,80C, chênh lệch giữa các tháng trong năm là không lớn, từ 3 – 5 0C. Tháng có nhiệt
độ bình quân thấp nhất là tháng 1, từ 23 – 25 0C. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm thay
chung nguồn nước có chất lượng khá tốt được người dân sử dụng ngày càng nhiều.
Thủy văn: Thạnh Nhựt nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật
triều không đồng đều từ biển Đông, mực nước cao nhất vào các tháng triều cao từ
tháng 10 đến tháng 11; thấp nhất vào các tháng triều kiệt từ tháng 6 đến tháng 7. Hàng
năm có khả năng xâm nhập mặn vào địa bàn xã theo hệ thống kênh với độ mặn trung
bình trên 4,5g/lít.
8
f) Đất đai, thổ nhưỡng
Theo chương trình điều tra 60B (chuyển đổi đất theo FAO/UNESCO), trên địa
bàn xã có các loại đất như sau:
Đất phù sa đang phát triển có tầng loang đỏ vàng: diện tích 749 ha, chiếm tỷ lệ
43,01% tổng diện tích đất tự nhiên, phân bố hầu hết khắp các ấp trên địa bàn xã. Đất
có dạng địa hình từ trung bình đến cao, thành phần cơ giới nặng, ít xốp, hàm lượng
dinh dưỡng không cao, thích hợp cho việc trồng lúa, ngoài ra cũng có thể thâm canh
vườn trong điều kiện cải tạo độ tơi xốp của đất sau khi lên líp.
Đất phù sa đang phát triển có đốm rỉ: diện tích 410 ha, chiếm 23,51% tổng diện
tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ấp Bình Trung, Bình Đông. Đất có địa hình trung bình,
tương đối giàu mùn nhưng kém tơi xốp và hơi chua, thích nghi cho canh tác lúa lẫn
vườn.
Đất lập líp (đất phù sa xáo trộn): diện tích 370 ha, chiếm tỷ lệ 21,24% tổng diện
tích đất tự nhiên, phân bố đều ở các ấp. Đây là loại đất phù sa tương đối trẻ được hình
thành trên các vùng đất sa bồi có dạng địa hình trung bình, là loại đất màu mỡ. Thành
phần cơ giới nặng, giàu dinh dưỡng thích hợp cho việc làm nhà ở, trồng cây ăn trái, và
các loại hoa màu khác.
Đất cát giồng: diện tích 207 ha, chiếm 11,86% tổng diện tích đất tự nhiên, được
phân bố rải rác khắp các ấp. Đây là loại đất có đặc điểm cao trình khá cao, tiêu nước
tốt nhưng khó tưới, độ phì từ trung bình đến khá, thích hợp cho việc canh tác vườn,
trường phụ.
+ Trường tiểu học: trên địa bàn có 2 trường tiểu học (là trường tiểu học
Thạnh Nhựt 1 và tiểu học Thạnh Nhựt 2), chia làm 2 điểm trường chính và 4 điểm
trường phụ nằm rải rác ở các ấp.
+ Trường trung học cơ sở: xã có 1 trường trung học cơ sở là trường trung
học cơ sở Thạnh Nhựt nằm ở ấp Tân Thạnh, gồm 20 phòng.
Theo số liệu tổng kết năm học 2005 – 2006, trường trung học cơ sở Thạnh Nhựt
có tỷ lệ học sinh xét tốt nghiệp đạt 100%. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung
học cơ sở được tiến hành thường xuyên.
Cơ sở vật chất của các trường hiện nay (trừ trường tiểu học Thạnh Nhựt 2 được
xây dựng kiên cố, mới hoàn toàn năm 2004) nhìn chung chưa đảm bảo cho nhu cầu
học tập của các em học sinh trên địa bàn xã. Trong tương lai cần đầu tư cải tạo và mở
rộng diện tích trường nhằm xây dựng thành trường chuẩn quốc gia.
Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, chương trình hành động của Đảng, UBND
xã thường xuyên phối hợp cùng ngành giáo dục, củng cố và nâng cao chất lượng về
10
mọi mặt. Bên cạnh đó, còn có sự kết hợp tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đưa
sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển.
c) Về cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc
Hệ thống đường giao thông: nhìn chung hệ thống giao thông của xã khá phát
triển, toàn xã có 27,83 ha đất giao thông. Mạng lưới giao thông của xã gồm các tuyến
đường sau:
+ Quốc lộ 50: đoạn ngang qua xã có chiều dài 5,3 km, nền đường được
trải nhựa rộng 9 mét. Đây là tuyến giao thông chính, có vị trí rất quan trọng trong việc
vận chuyển hàng hóa, hành khách và đi lại của người dân, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội của địa phương.
