MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển của thế giới ngày nay, hội nhập quốc tế đã trở thành một
quá trình phát triển tất yếu của tất cả các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế
giới. Ở khu vực Đông Nam Á, hội nhập quốc tế giữa các quốc gia trong khu vực
cũng ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh khu vực và thế giới
đang chứng kiến nhiều thay đổi nhanh chóng, khó lường. Trong những năm gần
đây, cùng với sự hội nhập giao thoa giữa các nền kinh tế và văn hóa, khu vực
Đông Nam Á cũng diễn ra sự chuyển dịch nhanh chóng của các nguồn lao động
và nhân lực giữa các quốc gia trong khu vực. Do đó lao động di trú đã trở thành
một trong những vấn đề pháp lý quan trọng cần được quan tâm hàng đầu trong
mối quan hệ giữa các quốc gia trong khối ASEAN. Để tập trung làm rõ hơn vấn
đề này, trong khuôn khổ nội dung bài tập lớn học kì em xin chọn đề bài “Bình
luận nội dung bảo vệ quyền của lao động di trú trong ASEAN”
1
NỘI DUNG
1. Những vấn đề lý luận chung
a. Khái niệm lao động di trú
“Lao động di trú”(migrant worker) là thuật ngữ được ghi nhận trong Công
ước của Liên Hợp Quốc về bảo vệ quyền của người lao động di trú và thành
viên gia đình họ năm 1990. Theo đó, “người lao động di trú” được hiểu là
người đã, đang và sẽ làm việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó
không phải là công dân. Như vậy, lao động di trú trong ASEAN là công dân một
quốc gia thành viên, sinh sống và làm việc tại quốc gia thành viên khác trong
khu vực.
b. Sự cần thiết bảo vệ người lao động di trú
2
1. Các nước xuất khẩu và tiếp nhận lao động cần tăng cường ba trụ cột
kinh tế và xã hội của cộng đồng ASEAN thông qua việc thúc đẩy nhân phẩm và
tiềm năng đầy đủ của lao động di trú trong bối cảnh tự do, bình đẳng và ổn định,
phù hợp với pháp luật, quy định, chính sách của các nước thành viên;
2. Các nước xuất khẩu và tiếp nhận lao động cần, vì những lý do nhân đạo,
hợp tác chặt chẽ để giải quyết các vụ việc liên quan đến lao động di trú trở thành
không có giấy tờ xuất phát từ những nguyên nhân không phải do lỗi của họ;
3. Các nước xuất khẩu và tiếp nhận lao động cần tính đến các quyền cơ bản
và nhân phẩm của lao động di trú và các thành viên trong gia đình đi kèm với họ
mà không làm tổn hại đến việc áp dụng pháp luật, chính sách và quy định của
các nước tiếp nhận lao động ;
4. Không quy định nào trong Tuyên bố này có thể được giải thích như là
việc luật hóa tình trạng lao động di trú không có giấy tờ.
Nội dung của tuyên bố cũng xác định những Cam kết chung của các nước
ASEAN trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền của lao động di trú, đồng thời
đề ra các biện pháp cụ thể để bảo vệ người lao động di trú thông qua nghĩa vụ
của các nước gửi lao động và các nước nhận lao động. Theo đó, các quốc gia
thành viên ASEAN thừa nhận rằng sự đóng góp của người lao động di trú với
các xã hội và nền kinh tế của cả các nước tiếp nhận và gửi lao động ở ASEAN;
Chủ quyền quốc gia trong việc quyết định chính sách di trú riêng của nước mình
liên quan đến người lao động di trú, bao gồm việc quyết định cho nhập vào lãnh
thổ nước mình và những điều kiện mà theo đó người lao động di trú phải tuân
thủ; Cùng nhau nhất trí hợp tác giải quyết vấn đề người lao động di trú không
hợp pháp mà không phải do lỗi của họ .
b. Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc
thiết lập một trật tự pháp lý điều chỉnh về vấn đề lao động di trú mà còn thực
tiễn triển khai những dự án phát triển nguồn nhân lực, tái hòa nhập, nâng cao
trình độ lao động di trú, tạo điều kiện cho họ phát triển, mà bên cạnh đó còn đề
ra những biện pháp khắc phục khi những người lao động di trú bị xâm hại như bị
buôn lậu, cho xuất nhập cư trái phép, bị mắc kẹt trong những cuộc xung đột,…
ASEAN cũng có cái nhìn mang tính chiều sâu và khả quan khi đưa ra giải pháp
khuyến khích các tổ chức quốc tế, các đối tác của ASEAN tôn trọng các nguyên
tắc trong Tuyên bố Cebu và hỗ trợ, tạo điều kiện cho ASEAN thực hiện các biện
pháp nhằm bảo vệ quyền lao động di trú trong tuyên bố này.
3. Thực tiễn triển khai nội dung Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy
quyền của lao động di trú
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, mặc dù đã hơn một thập kỷ trôi qua kể từ
khi Tuyên bố trên được đưa ra, tình trạng của người lao động di trú ở khu vực
vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể. Cụ thể vẫn còn tồn tại tình trạng ngược đãi và
đối xử bất công, bóc lột sức lao động diễn ra ngày càng nghiêm trọng, để lại
những hậu quả nặng nề, quyền và lợi ích, địa của người lao động di trú ở nhiều
nước vẫn chưa được đảm bảo… Các nước trong khối ASEAN vẫn đang phải đối
mặt với nhiều khó khăn trong việc triển khai nội dung tuyên bố do chưa xác lập
được những quy định ràng buộc và cơ chế rõ ràng về việc thúc đẩy các điều kiện
làm việc thích hợp và những tiêu chuẩn lao động cơ bản ở tầm khu vực. Mặc dù
các nước đã thông qua Tuyên bố Cebu năm 2007 trong đó thừa nhận trách
nhiệm của các nước nhận và nước gốc cũng như của Hiệp hội ASEAN trong
việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền của lao động di trú, nhưng Tuyên bố này
không phải là một văn kiện có tính ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý. Điều này
khiến hiệu lực tác động của Tuyên bố rất hạn chế. Bên cạnh việc thiếu các cơ
chế khu vực hiệu quả thì nhiều nước ASEAN, kể cả các nước xuất khẩu lao
4
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012;
2. Hội Luật gia Việt Nam (2008), Kỷ yếu Hội thảo tư vấn về bảo vệ và thúc
đẩy các quyền của người lao động ở nước ngoài do Hội Luật gia Việt
Nam tổ chức từ ngày 3-4/3/2008 tại Hà Nội
3. Trung tâm Nghiên cứu quyền con người- Quyền công dân thuộc Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập hợp các văn kiện quốc tế, khu vực
5
và quốc gia về bảo vệ người lao động di trú (sách tham khảo), NXB Lao
động- Xã hội, 2009.
4. Các văn kiện có liên quan của Liên Hợp Quốc trong
http://www.ohchr.org/EN/ProfessionalInterest/Pages/InternationalL
aw.aspx.
5. Việt Nam - Xuất khẩu lao động: Cơ hội và những hệ lụy;Tác giả: Trần
Bình;
6