TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP AFTA ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM - Pdf 37

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP AFTA ĐỐI
VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM


3. Thực trạng tác
động của gia nhập
AFTA đối với hàng
dệt may Việt Nam

1. Tổng quan
nghiên cứu đề tài

2. Cơ sở lý
luận ngành
dệt may Việt
Nam

4. Giải pháp phát
triển ngành dệt
may Việt Nam
trong điều kiện
AFTA
 

5. Kết luận


Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Tính cấp thiết
Dệt may là một trong những ngành quan 
công nghiệp đầy hứa hẹn khi VN gia nhập 




Chương 2: Cơ sở lý luận về ngành dệt may Việt Nam


Chương 2: Cơ sở lý luận về ngành dệt may Việt Nam
Nội dung 1

01

Khái niệm

Ngành hàng dệt may là ngành công 
nghiệp liên quan đến việc sản xuất sợi, 
dệt nhuộm, vải, .. hoàn tất hàng may mặc 
và phân phối hàng đến tay người tiêu 
dùng.

02

Hoạt động chính

- Sản xuất, kinh doanh sợi, vải và các sản phẩm 
phụ trợ khác.
- Xuất nhập khẩu và kinh doanh thương mại 
hàng dệt may.

03




Chương 3: Tác động của AFTA đối với hàng dệt may VN

01

Nội dung 01
Nội dung 02

.

03
Nội dung 03

02

Thực trạng ngành dệt may trước khi gia nhập
AFTA
Thực trạng ngành dệt may sau khi gia nhập
AFTA
Cơ hội và những thách thức khi dệt may
tham gia khu vực tự do AFTA


Nội dung 1: Ngành dệt may trước và sau khi Việt Nam gia nhập
AFTA
1. Cơ cấu tổ chức:
  - Hàng loạt nhà máy mới được đầu tư xây dựng như Sợi Hà Nội, Sợi Vinh, Sợi Nha Trang, May 
Việt Tiến, May Nhà Bè, May Hữu Nghị…
  - Để có thể quản lý các xí nghiệp, nhà máy này một cách hiệu quả, Chính phủ đã thành lập Liên 

-+ Trước đây, quy hoạch các nhà máy dệt và nhà máy may được phát triển đồng đều theo kế 
hoạch của Nhà nước, nhưng bây giờ quá trình đầu tư lại tập trung vào phát triển vào ngành 
may.
-+ Ngành dệt mới chỉ đủ khả năng cung cấp 10% sợi cotton và 20% lượng vải cần cho nhu cầu 
sản xuất trong nước. Phần nguyên liệu còn lại phải nhập khẩu. 
-=> Điều này dẫn đến phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung cấp đầu vào của nước ngoài. 

 


Nội dung 2: Ngành dệt may trước và sau khi Việt Nam gia nhập
AFTA
1. Cam kết phải thực hiện của Việt Nam đối với hàng dệt may
  - Việt Nam chỉ thực sự cắt giảm thuế quan từ năm 1999 khi nhóm các mặt hàng đầu tiên từ Danh 
mục loại trừ tạm thời (TEL) được chuyển vào cắt giảm thuế quan theo CEPT. 
  - Nhóm các mặt hàng cắt giảm và xóa bỏ thuế quan chiếm hầu hết các mặt hàng, có lộ trình giảm 
thuế từ năm 1996, giảm thuế suất xuống mức 0-5% vào năm 2006 và xóa bỏ thuế quan vào năm 
2015, với một số mặt hàng được linh hoạt đến 2018. 
  - các mặt hàng thuộc lĩnh vực ưu tiên hội nhập (12 lĩnh vực), sẽ được xóa bỏ sớm hơn là vào năm 
2012 thay vì 2015, trong đó có 9 lĩnh vực hàng hóa bao gồm cả ngành dệt may. 
  => Như vậy, năm 2015, Việt Nam đã xóa bỏ thuế quan đối với hàng dệt may.
  


Nội dung 2: Ngành dệt may trước và sau khi Việt Nam gia nhập AFTA
2. Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
Trong những năm gần đây, các chủng loại hàng dệt may xuất khẩu của nước ta là: thứ nhất áo thun, thứ hai là quần 
dài, thứ ba là áo jacket, thứ tư là áo sơ mi. Ngoài ra, còn có các chủng loại khác như: áo khoác, váy, vải, quần áo trẻ 
em, đồ lót, vest, quần áo thể thao,…
3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu

◦3. Thành tựu và những vấn đề còn tồn tại của ngành dệt may Việt Nam sau khi gia nhập AFTA
  => Về thành tựu :
  - Năm 2015, Việt Nam thành công trong việc dỡ bỏ thuế quan đối với hàng dệt may.
  - Kim ngạch xuất khẩu tăn liên tục từ sau khi gia nhâp AFTA (1996 đến nay), dẫn đầu các mặt hàng xuất khẩu từ năm 2009 đến năm 2012. 
  - Hàng dệt may đã có mặt ở hàng trăm nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó khoảng 50 thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD , 16 thị trường đạt trên 100 triệu USD. Cơ cấu thị 
trường vẫn tiếp tục được mở rộng với các thị trường chủ yếu là Mỹ , EU, Nhật Bản.
  - Mở rộng cơ cấu sản phẩm với nhiều mặt hàng phong phú , đa dạng.

  


Nội dung 3: Cơ hội và thách thức khi dệt may tham gia AFTA
◦3. Thành tựu và những vấn đề còn tồn tại của ngành dệt may Việt Nam sau khi gia nhập AFTA
  => Về các vấn đề còn tồn tại :
◦- Tình trạng thiếu nguồn nguyện liệu sản xuất.
◦- Các doanh nghiệp dệt may vẫn đang hoạt động dưới hình thức may gia công là chủ yếu.
◦- Nhà xưởng , thiết bị, công nghệ của ngành may còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu. 
◦- Một điểm yếu khá lớn của ngành dệt may là không có sự đầu tư tìm hiểu người tiêu dùng , dẫn tới không bắt kịp thị hiếu.
        - Dệt may Việt Nam tới nay vẫn chưa có thương hiệu riêng, đây chinh là một trong những rào cản khó khăn nhất trên thị trường thế giới.
        - Số lượng công nhân có tay nghề hạn chế ,số lượng cán bộ được đào tạo đúng với thực tiễn lại càng khan hiếm hơn.

  


Chương 4: Giải pháp phát triển hàng dệt may Việt Nam

Nội dung 1:

Mục tiêu phát triển
ngành dệt may Việt

đó ngành dệt tăng 13% đến 
14%/năm, ngành may tăng 
12% đến 13%/năm. Tăng 
trưởng xuất khẩu đạt 9% 
đến 10%/năm. Tăng trưởng 
thị trường nội địa đạt 10% 
đến 12%/năm.


Nội dung 2: Giải pháp phát triển toàn diện hàng dệt may VN
Giải pháp 01



Giải pháp thị trường



Giải pháp 02

Đầu tư hiệu quả



Giải pháp 03

Bồi dưỡng, pháp triển nhân lực




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status