skkn một số biện pháp giúp học sinh giải bài tập nhận biết các chất bằng phương pháp hoá học, lớp 9 - Pdf 37

A.PHẦN I
LỜI NÓI ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
1. Cơ sở lí luận:
Ngành giáo dục đã đổi mới toàn diện sự nghiệp giáo dục nhằm tạo nên
bước nhảy mang tính đột biến về chất lượng dạy và học ở tất cả các cấp học. Giờ
đây học sinh đóng vai trò là trung tâm trong quá trình học tập, chủ động trong
việc tiếp thu kiến thức. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức vững
vàng, nhất là kiến thức bộ môn. Đồng thời phải có sự đầu tư tìm tòi những vấn đề
hay, mới lạ giúp cho các em tiếp thu bài tốt hơn, phát huy được năng lực của các
em.
Mục tiêu chung của chương trình hóa học trung học cơ sở là cung cấp cho
học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa
học. Hình thành ở các em một số kĩ năng cơ bản, phổ thông và thói quen học tập
làm việc khoa học làm nền tảng cho sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát
triển năng lực nhận thức, năng lực hành động chuẩn bị cho học sinh học lên và đi
vào cuộc sống lao động. Học sinh bằng họat động tự lực, tích cực của mình mà
chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp phần hình
thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo.
Tăng cường tính tích cực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá
trình học tập là một yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người học tích cực, tự lực tham
gia sáng tạo trong quá trình nhận thức. Bộ môn hoá học ở phổ thông có mục đích
trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, bao gồm các kiến thức về cấu
tạo chất, phân loại chất và tính chất của chúng. Việc giúp học sinh nắm vững các
kiến thức cơ bản góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc phổ thông, chuẩn bị
cho học sinh học lên lớp trên, ứng dụng trong thực tế đời sống hay tham gia các
hoạt động sản xuất sau này cũng là một nhiệm vụ của bộ môn hóa học.
Do là môn học mang tính thực nghiệm cao nên thí nghiệm hóa học có vai
trò to lớn trong hoạt động học tập hóa học của học sinh. Thứ nhất hình thành
khái niệm, tính chất hóa học mới. Thứ hai là ôn tập, củng cố, kiểm tra kiến thức
thông qua thí nghiệm hóa học. Thứ ba là rèn luyện kĩ năng thực hành hóa học.

Đối với trường Trung học cơ sở Vĩnh Châu B thuộc xã vùng sâu, vùng xa
các lớp THCS nhất là học sinh lớp 8 còn nhiều bỡ ngỡ khi tiếp xúc với bộ môn
hóa học. Do điều kiện học tập còn thiếu thốn, việc quan tâm giúp đỡ của gia đình
còn hạn chế nên việc học tập nói chung cũng như ở bộ môn hóa nói riêng của các
em chưa thể sánh bằng học sinh ở vùng thuận lợi về sự nhạy bén hay tư duy sáng
tạo. Đối với việc giải các bài tập nhận biết các chất hóa học, các em còn nhiều
lúng túng như cần sử dụng tính chất nào, các phương trình hóa học nào, vận dụng
các công thức tính toán nào và nhất là khi nào cần sử dụng các tính chất hóa học
đặc trưng để đáp ứng các yêu cầu của đề bài. Nói chung việc vận dụng kiến thức
để giải bài tập của các em chưa được thành thạo trong đó có các bài tập dạng
nhận biết các chất. Do đó cần có sự hướng dẫn giúp đỡ của giáo viên.
Giải bài tập nhận biết các chất hóa học tốt sẽ giúp các em củng cố được
kiến thức đã học, nắm vững các tính chất của các chất đã học vào thực tiễn phân
biệt chất, nhận biết các chất. Đây cũng là các phần yêu cầu về mức độ: thông hiểu
hay vận dụng phải có trong các đề kiểm tra mà người giáo viên biên soạn.
Một khi đã nắm vững kiến thức để giải tốt các bài tập hóa học, nhất là giải
tốt các bài tập nhận biết các chất các em sẽ có nhiều hứng thú đối với thế giới vật

2


chất nói chung và các chất hóa học nói riêng, từ đó các em thêm yêu thích bộ
môn hóa học.
Đối với đơn vị trường THCS Vĩnh Châu B thì bộ môn hóa học còn gặp
nhiều khó khăn, chưa có nguồn tài liệu nghiên cứu nào áp dụng trong đơn vị. Bản
thân rất muốn nâng cao chất lượng giáo dục của trường nói chung, của bộ môn
nói riêng nên đã thúc đẩy tôi nghiên cứu đề tài này làm nguồn tài liệu giảng dạy
lâu dài.

