`
MỞ ĐẦU
Ở đầu thế kỷ 21 cũng như từ thế kỷ 20 trở về trước, chúng ta không thể
không nói đến những cuộc hôn nhân bị ép buộc, những cuộc hôn nhân đã được
sắp xếp sẵn “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, rồi thì những cuộc hôn nhân bị lệ
thuộc bởi phong tục tập quán cũng như tôn giáo cổ hủ, lạc hậu ở nhiều vùng
miền trên cả nước ta, ví dụ như tục Cướp vợ của người H’Mông, rồi còn rất
nhiều nguyên nhân tác động khác khiến cuộc hôn nhân chỉ suất phát từ một phía
hoặc chẳng suất phát từ bên nào trong một cặp nam nữ khi kết hôn. Khi xã hội
ngày càng phát triển và con người ngày càng tiến bộ, chính vì vậy hôn nhân tự
nguyện và tiến bộ cũng dần dần được cũng dần dần được chú trọng hơn. Từ đó,
quyền kết hôn, lập gia đình một cách tự nguyện và tiến bộ đã được nhà nước
thừa nhận là một nguyên tắc quan trọng trong những ngày đầu lập nước, nó đã
được ghi nhận, cụ thể hóa và phát triển trong luật hôn nhân và gia đình trong
nhiều thời kỳ là nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Nguyên tắc này được
thể hiện rất nhiều trong chế định kết hôn cũng như ly hôn trong Luật hôn nhân và
gia đình và cả trong Hiếp pháp. Chính vì vậy, với mong muốn được hiểu rõ hơn
về vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ qua
chế định kết hôn và ly hôn” để thực hiện bài tập lớn của mình.
NỘI DUNG
I. Những nội dung cơ bản về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
1. Một số lý luận chung:
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. ( Khoản 1, Điều 3
Luật HN&GĐ)
Hôn nhân tự nguyện là sự tự quyết về mặt ý chí của vợ và chồng trước,
trong và sau khi kết hôn, cụ thể là việc một trong hai người vợ hoặc người chồng
1
`
thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất
một bên định cư ở nước ngoài.
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi đăng ký thường trú, nhưng
có nơi đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn.
3. Hôn nhân tự nguyện , tiến bộ qua chế định ly hôn
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân , là mặt không thể thiếu khi quan
hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Trong trường hợp đó , ly hôn là một việc cần thiết
cho cả vợ chồng và cho xã hội ; vì nó giải phóng cho tất cả mọi người thoát khỏi
xung đột , mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống chung. Theo luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam , quyền tự do yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng
trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của vợ , chồng; chỉ có
vợ hoặc chồng hoặc cả hai mới có quyền yêu cầu ly hôn. Pháp luật của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng , không
thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn
dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ
chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể
cưỡng ép nam nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt
buộc vợ chồng phải chung sống với nhau , phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình
cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân dã không thể
đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự
tan vỡ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân , đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng
không có nghĩa là giải quyết ly hôn tùy tiện, theo ý chí nguyện vọng của vợ
chồng muốn sao được vậy , mà bằng pháp luật, Nhà nước kiểm soát việc giải
quyết ly hôn. Nếu như khi kết hôn, sự tự nguyện của hai bên nam nữ là cơ sở
quyết định bản chất của sự việc , tức là xác lập quan hệ vợ chồng thì khi ly hôn,
3
4
`
Luật hôn nhân năm 1987 quy định tại Điều 4 như sau:
“Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách
của cải trong việc cưới hỏi; cấm cưỡng ép ly hôn.
Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với
người khác.
Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.”
Đến Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nguyên tắc này được quy định cụ
thể và rõ ràng hơn rất nhiều, cụ thể:
Khoản 1, Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Khoản 2, Điều 4 quy định: Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly
hôn, ly hôn giả tạo; cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi.
Khoản 2, Điều 9: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên
nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;”
Khoàn 1, Điều 85: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết việc ly hôn.”