+ Ngoài ra trên địa bàn xã Thạnh Nhựt còn có rất nhiều tuyến đường
giao thông huyết mạch khác như: lộ 12A, lộ 12B, lộ Thạnh Lạc Đông, đường Bình
100% số hộ. Kết quả bình xét có 2.598 hộ đạt 4 tiêu chuẩn gia đình văn hóa, chiếm
97,05%, 78 hộ (2,9%) đạt 3 tiêu chuẩn và 1 hộ (0,04%) đạt 1 tiêu chuẩn.
Được sự hỗ trợ của ngành cấp trên, tổ truyền thanh xã đã cải tạo và lắp đặt hệ
thống tăng âm, loa phóng thanh chiều dài 2.000 mét, đảm bảo cho công tác tuyên
truyền.
Toàn xã có 2/5 ấp văn hóa (do huyện công nhận). Sắp tới sẽ có thêm 1 ấp nữa
được huyện công nhận là ấp văn hóa, đó là ấp Thạnh Lạc Đông. Công tác điều tra tình
hình nhân dân thực hiện các tiêu chí ấp văn hóa của ấp Thạnh Lạc Đông đến nay cơ
bản đã hoàn tất.
e) Về công tác xóa đói giảm nghèo
Công tác xóa đói giảm nghèo ở xã rất được quan tâm. Đầu năm 2006 toàn xã có
459 hộ nghèo (xét theo chuẩn nghèo mới 2006), chiếm tỷ lệ 17,15%, đến cuối năm đã
thoát nghèo 123 hộ, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 12,55%.
Ban lao động thương binh và xã hội xã kết hợp cùng ban lãnh đạo các ấp phát
phiếu khám chữa bệnh cho người nghèo được 1.922/1.945 phiếu của năm 2006.
f) Về công tác vệ sinh môi trường
Nhìn chung môi trường sinh thái của xã vẫn giữ được những gì mà thiên nhiên
ban tặng. Tuy nhiên trong những năm gần đây việc thiếu ý thức của một bộ phận
người dân là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn
xã. Trong sản xuất nông nghiệp do lạm dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, bên
cạnh đó, trong chăn nuôi phân của gia súc gia cầm chưa được xử lý nên đã ảnh hưởng
ít nhiều đến môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường nước. Mặc khác, việc xử lý
nước và rác thải ở các khu vực dân cư tập trung xung quanh chợ, cặp các tuyến giao
12
thông chưa được người dân ý thức cao gây ảnh hưởng đến môi trường sống, sức khỏe
của các cộng đồng dân cư cũng như gia tăng khả năng lây bệnh cho ngành nuôi trồng
thủy sản của địa phương. Vì vậy, trong tương lai khi đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế xã hội cần tăng cường công tác bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức của người dân
- Đất trồng cây hàng năm: diện tích đất trồng cây hàng năm là 1.070 ha, gồm 2
loại đất chính:
+ Trồng lúa: diện tích 1.043 ha, phân bố hầu hết trên toàn địa bàn xã,
canh tác chủ yếu lúa 2 – 3 vụ/năm, nhìn chung có năng suất tương đối cao, trung bình
đạt 4,5 – 5,5 tấn/vụ/ha. Trong năm vừa qua, một số diện tích có năng suất thấp là do bị
ảnh hưởng của bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa. Toàn xã có khoảng 156 ha lúa
bị nhiễm bệnh với tỷ lệ nhiễm từ 10 – 30% diện tích.
+ Trồng cây hàng năm khác (27 ha): diện tích này nằm rải rác ở các ấp,
phân bố chủ yếu dọc theo các tuyến kênh chính, nằm xen lẫn đất ở của người dân,
canh tác các loại rau màu thực phẩm, dưa, bắp… cung cấp sản phẩm cho nhu cầu của
nhân dân trong xã, xuất sang các địa phương khác góp phần tăng thêm thu nhập cho bà
con nông dân. Sau đây là vài cây màu tiêu biểu của địa phương: Cây bắp, diện tích
xuống giống trong năm 2006 là 17 ha, năng suất trung bình 5,33 tấn/ha, sản lượng bắp
là 92 tấn; dưa hấu, tổng số trong năm có 61 ha dưa hấu xuống giống và đã thu hoạch,
năng suất trung bình 18 tấn/ha, giá bán trung bình vào khoảng 1.000 – 4.500 đồng/kg
tùy theo thời điểm. Nhìn chung đa số các hộ nông dân thu hoạch dưa hấu trong thời
gian qua đều có lãi từ 1 – 4 triệu đồng/1.000 m 2, tuy nhiên cũng có một số hộ do thu
hoạch vào thời điểm giá thấp nên không có lãi, thậm chí lỗ cả vốn.