II. Mục đích đề tài:

tập dạng này.
3


Từ thực tiễn giảng dạy và trên cơ sở nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004-2007) môn hóa học ở phần sử dụng
thí nghiệm trong dạy học hóa học và từ trình tự thực hiện thí nghiệm ta có thể
thay đổi trình tự đó thành một kế hoạch nhận biết một chất hay một dung dịch.
Đề tài này tôi đã nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả từ năm học 2011-2012
đến nay. Nhưng trong quá trình áp dụng, tôi nhận thấy cần có một số vấn đề để
hoàn thiện đề tài này như trình tự giải bài tập cần thêm bước phân loại chất cần
nhận biết để các em dễ dàng áp dụng chất thử để nhận biết. Khi triển khai đề tài
này cần có nhiều hơn các hình thức tổ chức giải bài tập như cá nhân, nhóm nhỏ
theo các dạng bài tập từ dễ đến khó. Đánh giá khả năng tiến bộ của các em cần có
thêm nhận xét về thái độ học tập, sự phát triển kỹ năng trong giao tiếp của các em
trước tập thể nhóm, trước lớp,… Việc đưa ra các tiêu chí để so sánh mức độ tiến
bộ của học sinh cũng được sắp xếp lại một cách lôgic hơn nhằm giúp đánh giá
khả năng áp dụng của đề tài một cách khoa học hơn.

IV. Phạm vi đề tài:
Tôi giảng dạy chương trình hóa học lớp 8, 9 THCS thấy có các bài tập dạng
nhận biết chất nên nghiên cứu giúp các em tìm cách giải một cách chắc chắn và
có hệ thống.
Đề tài giúp tôi nghiên cứu biện pháp giúp học sinh giải bài tập nhận biết
các chất bằng phương pháp hoá học. Tôi cố gắng giúp các em tìm ra phương
pháp giải được bài tập dạng này trong chương trình hoá học lớp 9 trung học cơ
sở.
Qua phần này tôi mong rằng các em sẽ có phương pháp giải tốt các bài tập
dạng nhận biết các chất qua phương pháp suy luận là chính. Một khi đã thành
thạo giúp cho các em có được khái niệm về thuốc thử để nhận biết các chất.

nhưng không tìm đâu ra phương trình phản ứng cần thiết để từ đó có thể giải
được bài toán. Cái khó là trong các chất cần nhận biết các em không tìm ra được
chất nào là chất đầu tiên cần hoặc dễ dàng nhận biết. Nói chung các em chưa có
con đường đi để giải bài tập dạng này một cách hợp lí nhất. Như các em trình bày
bài giải không theo một trình tự mạch lạc, rõ ràng về thứ tự các bước để nhận biết
các chất, cũng như viết các phương trình hóa học minh chứng, cách trình bày các
hiện tượng xảy ra để nhận biết các chất hóa học,…
Việc trình bày thao tác cho thí nghiệm tìm ra các chất đòi hỏi phải chính
xác, nhiều kinh nghiệm, nhưng do điều kiện thí nghiệm thực hành hóa học còn
hạn chế nên đôi khi các em trình bày còn chưa hợp lí như pha loãng giữa axit với
nước thì các em cho axit vào ống nghiệm trước sau đó mới cho nước vào là điều
rất nguy hiểm,…
5


Lần áp dụng đề tài này, tôi nhận thấy có một thực trạng là trong các bài
kiểm tra, đánh giá thì phần bài tập nhận biết có một tỷ lệ đáng kể nhằm phân loại
học sinh. Do đó giải dược bài tập dạng này cũng góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy đối với bộ môn hóa học.
Khả năng để giải bài tập này một cách hoàn chỉnh thì tùy thuộc vào mức
độ của học sinh. Có em biết cách xác định được chất nhưng trình bày hoặc viết
phương trình hóa học không đạt. Có em tìm được một chất còn bước tiếp theo thì
lúng túng không biết sử dụng chất đã tìm được hay chất khác để xác định các
chất còn lại.
Do đó tôi đã tiến hành nhận xét học sinh theo tiêu chí mới như sau:
Tổng số học sinh lớp 9 đầu năm học 2014-2015 là 28 học sinh
Các tiêu chí

Số lượng


loại chất hay các chất hóa học riêng biệt. Các em không xác định được đâu là
phản ứng đặc trưng cho từng chất để từ đó có cơ sở nhận biết chất một cách
nhanh và chính xác.
Học sinh chưa nắm rõ trong quá trình phản ứng hóa học xảy ra sẽ có các
hiện tượng đặc trưng xuất hiện như chất khí, kết tủa, màu sắc, mùi hương,. . . Đây
là một trong những điều kiện để nhận biết các chất.
Việc đề ra kế hoạch chi tiết cho việc nhận biết các chất phải trải qua một
quá trình học tập lâu dài được rèn luyện thường xuyên, đòi hỏi ở các em học sinh
một tư duy tổng hợp, khái quát hóa .
Các em chưa được hướng dẫn trình bày bài giải hoàn chỉnh đối với bài tập
dạng này.