Và mới đây nhất là Luật hôn nhân gia đình năm 2014:
Khoản 1, Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Khoản 2, Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:
Các điểm :
“a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;”
5
6
`
nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia
đình.Một số trường hợp khác cũng được coi là kết hôn trái pháp luật do bị lừa
dối như che giấu tiền án tiền sự, kết hôn để tránh sự truy nã của cảnh sát, kết hôn
nhằm làm gián điệp… Các trường hợp khai man tuổi để tảo hôn, che giấu việc đã
kết hôn từ trước nhưng chưa ly hôn để tiếp tục kết hôn với người khác… thì xét
vào kết hôn trái luật trên cả cơ sở lừa dối.Tuy nhiên, việc xác định thế nào là kết
hôn trái pháp luật do bị lừa dối thì không hề dễ do thực tế xã hội nảy sinh nhiều
vấn đề rất phức tạp,do vậy đòi hỏi phải có sự triệt để trong quy định của pháp
luật về vấn đề này.
b) Kết hôn có yếu tố cưỡng ép
Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện
vọng của họ.Cưỡng ép có thể do một trong hai bên ép buộc bên kia phải kết hôn
với mình hoặc một trong hai bên nam, nữ hay cả hai bị người khác ép phải kết
hôn với nhau. Hành vi cưỡng ép kết hôn có thể được xác định như sau:
Một bên dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp về mặt tinh
thần, dùng vật chất, sử dụng thủ đoạn… để ép buộc bên kia đồng ý kết hôn.Hành
vi dùng vũ lực có thể hiểu là hành hạ, đối xử tàn tệ, gây đau đớn về thể xác cho
một người hoặc thân nhân của họ khiến họ phải chấp nhận kết hôn; việc bắt cóc
một người rồi ép họ kết hôn với mình cũng được tính vào trường hợp này. Một
người đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp về tinh thần là có hành vi ép buộc đối
phương phải kết hôn với mình nếu không sẽ gây tổn hại lớn về tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự… cho người đó, cho thân nhân của họ hoặc thậm chí
có trường hợp dọa sẽ tự tử để ép kết hôn. Dùng vật chất để cưỡng ép ví dụ như
cho vay với lãi suất cao rồi tìm mọi cách để bắt họ kết hôn để trừ nợ; lừa đảo
chiếm đoạt tài sản rồi dùng nó để làm điều kiện trao đổi hôn nhân… Sử dụng thủ
đoạn như dùng mọi cách để khiến đối phương khiến mình mang thai rồi lấy đó
nghĩ ra những mâu thuẫn và lý do ly hôn nhìn bề ngoài có vẻ chính đáng nhưng
thực tế họ lại không mong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng và giữa họ không
8
`
hề có mâu thuẫn. Mục đích chính của họ trong việc ly hôn giả tạo như nhằm
chuyển hộ khẩu , phụ cấp người ăn theo, lấy vợ lẽ hoặc tẩu tán tài sản , trốn tránh
nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người khác ... Việc lừa dối , giả tạo này
có thể xuất phát từ vợ hoặc chồng hoặc cả hai . Trên thực tế , việc xác định kết
hôn giả tạo, lừa dối gặp phải không ít khó khăn. Việc xác định mâu thuẫn giữa
hai bên có thực sự tồn tại hay không ; việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai bên
có thực sự chấm dứt hay chưa không hề đơn giả. Công việc này đòi hỏi sự nhiệt
tình với công việc , tinh thần trách nhiệm cao, liên hệ mật thiết với cơ sở, quần
chúng của cán bộ xét xử . Qua đó mới đánh giá chính xác được ý chí , nguyện
vọng tự nguyện thật sự của vợ chồng, đồng thời cán bộ xét xử cũng phải nắm rõ
và hiểu biết những trường hợp ly hôn lừa dối , giả tạo.
b) Ly hôn có yếu tố cưỡng ép
Cưỡng ép ly hôn là hành vi trái pháp luật , buộc đối phương phải chấm dứt
quan hệ hôn nhân giữa hai người trái với ý nguyện của họ . Nếu như kết hôn có
cưỡng ép từ một trong hai người hoặc cả hai bị cưỡng ép thì ly hôn cũng vậy.
Ly hôn do một trong hai người vợ hoặc chồng cưỡng ép có thể hiểu là đối
phương gây áp lực bằng tinh thần hoặc vũ lực , khiến cho bên kia bị đe dọa tới
tính mạng , danh dự , nhân phẩm ... mà phải ký vào đơn ly hôn. Trong thời gian
hôn nhân, có thể vì lí do nào đó như một bên hết tình cảm với bên còn lại , mâu
thuẫn xảy ra giữa hai bên . Một bên không nhận thức được mâu thuẫn giữa cả hai
đã trầm trọng nên không đồng ý , bên còn lại rất muốn hủy bỏ cuộc hôn nhân
này đến nỗi dùng mọi cách để ép buộc bên kia đồng ý ly hôn . Cũng có thể trong
thời gian hôn nhân , một bên vì lí do nào đó như ngoại tình , vì tài sản mà ép
buộc bên kia ly hôn hòng đạt được mục đích cá nhân mà trái với nguyện vọng