- Đất trồng cây lâu năm: diện tích đất trồng cây lâu năm là 478 ha (27,45% tổng
diện tích đất tự nhiên), gồm:
+ Cây công nghiệp lâu năm (441 ha): phân bố khắp địa bàn xã, nằm phân
tán theo đất thổ cư, chủ yếu là cây dừa. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, do bị bọ
cánh cứng phá hoại nên năng suất trái giảm thấp và diện tích dừa cũng giảm theo.
Ngoài ra trên diện tích vườn, vài năm trở lại đây (2005 – 2006), người dân còn
trồng xen thêm cây cacao dưới gốc dừa với tổng diện tích toàn xã là 160 ha, có 480 hộ
nông dân tham gia vào 11 câu lạc bộ. Tình hình phát triển của cây cacao trên địa bàn
xã cũng tương đối tốt, hiện đang cho trái bói; mặc dù vậy vẫn còn một số hộ không
tích cực chăm sóc nên cây không phát triển.
+ Cây ăn quả lâu năm (34 ha): được phân bố rải rác trên địa bàn xã, chủ
yếu là xoài, mận, bưởi… Nhìn chung diện tích vườn cây ăn quả cho sản lượng chưa
trong 6 tháng).
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của xã là 51,6 ha, chủ yếu là nuôi trồng
thủy sản nước ngọt, nuôi cá trong ao, mương, đìa diện tích nhỏ gắn liền với đất ở, góp
phần cải thiện, bổ dung dinh dưỡng cho bữa ăn hàng ngày, đồng thời góp phần tăng
thêm thu nhập cho bà con.
15
d) Về công tác khuyến nông và thú y tại địa phương
Công tác khuyến nông: Toàn xã có 2 câu lạc bộ khuyến nông (1 của xã, 1 của
hợp tác xã Bình Tây) với 3 khuyến nông viên (xã: 2, HTX Bình Tây: 1) và 11 câu lạc
bộ cacao. Cứ mỗi tháng CLB khuyến nông sinh hoạt một lần để nắm tình hình sản xuất
nông nghiệp và phổ biến các chủ trương của cấp trên. Trong năm 2006, tranh thủ sự hỗ
trợ của ngành cấp trên, trạm khuyến nông của huyện, các công ty phân bón, công ty
thuốc bảo vệ thực vật trong và ngoài tỉnh, 2 CLB khuyến nông đã tổ chức được 115
lớp tập huấn và 14 cuộc hội thảo cho trên 5.660 lượt nông dân tham gia xoay quanh
các nội dung về kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên lúa, cây trồng và kỹ thuật
chăm sóc phòng trừ bệnh trên gia súc, gia cầm. Đặc biệt cũng trong năm qua, CLB
khuyến nông xã đã phối hợp với trạm BVTV huyện và Công ty Bayer phát 300 chai
thuốc Cubix, 939 chai thuốc rầy nâu cho 751 hộ với diện tích 337 ha để phòng trị rầy
nâu cho nhân dân trong khu vực bị nhiễm bệnh ca
Công tác thú y: Ban thú y xã có 17 thú y viên. Nhiệm vụ của ban thú y là điều
tra, theo dõi và tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm ở địa phương để hạn chế phát sinh
dịch bệnh và lây lan. Hàng năm có 2 đợt tiêm phòng chính. Tuy nhiên vài năm trở lại
đây có tiêm thêm 2 đợt phụ để tránh tái phát dịch cúm trên gia cầm.
2.2. Tổng quan về hợp tác xã Bình Tây
HTX Bình Tây có tên gọi đầy đủ là hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng
hợp Bình Tây. HTX Bình Tây được thành lập tháng 12/1978. Lúc đầu có 479 xã viên
tham gia, đến nay con số đó là 923. HTX kinh doanh trên 11 lĩnh vực như là kinh
doanh lúa giống, trạm cung cấp nước sinh hoạt nông thôn, dịch vụ chợ nông thôn và