6


II. Nội dung cần giải quyết:
Từ thực trạng và nguyên nhân như trên, để giúp các em giải tốt các bài tập
dạng nhận biết các chất, tôi tiến hành những công việc như đề tài trước nhưng bổ
sung phần trình bày bài giải vào mục 2.6 và hình thức hỗ trợ các em học yếu vào
mục 2.7:
2.1 Xác định nguyên tắc giải bài tập nhận biết các chất.
2.2 Nêu yêu cầu chung để giải bài tập nhận biết các chất.
2.3 Xác định cơ sở để nhận biết (phản ứng hoá học đặc trưng, hiện tượng
dễ nhận biết)
2.4 Nêu phương pháp chung để giải bài tập nhận biết các chất.
2.5 Phân loại các dạng bài tập và hướng dẫn cách giải.
2.6 Các hình thức thực hiện yêu cầu của bài tập nhận biết các chất và cách
trình bày bài giải.
2.7 Biện pháp nâng dần tỉ lệ học sinh giải tốt bài tập nhận biết các chất.
Việc xác định nội dung công việc cần giải quyết trên là dựa trên quá trình

Giải thích tại sao có thể dùng bình nhôm để chứa axit sunfuric đặc, nguội
và axit nitric đặc, nguội nhưng không được dùng bình nhôm để đựng vôi, nước
vôi tôi hoặc vữa xây dựng ?
- Đáp án:
+ Nhôm không tác dụng được với axit sunfuric đặc nguội và axit nitric đặc
nguội nên có thể dùng bình nhôm để đựng hai loại axit đặc, nguội này .
+ Không dùng bình nhôm để đựng vôi , nước vôi tôi hoặc vữa xây dựng vì
trong đó có chất kiềm , nhôm sẽ tan trong dung dịch kiềm .
Ví dụ 3:
Có 2 lọ bị mất nhãn , mỗi lọ đựng một trong các kim loại sau : Ba, Na .
Bằng phương pháp hóa học hãy phân biệt các kim loại trên .
Lấy một ít 2 kim loại trên cho vào 2 ống riêng biệt. Nhỏ vài giọt dung dịch
H2SO4 lần lượt cho vào từng ống nghiệm riêng biệt, nếu sủi bọt khí và kim loại đó
tan, sủi bọt khí và xuất hiện kết tủa trắng thì ống đó chứa kim loại Ba, nếu sủi bọt
khí và kim loại đó tan thì ống đó chứa kim loại Na.
Na +H2SO4 → Na2SO4 + H2
Ba + H2SO4 → BaSO4 + H2
2. Yêu cầu chung để giải bài tập nhận biết các chất:
Bài tập nhận biết các chất được cho ở 2 dạng là trắc nghiệm khách quan
và tự luận.
Đối với các bài tập dạng trắc nghiệm khách quan thì yêu cầu là học sinh
phân tích kỹ đề bài và dữ liệu đã cho để chọn được phương án chính xác nhất.
Đối với các bài tập dạng tự luận thì có những yêu cầu như sau:
Xác định yêu cầu chung nhằm giúp các em cần thực hiện một số phản ứng
hóa học cần thiết để nhận biết được chất và kết quả cuối cùng là xác định được
tên chất theo yêu cầu của đề bài.
Các yêu cầu chung để giải bài tập nhận biết các chất là: Trừ trường hợp
đặc biệt, thông thường muốn nhận biết n hoá chất cần phải tiến hành (n – 1) thí
nghiệm. Các phản ứng hoá học được chọn để nhận biết là phản ứng đặc trưng
đơn giản và có dấu hiệu rõ rệt.

Về lý thuyết có thể hệ thống lại các kiến thức để nhận biết các chất bằng
phương pháp hóa học.
Nhận biết bằng các chất chỉ thị màu: như ta đã biết axit làm cho quỳ tím
đổi thành màu đỏ còn bazơ sẽ làm cho quỳ tím đổi thành màu xanh hoặc làm cho
dung dịch phenolphtalein không màu thành màu đỏ. Vậy khi bài tập yêu cầu xác
định chất axit hoặc bazơ thì ta có thể sử dụng chất chỉ thị màu để xác định được
các chất này sau đó dùng các biện pháp khác để xác định các chất khác.
Các chất cùng một nhóm như kim loại, oxit, axit, muối…. sẽ có các tính
chất hóa học chung. Nhưng đồng thời sẽ có những phản ứng đặc trưng riêng mà
chỉ có chất đó có mà thôi. Đây là cơ sở quan trọng để giải quyết tốt các bài tập
nhận biết các chất.
Ví dụ axit sunfuric có tính chất hóa học của axit là tác dụng được với
bazơ, muối, oxit bazơ, kim loại, làm đổi màu quỳ tím thành đỏ nhưng ở nồng độ
đậm đặc lại tác dụng với đồng không giải phóng khí hiđro hay tính háo nước của
nó. Ngoài ra ta còn có những nhận xét khác để tạo cơ sở cho việc nhận biết các
chất. Ví dụ như:
Ta đã biết điều kiện xảy ra phản ứng trao đổi trong dung dịch nếu sản
phẩm tạo thành có chất không tan hoặc có chất khí.

9


- Ý nghĩa của dãy hoạt động hóa học của kim loại cũng giúp cho ta nhận
biết được các chất như:
+ Kim loại đứng trước Mg phản ứng với nước ở điều kiện thường tạo
thành kiềm và giải phóng khí H2
+ Kim loại đứng trước H phản ứng với một số dung dịch axit (HCI, H 2SO4
loãng,….) giải phóng khí H2 .
+ Kim loại đứng trước ( trừ Na, K…) đẩy kim loại đứng sau ra khỏi dung
dịch muối.

NaOH
Mg(OH)2 : màu trắng.
Cu:
: rắn, đỏ

Cr(OH)2 : vàng
Cr(OH) 3 : xanh
K2Cr2O7 : đỏ da cam
KMnO4 : tím
CrO3 : rắn, đỏ thẫm
Zn
: trắng xanh
Zn(OH)2 : ↓ trắng
Hg
: lỏng, trắng bạc
HgO : màu vàng hoặc đỏ
Mn
: trắng bạc
MnO : xám lục nhạt
MnS : hồng nhạt
MnO2 : đen
H2S
: khí không màu
SO2
: khí không màu
SO3
: lỏng, không màu, sôi 450
Br2
I2
Cl2

Nước
(K , Ca , Na , Ba)
Hầu hết oxit của kim loại
Tan , tạo dung dịch làm hồng
mạnh (K2O , Na2O , CaO ,
phenol phtalein
BaO )
P2O5
Tan , tạo dung dịch làm đỏ quì tím
Quì tím
Axit (H2SO4 , HCl ….)
Quì tím hóa đỏ
Kiềm (KOH , NaOH …)
Quì tím hóa xanh
Phenol phtalein Kiềm (KOH , NaOH …)
Làm dung dịch có màu hồng
(không màu)
Dung dịch bazơ
Kim loại : Al , Zn
Tan , có khí H2 thoát ra
tan ( kiềm)
Al2O3 , ZnO , Al(OH)3 ,
Tan
Zn(OH)2
Dung dịch axit
Muối cacbonat , sunfit ,
Tan , có khí thoát ra ( CO2 , SO2 ,
- HCl , H2SO4
sunfua
H2S)

Tạo kết tủa AgCl màu trắng
nóng
Dung dịch HCl đun
MnO2
Tạo khí Clo màu vàng lục
11


nóng
H2O
P2O5
Tan , dung dịch làm đỏ giấy quì
Dung dịch HF
SiO2
Tan , tạo ra SiF4
Bảng 3 : Nhận biết một số đơn chất ở thể rắn :
Thuốc thử
Nhận biết chất
Hiện tượng
H2O
K ,Na , Ca ,
Tan , có khí H2 thoát ra
Ba
Dd kiềm (NaOH , Ba(OH)2
Al , Zn
Tan , có khí H2 thoát ra
HNO3 đậm đặc
Cu (đỏ)
Tan , tạo dd màu xanh ,có khí
màu nâu (NO2) thoát ra

Quì tím ẩm
HCl đậm
đặc
Không khí
Quì tím ẩm

Bảng 4 : Nhận biết các chất khí
Chất cần
Hiện tượng
PTHH minh họa
nhận biết
Không màu
Cl2 + 2KI 2KCl + I2
Cl2

Hồ tinh bột  xanh
Hóa xanh
Mất màu
SO2 + Br2 + H2O  2HBr + H2SO4
nâu đỏ
SO2 + KMnO4 + 2H2O 2H2SO4 +
SO2
(hay màu
2MnSO4
tím)
+K2SO4
Kết tủa
AgNO3 + HCl  AgCl + HNO3
HCl
trắng

Trong hóa
CO2 + Ca(OH)2  CaCO3 + H2O
CO2
đục
Cu (đỏ)
Hóa
2Cu + O2  CuO
O2
đen(CuO)
o
t
CuO(đen), t
Hóa đỏ
CuO + H2 →
Cu + H2O
H2
(Cu)
CuSO4 khan
Trắng hóa
CuSO4 + 5 H2O  CuSO4.5H2O
Hơi nước
xanh
Bảng 5 : Nhận biết một số dung dịch axit và muối :
o

o

Thuốc thử
Dung dịch AgNO3
Dung dịch BaCl2


Khí màu nâu bay ra : NO2
dung dịch có màu xanh lam
Kết tủa trắng : CaSO4 , CaCO3

Muối Bari

Kết tủa trắng : BaSO4 , BaCO3

Muối Magie

Kết tủa trắng Mg(OH)2 không
tan trong kiềm dư
Muối đồng
Kết tủa xanh lam : Cu(OH)2
Dung dịch kiềm
Muối Sắt (II)
Kết tủa trắng xanh : Fe(OH)2
NaOH , KOH
Muối Sắt (III)
Kết tủa nâu đỏ : Fe(OH)3
Muối Nhôm
Kết tủa keo trắng Al(OH)3 tan
trong kiềm dư
Muối Natri
Ngọn lửa màu vàng
Lửa đèn khí
Muối Kali
Ngọn lửa màu tím
Trên cơ sở này, các em dễ dàng hơn trong giải bài tập nhận biết các chất.

học theo trình tự như sau:
1. Phân tích đề bài để phân loại chất.
2. Lập kế hoạch nhận biết
3. Trích các chất ra các ống nghiệm và đánh số
4. Xác định thuốc thử cần sử dụng
5. Trình bày các thao tác thí nghiệm ( trình bày cách nhận biết )
6. Viết phương trình phản ứng để khẳng định
7. Đề xuất cách nhận biết khác ( Đối với học sinh khá giỏi)
Trong quá trình thực hiện thì tùy theo tình hình thực tế mà áp dụng linh
hoạt các bước trên.
Khi áp dụng giải pháp này, các em trình bày cách giải tốt hơn, có tính
lôgic, khoa học hơn. Trong một đề bài tập hoá học, số điểm các em đạt được
dành riêng cho phần nhận biết cao hơn hẳn so với các bài tập dạng khác.
5 . Phân loại thành các dạng bài tập và hướng dẫn cách giải, cách
trình bày bài giải:
14


Mục đích của việc phân loại bài tập nhằm giúp các em dễ dàng vận dụng
các kiến thức đã học vào việc giải bài tập theo từng loại bài. Đối với các bài tập
khác nhau sẽ có các định hướng kiến thức vận dụng và yêu cầu giải quyết khác
nhau, giúp các em đỡ tốn thời gian và công sức hơn khi tập trung giải bài tập.
5.1 Dạng bài tập trắc nghiệm khách quan :
Hình thức được sử dụng phổ biến nhất là chọn phương án đúng, sai từ các
phương án đã cho của đề bài. Dạng này lại có 2 kiểu :
- Kiểu 1: Khoanh tròn vào chữ cái đầu câu của câu trả lời đúng nhất.
Ví dụ 1: Có 3 lọ đựng 3 dung dịch HCl , H 2SO4 và Na2SO4 , có thể nhận
biết dung dịch trong mỗi lọ bằng cách nào sau đây :
a. Dùng quì tím .
b. Dùng dung dịch AgNO3 .


biệt dạng chất rắn, lỏng hay khí để nhận định dạng hiện tượng biến đổi khi phản
ứng hóa học xảy ra như kết tủa, bay hơi,…
Bài tập nhận biết các chất ra theo kiểu tự luận thường được tập trung vào 2
dạng chính sau đây :
*Dạng 1: Dạng nhận biết các hóa chất riêng biệt (rắn, lỏng, khí).
Tùy theo yêu cầu của bài tập mà có các trường hợp sau:
a. Trường hợp bài tập không hạn chế thuốc thử hoặc phương pháp sử
dụng:
Học sinh được quyền sử dụng bất kì phương pháp nào và bao nhiêu loại
thuốc thử cũng được, miễn sao giải quyết được vấn đề mà đề bài yêu cầu .
Ví dụ 1: Có ba lọ không nhãn, mỗi lọ đựng một dung dịch sau : KOH,
Ba(OH)2, KCl. Hãy trình bày cách nhận biết chất đựng trong mỗi lọ bằng phương
pháp hóa học. Viết phương trình hóa học (nếu có)?
Đáp án
Lấy mỗi chất một ít ra làm mẫu thử.
- Nhúng quỳ tím lần lượt vào 3 mẫu thử.
+ Quỳ tím hóa xanh : KOH, Ba(OH)2.
+ Quỳ tím không đổi màu là KCl.
- Nhỏ một ít dung dịch H2SO4 vào hai mẫu KOH, Ba(OH)2.
+ Có kết tủa trắng mẫu thử là Ba(OH)2. .
+ Không có kết tủa KOH.
H2SO4 + Ba(OH)2 
→ BaSO4 ↓ + 2 H2O
Ví dụ 2:
Bằng phương pháp hóa học hãy nhận biết các dung dịch sau: HCl, NaOH,
H2SO4, NaCl. Viết phương trình hóa học(nếu có).
Đáp án
Lấy mỗi chất một ít ra làm mẫu thử.
• Cho quỳ tím vào nhận được dung dịch NaOH quỳ tím chuyển sang màu

c.Trường hợp bài tập không được dùng thêm thuốc thử bên ngoài.
Ví dụ 1: Không dùng thêm thuốc thử nào khác hãy nhận biết các lọ mất
nhãn đựng các dung dịch sau : HCl , NaCl , Na2CO3 và MgCl2 .
Ví dụ 2: Không dùng thêm thuốc thử nào khác hãy nhận biết các lọ mất
nhãn đựng các dung dịch sau: HCl , NaCl , NaOH và phenolphtalein. (bài tập
dành cho HS khá giỏi lớp 9) .
Ví dụ 3: Chỉ dùng thêm dung dịch HCl, hãy nêu cách nhận ra từng chất rắn
đựng trong các lọ mất nhãn sau: Na 2CO3, NaCl, BaSO4 và CaCO3. (bài tập dành
cho HS khá giỏi lớp 9).
* Dạng 2: Dạng bài nhận biết sự có mặt của các chất có trong hỗn hợp hay
trong cùng một dung dịch. Đây là dạng bài tập định tính nhận biết các chất ở mức
độ khó hơn dành cho học sinh khá giỏi.
Ví dụ 1: Có một hỗn hợp gồm 3 khí Cl2, CO, CO2. Bằng phương pháp hóa
học hãy chứng minh sự có mặt của 3 chất khí trên trong hỗn hợp .
Ví dụ 2: Có một hỗn hợp gồm 3 axit HCl, HNO 3 , H2SO4. Hãy chứng minh
sự có mặt của 3 axit trên có trong hỗn hợp.
Để giải các bài tập dạng này cần vận dụng các bước của phương pháp
chung để giải.
Bước 1: Trích các chất cần nhận biết ra từng ống nghiệm rồi đánh số thứ tự
Bước 2: Chọn thuốc thử thích hợp (tuỳ theo yêu cầu đề bài: thuốc thử tuỳ
chọn, hạn chế hay không dùng thuốc thử nào khác). Sử dụng các bảng nhận biết
để chọn thuốc thử cho phù hợp là nhanh nhất.
Bước 3: Dùng các phản ứng đặc trưng có dấu hiệu rõ rệt để nhận biết được
chất ban đầu, rồi lần lượt dùng các phương pháp thí nghiệm khác có thể là các
phương pháp đặc trưng để xác định các chất còn lại. Cụ thể là những phản ứng
17


gây ra các hiện tượng mà ta thấy được như kết tủa đặc trưng, màu đặc trưng, khí
sinh ra có mùi đặc trưng …

Học sinh trình bày bài làm của mình vào vở:
a. Lấy mỗi lọ một ít cho vào 4 ống nghiệm khác nhau .
b. Chọn thuốc thử: quỳ tím và dung dịch BaCl2
b. Lần lượt cho quỳ tím vào từng ống nghiệm . Ống nghiệm nào làm quỳ tím hóa
xanh là dung dịch NaOH, ống nghiệm không làm đổi màu quỳ tím là dung dịch
Na2SO4, 2 ống nghiệm làm quỳ tím hóa đỏ là 2 dung dịch H2SO4 và HCl.
c. Nhỏ vài giọt BaCl2 vào 2 ống nghiệm đựng 2 axit H 2SO4 và HCl. Ống nghiệm
nào có kết tủa trắng là H2SO4. Chất còn lại là HCl.
d. Phương trình phản ứng: H2SO4 + BaCl2  BaSO4  + 2HCl
Ví dụ 3: Bài tập 1 trang 27 SGK hóa học lớp 9 THCS:
18


Có 3 lọ không nhãn, mỗi lọ đựng một chất rắn sau: NaOH, Ba(OH) 2, NaCl.
Hãy trình bày cách nhận biết chất dựng trong mỗi lọ bằng phương pháp hóa học.
Viết các phương trình hóa học (nếu có).
Phân tích đề bài:
Trong 3 chất cần tìm ở trên có 2 chất bazơ và 1 chất muối tức là chỉ có 2
loại chất là bazơ và muối. Từ đó có kế hoạch nhận biết như sau:
Bước
Trích
mẫu thử

Thí
nghiệm

Hiện
tượng
Kết luận


Nhận biết được lọ
Phản ứng có kết tủa
không đổi màu là
là dung dịch
chất NaCl
Ba(OH)2, không
phản ứng là dung
dịch NaOH
Ba(OH)2+
Na2CO3
2NaOH+ BaCO3

Trình bày bài giải như sau:
Lấy lần lược mỗi lọ một ít chất rắn đem hòa tan các chất vào nước thành 3
lọ dung dịch theo thứ tự 1,2,3.
Lấy mỗi lọ một đến hai giọt dung dịch nhỏ trên giấy quỳ tím, ta sẽ nhận
thấy giấy quỳ tím khi nhỏ vào, có 2 lọ làm quỳ tím chuyển thành màu xanh, lọ
còn lại không đổi màu. Lọ đó là dung dịch NaCl.

19


Lần lượt cho 2 lọ còn lại tác dụng với dung dịch Na 2CO3 nhận thấy có 1 lọ
có phản ứng xảy ra tạo thành kết tủa là dung dịch Ba(OH) 2, lọ không có phản ứng
là dung dịch NaOH.
Phương trình phản ứng
Ba(OH)2 + Na2CO3
2NaOH+BaCO3
Với dạng bài tập hạn chế thuốc thử phải tuân theo nguyên tắc: dùng thuốc
thử mà đề bài đã cho để nhận biết ít nhất một trong các chất cần nhận biết. Sau đó

Ví dụ: Bài tập 1b/ trang 9 SGK hoá học 9
Bằng phương pháp hoá học nào có thể nhận biết được từng chất trong dãy
chất sau hai chất khí không màu là CO2 và O2.Viết phương trình hóa học.
- Sục hai chất khí không màu vào hai, ống nghiệm chứa nước vôi trong Ca(OH)2,
- Ống nghiệm nào bị vẫn đục.Thì khí ban đầu là khí CO2
20


- Khí còn lại là O2.
- Phương trình phản ứng:
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
Khi áp dụng giải pháp này, tôi thấy các em giải được bài tập nhanh hơn, số
lượng học sinh giải được bài tập này nhiều hơn hẳn. Các em thực hiện yêu cầu đề
bài nêu ra một cách khoa học, hợp lí, bằng những cách giải phù hợp. Đồng thời
tôi áp dụng từng dạng bài tập cho các đối tượng học sinh khá giỏi hoặc trung
bình, yếu dễ dàng hơn, giúp nâng lên dần tỉ lệ học sinh giải được dạng bài tập
này.
6. Các hình thức thực hiện yêu cầu của bài tập nhận biết các chất :
Tuỳ theo yêu cầu của bài tập mà hướng dẫn học sinh trình bày bài làm của
mình sao cho rõ ràng, mạch lạc, ngắn gọn mà đầy đủ giúp người nghe, người đọc,
hiểu được cách làm của mình.Có thể phân chia thành 2 hình thức chính là lý
thuyết và thực hành. Đôi khi yêu cầu của bài tập gồm trình bày lý thuyết rồi tiến
hành thực hành để nhận biết các chất. Đối với học sinh trung học cơ sở việc trình
bày yêu cầu của bài tập bằng lý thuyết là chủ yếu áp dụng cho các dạng bài tập đã
phân tích ở trên. Trình bày yêu cầu của bài tập bằng thực hành thường chỉ tiến
hành trong các tiết thực hành ở cuối chương.
Khi thực hiện yêu cầu của bài tập thì kết quả là học sinh trình bày được
bày giải của mình. Do đó tôi trình bày thêm phần trình bày bài giải.
Phần này tôi chủ yếu hướng dẫn các em nên có những trình bày lôgic, theo
một trình tự hợp lý, hiệu quả, tính đến yếu tố tiết kiệm hóa chất.

cầu của bài tập trên giấy khi làm bài tập ở lớp, ở nhà, kiểm tra 15 phút, 45 phút
hoặc thi học kì …
Khi trình bày bài làm có thể theo các bước của phương pháp chung giải bài
tập nhận biết các chất hoặc có thể trình bày các thí nghiệm cũng như phản ứng
hoá học một lượt để rút ra kết luận nhận biết chất cần nhận biết.
6.2 Hình thức thứ hai: trình bày yêu cầu của bài tập bằng phương
pháp thực hành:
Đây là dạng bài tập kiểm tra mà người giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ
dụng cụ, hóa chất và đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Ngược lại, với hình thức
kiểm tra này sẽ tạo cho học sinh niềm say mê hứng thú học tập, tạo điều kiện cho
các em có niềm tin vào khoa học.
Lưu ý: Đôi lúc trong thực tế giảng dạy lại xảy ra trường hợp thực hiện của
yêu cầu bài tập lí thuyết là để kiểm chứng lại bằng phương pháp thực hành. Lúc
đó, người giáo viên phải định hướng cho học sinh các trường hợp khi lí thuyết
đưa ra (trình bày nhiều) mà trong quá trình thực hành lại làm rất ngắn gọn.
Ví dụ: Bằng phương pháp hóa học và chỉ dùng thêm thuốc thử là quỳ tím,
hãy nhận biết các dung dịch là Na 2SO4 , K2CO3, BaCl2 và HCl đựng trong các lọ
mất nhãn.
Khi cho quỳ tím vào có thể rơi vào trường hợp ngẫu nhiên đã nhận biết
HCl (làm quỳ tím hóa đỏ), KOH (làm quì tím hóa xanh) mà không cần phải cho
quỳ tím vào tất cả các lọ.
Đối với bài thực hiện yêu cầu nhận biết bằng phương pháp thực hành, giáo
viên cần hướng dẫn các em các thao tác cho phù hợp, chính xác, tránh các hiện
tượng cháy nổ,. . ..
Kết quả là các em trình bày cách giải tập có tính khoa học, hợp lí theo một
trình tự phù hợp với kiểu bài tập yêu cầu. Giải pháp tốt cũng giúp phát huy năng
lực tư duy lôgic của các em.
7. Biện pháp nâng dần tỉ lệ học sinh giải bài tập nhận biết các chất:
Để giúp các em từng bước nắm vững phương pháp giải bài tập nhận biết
các chất, tôi tiến hành phân loại bài tập ở các mức độ dễ, trung bình, khó cho các

Làm thế nào để nhận biết hai lọ không nhãn, mỗi lọ dựng dung dịch không
màu như sau: NaCl, Ba(OH)2
Làm thế nào để nhận biết hai lọ không nhãn, mỗi lọ đựng dung dịch không
màu như sau: NaOH, Na2SO4
Khi đó việc giải bài tập rất đơn giản là các em dựa vào tính chất làm mất
màu chất chỉ thị của axit hay bazơ.
b) Tiến hành giải các bài tập nhận biết nhiều chất:
Số chất nhận biết từ 3,4 chất trở lên và loại chất cũng nhiều hơn. Đến đây
học sinh cần phải vận dụng nhiều kiến thức hơn để giải.
Ví dụ 1: Trình bày phương pháp hóa học nhận biết các dung dịch đựng
trong các lọ riêng biệt mất nhãn H2SO4, Na2SO4, NaNO3.
Phân tích:
- Dùng chất chỉ thị màu nhận biết được một chất axit.

23


- 2 chất còn lại là chất muối, cần tìm một chất muối khác tác dụng với 2
muối này nhưng chỉ có 1 muối là có phản ứng trao đổi.
Na2SO4+ BaCl2 BaSO4+ 2NaCl
Cách giải:
Dùng quỳ tím nhúng lần lượt vào 3 lọ trên lọ nào làm cho quỳ tím hóa đỏ
đó là dung dịch H2SO4
Lần lượt cho 2 muối còn lại với tác dụng với dung dịch muối BaCl 2, thấy
phản ứng có kết tủa thì đó là Na2SO4, chất còn lại là NaNO3.
c) Các hình thức nâng cao:
Sau khi bài tập thực hiện xong tôi cho các em xem lại ở bước phân tích để
bài để đặt thêm câu hỏi: “Ngoài chất thử để tìm ra chất đó có chất nào khác để
thay thế hay không?”. Từ đó các em sẽ thảo luận để tìm ra nhiều cách giải khác
nhau.

Qua đó, số lượng học sinh trung bình, yếu giải được dạng bài tập này ngày
càng cao hơn hẳn. Các em không còn ngại khi gặp bài tập loại này đồng thời số
học sinh khá giỏi đã tìm ra được nhiều cách giải khác cho cùng một bài tập.

IV. Kết quả:
Qua việc giải từng bài tập cụ thể tôi nhận thấy các em ngày càng tiến bộ
hơn, các bước suy luận để tìm ra chất ngày càng lôgic hơn và nhất là việc trình
bày bài giải cúa dạng bài tập này ngày càng lôgic hơn.
Bước đầu tiếp xúc với bài tập nhận biết các chất, tôi nhận thấy các em chưa
hình thành được phương pháp giải bài tập dạng này. Nhưng sau khi áp dụng các
bước trong đề tài, các em đã biết suy luận, phân tích kỹ đề bài, từ đó xác định
thuốc thử nào cần dùng và trình tự thực hiện thí nghiệm hợp lí. Đối với các em
yếu, trung bình có thể giải bài tập nhận biết hoá chất (2,3 chất) chính xác, hợp lí
và nhanh hơn. Đối với các em khá, giỏi có thể giải bài tập với nhiều thuốc thử
khác nhau.
Điều mà tôi thấy rõ nhất sự tiến bộ của các em là sự tự tin diễn đạt về một
vấn đề khoa học. Vì xét kỹ lại thì việc tìm ra tên của một loại hóa chất cũng là
một tình huống khoa học. Nhưng ở đây các em trình bày được cách nhận biết hóa
chất đó trước tập thể lớp chứng tỏ các em đã nắm vững được kiến thức bộ môn
hóa học, có kỹ năng trình bày một vấn đề theo yêu cầu.
Trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm, tôi nhận thấy các em có sự hỗ trợ
nhau rất tốt. Các em nhắc nhở nhau về tính cẩn thận, khéo léo, an toàn, khi tiếp
xúc hóa chất. Đặc biệt kiến thức cần thiết để nhận biết các chất, cách trình bày
bài giải một cách khoa học và nhất là nhắc nhở nhau khi viết các phương trình
phản ứng hóa học. Từ đó các em học yếu, thêm phần tự tin hơn khi trình bày lời
giải trước lớp.
Đối với lớp 9 năm qua là trường Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Châu B
gồm 28 em ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành thực nghiệm và có kết quả tiến bộ
như sau:
Các tiêu chí

%

8

42,9
%
57,1
%
28,6
%
25

22
24
12

Tỉ lệ Cuối
kỳ II

Tỉ lệ

78,6
%
85,7
%
42,9
%

100
%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status